Hãy đánh giá những gì tôi đang đọc
Một bài tiểu luận vô cùng sâu sắc về giá trị độc nhất của con người và tầm quan trọng của các giải thưởng văn học trước làn sóng công nghệ.
Nguồn: Radhika Jones, “Please Judge What I’m Reading”, The New York Times, August 9, 2026.
Người dịch: Triệu Chí Phong
Những chú thích trong ngoặc vuông […] là của VSF.
Phải đến khi trưởng thành, tôi mới biết rằng các giải thưởng văn hóa danh giá được trao bởi những con người bằng xương bằng thịt, chứ không phải thần thánh hay nàng tiên nào cả. Vì vậy, khi Quỹ Giải thưởng Booker công bố danh sách sơ bộ cách đây khoảng hai tuần, tôi đã đọc nó đầy thích thú và cực kỳ ấn tượng trước cách năm vị giám khảo xuất hiện trong thông báo này. Họ đây rồi, hầu hết đều nở nụ cười rạng rỡ, đầy mãn nguyện trong bức ảnh đăng tải trên trang web của giải Booker. Tay họ nâng niu hai chồng sách dày, thành quả đầy tự hào sau nhiều tháng trời chọn lọc, biên mục và có lẽ cả những màn tranh luận đầy trí tuệ, những màn thuyết phục và đôi khi là gây sức ép đầy căng thẳng.
Các giám khảo văn học thường phải hứng chịu phần lớn búa rìu dư luận xoay quanh các giải thưởng nghệ thuật, bởi những định kiến cố hữu, những “điểm mù” khó tránh khỏi, và thiên kiến của họ trong quá trình chọn ra người thắng cuộc. Thật sự rất dễ dàng để buông lời chê bai năng lực và các quyết định của họ. Những giám khảo này là những “người gác cổng” tối cao, hiện thân cho điều gì đó cấm kỵ ở thế kỷ 21. Tuy nhiên, trong thời điểm mà những lời khuyên do chatbox đưa ra đang len lỏi vào ngày càng nhiều các lĩnh vực của đời sống, tôi lại thấy vui khi nhìn thấy hình ảnh những con người bằng xương bằng thịt này xuất hiện cùng tác phẩm mà họ tuyển chọn. Chính tính chủ quan [của con người, thay vì thuật toán vô hồn] mới là cốt lõi của vấn đề.
Tôi từng làm giám khảo cho vài giải thưởng qua nhiều năm, và những diễn biến xung quanh bàn chấm giải, từ hàng loạt phản ứng khác nhau đối với văn phong, các chiến thuật thuyết phục, cho đến việc mổ xẻ tác động cảm xúc, đều mang đậm tính nhân bản chẳng kém gì những tác phẩm trước mắt chúng tôi. Chuyện một giám khảo đập bàn rồi đùng đùng bước ra khỏi phòng (hoặc trong những năm tháng COVID đầy tồi tệ đó, là thoát khỏi phòng Zoom) không phải là chuyện hiếm. Nhưng cũng có khi bạn chỉ cần gieo vào đầu người khác một ý tưởng là có thể khiến họ thay đổi quan điểm. Một số hội đồng giám khảo đạt được sự đồng thuận ngay từ đầu, nhưng thường thì họ đều trải qua những bất đồng và tranh luận. Nhiều khi, kết quả đạt được cuối cùng không giống những gì mà chúng tôi nghĩ rằng mình đang hướng tới, đấy mới là điều thú vị của công việc.
Trong một thế giới mà rõ ràng là ngày càng ít người chịu đọc bất cứ thứ gì, những người vẫn còn duy trì thói quen này như chúng ta thường trông cậy vào những giải thưởng văn học để tìm ra những tác phẩm thật sự đáng đọc trong ngắn hạn cũng như để dự đoán xem có những tác phẩm nào sẽ trở nên đáng chú ý hơn trong dài hạn. Các giải thưởng chính là những công cụ đề xuất đầu tiên, có điều, những người đưa ra quyết định phải dựa vào chính gu thẩm mỹ của họ, chứ không phải một thuật toán dự báo nào đó.
Chủ tịch hội đồng giám khảo giải Booker năm nay là nhà cổ điển học [chuyên nghiên cứu ngôn ngữ, văn học, lịch sử Hy Lạp và La Mã cổ đại] Mary Beard, một lựa chọn hoàn hảo để đảm nhận vai trò biểu tượng đầy uy quyền trong một mùa hè mà tất cả những gì mọi người muốn bàn tán chỉ là sử thi “The Odyssey.” Các thành viên còn lại trong hội đồng giám khảo bao gồm nhà thơ Raymond Antrobus, nhạc sĩ Jarvis Cocker, nhà thơ kiêm nhà viết hồi ký Patricia Lockwood cùng với biên tập viên kiêm nhà phê bình Rebecca Liu. Xét trên mối quan hệ cá nhân, tôi không quen biết bất kỳ ai trong số họ. Tôi cũng chưa biết điểm giao thoa trong biểu đồ Venn [là biểu đồ gồm các hình tròn giao nhau để chỉ phần chung] giữa gu cảm thụ nghệ thuật của mình và họ nằm ở đâu, và tôi cũng chưa đọc bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào trong danh sách sơ bộ. Nhưng tôi vẫn vô cùng hào hứng thử để liều một phen và khám phá xem sao.
Văn hóa giải thưởng hiện đại đã tồn tại được khoảng 125 năm; James F. English, trong tuyệt tác “The Economy of Prestige” (tạm dịch: Nền kinh tế của danh vọng) cho rằng cơn sốt giải thưởng văn học hiện nay bắt nguồn từ giải Nobel ra mắt năm 1901. Trong thế giới nói tiếng Anh, thời điểm đó tình cờ trùng hợp với sự trỗi dậy của các khoa văn học Anh, và khi kết hợp lại, các trường đại học cùng những giải thưởng như Pulitzer, National Book Awards và Booker đã trở thành những bệ phóng để đưa các tác phẩm vào hàng ngũ kinh điển.
Các trường đại học công nhận vị thế kinh điển của các tác phẩm bằng cách đưa chúng vào chương trình giảng dạy, qua đó đảm bảo rằng nhiều thế hệ sinh viên sẽ đọc chúng (Các học giả biên soạn tuyển tập thường làm việc này theo đúng nghĩa đen, đó là đóng gộp các bài thơ, vở kịch, tiểu thuyết và tiểu luận lại thành các phiên bản sách giáo khoa). Các giải thưởng cũng tôn vinh tác phẩm và tác giả bằng cách đặt họ lên trên những tác phẩm hay tác giả cùng thời, qua đó gia tăng cơ hội để khi những mảnh vụn văn học [chỉ những tác phẩm mờ nhạt, kém chất lượng] của hiện tại bị gột rửa sạch sẽ, một số tác phẩm xuất sắc vẫn sẽ trụ lại.
Vì chúng ta không thể đọc mọi cuốn sách vào mọi lúc, nên dù không phải lúc nào cũng hoàn hảo, việc có một nguồn giúp ta định hướng về những gì xứng đáng để ta giành sự chú ý lâu dài là thật sự hữu ích. Đó chính là lúc các giải thưởng ra đời. Bản thân các giải thưởng luôn có sức hút mạnh mẽ thu hút dư luận ngay lập tức, từ những tác phẩm được họ lựa chọn cho đến những vụ bê bối xung quanh họ. (Gần bảy năm trước, giải Booker từng khiến dư luận phẫn nộ khi phớt lờ chính nội quy của mình và thản nhiên trao một giải đồng hạng). Thế nhưng những giải thưởng này cũng nắm giữ một tầm ảnh hưởng mang tính tổ chức sâu sắc.
Các giải thưởng đã trở nên đặc biệt quan trọng nếu bạn tin rằng xã hội chúng ta đã chạm đến giai đoạn “hậu chữ nghĩa” (postliterate), khi ngày càng ít học sinh theo học ngành Ngữ văn Anh và gần như chẳng còn sinh viên đại học nào có thể đọc trọn một cuốn sách. Nếu các quy chuẩn học thuật dần trở nên cứng nhắc và các nhóm lợi ích đặc thù tiếp tục nhắm vào các tác phẩm bị coi là gây tranh cãi hoặc không phù hợp với thế giới quan của họ, thì sách mới sẽ ngày càng khó được công nhận thông qua con đường giáo dục chính thống. Chương trình đọc hiểu bắt buộc dành cho cấp phổ thông (K-12) vừa được công bố gần đây dành cho các trường công lập ở bang Texas, nơi mà không có bất kỳ một cuốn sách nào được xuất bản trong vòng nửa thế kỷ qua, chính là một cái nhìn thoáng qua về thực tế đáng ngại đó.
Ý tôi không phải là độc giả không nên làm theo những lời khuyên từ các nhà phê bình hay chuyên mục uy tín, từ những người yêu sách trong gia đình, từ những người dùng Substack hay BookTok. Xét trên khía cạnh xã hội, chúng ta không hề thiếu những quan điểm cá nhân về sách, và rất nhiều trong số đó là đáng tin cậy. Vì vậy, bằng mọi giá, hãy cứ thoải mái đón nhận những gợi ý từ tôi và Dua Lipa [Dua Lipa là ngôi sao nhạc pop nổi tiếng thế giới, cô cũng là người vận hành một câu lạc bộ sách vô cùng đình đám mang tên Service95 Book Club, nên trong giới văn học hiện nay, cô được xem là một người giới thiệu sách có tầm ảnh hưởng rất lớn].
Nhưng tôi đặc biệt coi trọng khả năng của các giải thưởng trong việc tác động và khuyến khích văn hóa đọc cộng đồng, bởi phần lớn giá trị của chúng, dẫu không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chủ yếu đến từ hành động chấm giải mang tính tập thể: từ thảo luận, tranh luận, cho đến quyết định và sau đó là việc phát sóng, đưa tin về những lựa chọn đó. Khi ban tổ chức nỗ lực tập hợp một hội đồng giám khảo với nền tảng và trải nghiệm nghệ thuật đa dạng, điều đó sẽ được thể hiện rõ nét qua kết quả cuối cùng.
Hội đồng giám khảo giải Booker năm nay có phong cách độc đáo vô cùng ngưỡng mộ, và dĩ nhiên là danh sách đề cử sơ bộ mà họ lựa chọn cũng vậy. Tôi đã luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho giải Booker kể từ những chiến thắng vang dội trong thời kỳ hoàng kim cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 90 của các tác giả Kazuo Ishiguro, A.S. Byatt, Peter Carey và J.M. Coetzee. Gần đây hơn, danh sách đề cử của năm ngoái đã dẫn dắt tôi và câu lạc bộ sách của mình đến với “Seascraper” (tạm dịch: Kẻ nạo biển), một cuốn tiểu thuyết nhỏ nhưng đầy nội lực của Benjamin Wood, kể về niềm tin và ước mơ của một người đánh bắt tôm ở Anh. Tôi chắc chắn 100% rằng mình sẽ không mua cuốn sách đó nếu nó không được các giám khảo Booker vinh danh. Tôi biết ơn họ, như thể chính họ đã trao tặng cuốn sách đó cho tôi vậy.
Hãy tưởng tượng nếu Viện Hàn lâm Truyền hình Mỹ từ bỏ hình thức bỏ phiếu kín trên quy mô rộng như hiện này, mà thay vào đó chỉ cần mời Mike White, Shonda Rhimes, Taylor Sheridan, Julia Louis-Dreyfus và Bowen Yang vào một căn phòng để họ tự “thượng đài” phân định xem đâu là phim chính kịch xuất sắc nhất. Tôi chắc chắn sẽ xem bất kỳ bộ phim thắng giải nào mà họ bảo tôi xem, càng kỳ quặc thì lại càng hay.
Trong bối cảnh xu hướng đọc sách ngày càng lao dốc, trong khi thời gian lướt mạng, xem video, thả tim, và theo dõi tăng lên, tôi vẫn cảm thấy được an ủi trước sự sẵn lòng của mỗi cá nhân trong việc tìm kiếm mối kết giao kết kì diệu mà văn học hư cấu có thể mang lại. Đôi khi mối kết giao ấy mang tính riêng tư, đôi khi nó được chia sẻ với độc giả khác, nhưng dù theo cách nào thì nó vẫn mang bản chất cá nhân sâu sắc. Với một quyền lực hiếm hoi nhằm mang lại uy tín trong một thế giới đầy hỗn tạp và năng lực tương đương trong việc khơi mào những những cuộc thảo luận, các giải thưởng nhắc nhở chúng ta rằng tính chủ quan là một phần của rủi ro, và cũng là giá trị của việc thưởng thức nghệ thuật.
Có lẽ 50 năm sau, sẽ chẳng còn ai đọc văn học thuần tuý (literary fiction) [dòng văn học chú trọng chiều sâu nghệ thuật, tư tưởng và phát triển nhân vật, khác với văn học đại chúng/giải trí như ngôn tình hay trinh thám thương mại] nữa, và nguồn năng lượng đưa tác phẩm vào hàng ngũ kinh điển suốt gần 200 năm qua - nỗ lực nhằm gọt giũa kho tàng sách khổng lồ đến điên rồ của nhân loại thành một thư viện có giá trị thực tế, một thư viện dẫu không thể quản lý xuể thì ít nhất cũng có thể hiểu được - sẽ trở nên hoài phí. Nếu sau cơn đại hồng thuỷ ấy mà ai vẫn còn muốn đọc một cuốn tiểu thuyết, tôi dự đoán rằng các danh sách đề cử rút gọn (longlist) và chính thức (shortlist) của giải Booker, cùng với giải Pulitzer, National Book Awards, và nhiều giải thưởng khác, vốn phụ thuộc vào ý chí và sự thẩm định của con người, sẽ cung cấp những kim chỉ nam quan trọng.
Giống như những cuốn sách được vinh danh, các danh sách này truyền tải một điều gì đó cốt lõi về thế giới bất toàn và đầy rẫy những biến động mà chúng ta đang sống. Chúng sẽ là minh chứng cho một giai đoạn ngắn ngủi nhưng rực rỡ, khi một nhóm những con người sáng tạo chấp nhận – hoàn toàn tự nguyện! – dành phần lớn thời gian của một năm vùi đầu vào những trang sách, cống hiến thời gian và gu thẩm mỹ của mình để ủng hộ những tác phẩm mà họ hy vọng những người khác sẽ tìm đọc.
Về tác giả:
Radhika Jones từng là tổng biên tập của tạp chí Vanity Fair và trước đó từng giữ chức giám đốc mảng biên tập sách tại tờ The Times. Hiện bà đang viết một cuốn hồi ký mang tên “Bookish”, đồng thời phụ trách một bản tin về văn học và văn hóa.
Nguồn: Radhika Jones, “Please Judge What I’m Reading”, The New York Times, August 9, 2026.
Người dịch: Triệu Chí Phong
Những chú thích trong ngoặc vuông […] là của VSF.
Phải đến khi trưởng thành, tôi mới biết rằng các giải thưởng văn hóa danh giá được trao bởi những con người bằng xương bằng thịt, chứ không phải thần thánh hay nàng tiên nào cả. Vì vậy, khi Quỹ Giải thưởng Booker công bố danh sách sơ bộ cách đây khoảng hai tuần, tôi đã đọc nó đầy thích thú và cực kỳ ấn tượng trước cách năm vị giám khảo xuất hiện trong thông báo này. Họ đây rồi, hầu hết đều nở nụ cười rạng rỡ, đầy mãn nguyện trong bức ảnh đăng tải trên trang web của giải Booker. Tay họ nâng niu hai chồng sách dày, thành quả đầy tự hào sau nhiều tháng trời chọn lọc, biên mục và có lẽ cả những màn tranh luận đầy trí tuệ, những màn thuyết phục và đôi khi là gây sức ép đầy căng thẳng.
Các giám khảo văn học thường phải hứng chịu phần lớn búa rìu dư luận xoay quanh các giải thưởng nghệ thuật, bởi những định kiến cố hữu, những “điểm mù” khó tránh khỏi, và thiên kiến của họ trong quá trình chọn ra người thắng cuộc. Thật sự rất dễ dàng để buông lời chê bai năng lực và các quyết định của họ. Những giám khảo này là những “người gác cổng” tối cao, hiện thân cho điều gì đó cấm kỵ ở thế kỷ 21. Tuy nhiên, trong thời điểm mà những lời khuyên do chatbox đưa ra đang len lỏi vào ngày càng nhiều các lĩnh vực của đời sống, tôi lại thấy vui khi nhìn thấy hình ảnh những con người bằng xương bằng thịt này xuất hiện cùng tác phẩm mà họ tuyển chọn. Chính tính chủ quan [của con người, thay vì thuật toán vô hồn] mới là cốt lõi của vấn đề.
Tôi từng làm giám khảo cho vài giải thưởng qua nhiều năm, và những diễn biến xung quanh bàn chấm giải, từ hàng loạt phản ứng khác nhau đối với văn phong, các chiến thuật thuyết phục, cho đến việc mổ xẻ tác động cảm xúc, đều mang đậm tính nhân bản chẳng kém gì những tác phẩm trước mắt chúng tôi. Chuyện một giám khảo đập bàn rồi đùng đùng bước ra khỏi phòng (hoặc trong những năm tháng COVID đầy tồi tệ đó, là thoát khỏi phòng Zoom) không phải là chuyện hiếm. Nhưng cũng có khi bạn chỉ cần gieo vào đầu người khác một ý tưởng là có thể khiến họ thay đổi quan điểm. Một số hội đồng giám khảo đạt được sự đồng thuận ngay từ đầu, nhưng thường thì họ đều trải qua những bất đồng và tranh luận. Nhiều khi, kết quả đạt được cuối cùng không giống những gì mà chúng tôi nghĩ rằng mình đang hướng tới, đấy mới là điều thú vị của công việc.
Trong một thế giới mà rõ ràng là ngày càng ít người chịu đọc bất cứ thứ gì, những người vẫn còn duy trì thói quen này như chúng ta thường trông cậy vào những giải thưởng văn học để tìm ra những tác phẩm thật sự đáng đọc trong ngắn hạn cũng như để dự đoán xem có những tác phẩm nào sẽ trở nên đáng chú ý hơn trong dài hạn. Các giải thưởng chính là những công cụ đề xuất đầu tiên, có điều, những người đưa ra quyết định phải dựa vào chính gu thẩm mỹ của họ, chứ không phải một thuật toán dự báo nào đó.
Chủ tịch hội đồng giám khảo giải Booker năm nay là nhà cổ điển học [chuyên nghiên cứu ngôn ngữ, văn học, lịch sử Hy Lạp và La Mã cổ đại] Mary Beard, một lựa chọn hoàn hảo để đảm nhận vai trò biểu tượng đầy uy quyền trong một mùa hè mà tất cả những gì mọi người muốn bàn tán chỉ là sử thi “The Odyssey.” Các thành viên còn lại trong hội đồng giám khảo bao gồm nhà thơ Raymond Antrobus, nhạc sĩ Jarvis Cocker, nhà thơ kiêm nhà viết hồi ký Patricia Lockwood cùng với biên tập viên kiêm nhà phê bình Rebecca Liu. Xét trên mối quan hệ cá nhân, tôi không quen biết bất kỳ ai trong số họ. Tôi cũng chưa biết điểm giao thoa trong biểu đồ Venn [là biểu đồ gồm các hình tròn giao nhau để chỉ phần chung] giữa gu cảm thụ nghệ thuật của mình và họ nằm ở đâu, và tôi cũng chưa đọc bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào trong danh sách sơ bộ. Nhưng tôi vẫn vô cùng hào hứng thử để liều một phen và khám phá xem sao.
Văn hóa giải thưởng hiện đại đã tồn tại được khoảng 125 năm; James F. English, trong tuyệt tác “The Economy of Prestige” (tạm dịch: Nền kinh tế của danh vọng) cho rằng cơn sốt giải thưởng văn học hiện nay bắt nguồn từ giải Nobel ra mắt năm 1901. Trong thế giới nói tiếng Anh, thời điểm đó tình cờ trùng hợp với sự trỗi dậy của các khoa văn học Anh, và khi kết hợp lại, các trường đại học cùng những giải thưởng như Pulitzer, National Book Awards và Booker đã trở thành những bệ phóng để đưa các tác phẩm vào hàng ngũ kinh điển.
Các trường đại học công nhận vị thế kinh điển của các tác phẩm bằng cách đưa chúng vào chương trình giảng dạy, qua đó đảm bảo rằng nhiều thế hệ sinh viên sẽ đọc chúng (Các học giả biên soạn tuyển tập thường làm việc này theo đúng nghĩa đen, đó là đóng gộp các bài thơ, vở kịch, tiểu thuyết và tiểu luận lại thành các phiên bản sách giáo khoa). Các giải thưởng cũng tôn vinh tác phẩm và tác giả bằng cách đặt họ lên trên những tác phẩm hay tác giả cùng thời, qua đó gia tăng cơ hội để khi những mảnh vụn văn học [chỉ những tác phẩm mờ nhạt, kém chất lượng] của hiện tại bị gột rửa sạch sẽ, một số tác phẩm xuất sắc vẫn sẽ trụ lại.
Vì chúng ta không thể đọc mọi cuốn sách vào mọi lúc, nên dù không phải lúc nào cũng hoàn hảo, việc có một nguồn giúp ta định hướng về những gì xứng đáng để ta giành sự chú ý lâu dài là thật sự hữu ích. Đó chính là lúc các giải thưởng ra đời. Bản thân các giải thưởng luôn có sức hút mạnh mẽ thu hút dư luận ngay lập tức, từ những tác phẩm được họ lựa chọn cho đến những vụ bê bối xung quanh họ. (Gần bảy năm trước, giải Booker từng khiến dư luận phẫn nộ khi phớt lờ chính nội quy của mình và thản nhiên trao một giải đồng hạng). Thế nhưng những giải thưởng này cũng nắm giữ một tầm ảnh hưởng mang tính tổ chức sâu sắc.
Các giải thưởng đã trở nên đặc biệt quan trọng nếu bạn tin rằng xã hội chúng ta đã chạm đến giai đoạn “hậu chữ nghĩa” (postliterate), khi ngày càng ít học sinh theo học ngành Ngữ văn Anh và gần như chẳng còn sinh viên đại học nào có thể đọc trọn một cuốn sách. Nếu các quy chuẩn học thuật dần trở nên cứng nhắc và các nhóm lợi ích đặc thù tiếp tục nhắm vào các tác phẩm bị coi là gây tranh cãi hoặc không phù hợp với thế giới quan của họ, thì sách mới sẽ ngày càng khó được công nhận thông qua con đường giáo dục chính thống. Chương trình đọc hiểu bắt buộc dành cho cấp phổ thông (K-12) vừa được công bố gần đây dành cho các trường công lập ở bang Texas, nơi mà không có bất kỳ một cuốn sách nào được xuất bản trong vòng nửa thế kỷ qua, chính là một cái nhìn thoáng qua về thực tế đáng ngại đó.
Ý tôi không phải là độc giả không nên làm theo những lời khuyên từ các nhà phê bình hay chuyên mục uy tín, từ những người yêu sách trong gia đình, từ những người dùng Substack hay BookTok. Xét trên khía cạnh xã hội, chúng ta không hề thiếu những quan điểm cá nhân về sách, và rất nhiều trong số đó là đáng tin cậy. Vì vậy, bằng mọi giá, hãy cứ thoải mái đón nhận những gợi ý từ tôi và Dua Lipa [Dua Lipa là ngôi sao nhạc pop nổi tiếng thế giới, cô cũng là người vận hành một câu lạc bộ sách vô cùng đình đám mang tên Service95 Book Club, nên trong giới văn học hiện nay, cô được xem là một người giới thiệu sách có tầm ảnh hưởng rất lớn].
Nhưng tôi đặc biệt coi trọng khả năng của các giải thưởng trong việc tác động và khuyến khích văn hóa đọc cộng đồng, bởi phần lớn giá trị của chúng, dẫu không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chủ yếu đến từ hành động chấm giải mang tính tập thể: từ thảo luận, tranh luận, cho đến quyết định và sau đó là việc phát sóng, đưa tin về những lựa chọn đó. Khi ban tổ chức nỗ lực tập hợp một hội đồng giám khảo với nền tảng và trải nghiệm nghệ thuật đa dạng, điều đó sẽ được thể hiện rõ nét qua kết quả cuối cùng.
Hội đồng giám khảo giải Booker năm nay có phong cách độc đáo vô cùng ngưỡng mộ, và dĩ nhiên là danh sách đề cử sơ bộ mà họ lựa chọn cũng vậy. Tôi đã luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho giải Booker kể từ những chiến thắng vang dội trong thời kỳ hoàng kim cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 90 của các tác giả Kazuo Ishiguro, A.S. Byatt, Peter Carey và J.M. Coetzee. Gần đây hơn, danh sách đề cử của năm ngoái đã dẫn dắt tôi và câu lạc bộ sách của mình đến với “Seascraper” (tạm dịch: Kẻ nạo biển), một cuốn tiểu thuyết nhỏ nhưng đầy nội lực của Benjamin Wood, kể về niềm tin và ước mơ của một người đánh bắt tôm ở Anh. Tôi chắc chắn 100% rằng mình sẽ không mua cuốn sách đó nếu nó không được các giám khảo Booker vinh danh. Tôi biết ơn họ, như thể chính họ đã trao tặng cuốn sách đó cho tôi vậy.
Hãy tưởng tượng nếu Viện Hàn lâm Truyền hình Mỹ từ bỏ hình thức bỏ phiếu kín trên quy mô rộng như hiện này, mà thay vào đó chỉ cần mời Mike White, Shonda Rhimes, Taylor Sheridan, Julia Louis-Dreyfus và Bowen Yang vào một căn phòng để họ tự “thượng đài” phân định xem đâu là phim chính kịch xuất sắc nhất. Tôi chắc chắn sẽ xem bất kỳ bộ phim thắng giải nào mà họ bảo tôi xem, càng kỳ quặc thì lại càng hay.
Trong bối cảnh xu hướng đọc sách ngày càng lao dốc, trong khi thời gian lướt mạng, xem video, thả tim, và theo dõi tăng lên, tôi vẫn cảm thấy được an ủi trước sự sẵn lòng của mỗi cá nhân trong việc tìm kiếm mối kết giao kết kì diệu mà văn học hư cấu có thể mang lại. Đôi khi mối kết giao ấy mang tính riêng tư, đôi khi nó được chia sẻ với độc giả khác, nhưng dù theo cách nào thì nó vẫn mang bản chất cá nhân sâu sắc. Với một quyền lực hiếm hoi nhằm mang lại uy tín trong một thế giới đầy hỗn tạp và năng lực tương đương trong việc khơi mào những những cuộc thảo luận, các giải thưởng nhắc nhở chúng ta rằng tính chủ quan là một phần của rủi ro, và cũng là giá trị của việc thưởng thức nghệ thuật.
Có lẽ 50 năm sau, sẽ chẳng còn ai đọc văn học thuần tuý (literary fiction) [dòng văn học chú trọng chiều sâu nghệ thuật, tư tưởng và phát triển nhân vật, khác với văn học đại chúng/giải trí như ngôn tình hay trinh thám thương mại] nữa, và nguồn năng lượng đưa tác phẩm vào hàng ngũ kinh điển suốt gần 200 năm qua - nỗ lực nhằm gọt giũa kho tàng sách khổng lồ đến điên rồ của nhân loại thành một thư viện có giá trị thực tế, một thư viện dẫu không thể quản lý xuể thì ít nhất cũng có thể hiểu được - sẽ trở nên hoài phí. Nếu sau cơn đại hồng thuỷ ấy mà ai vẫn còn muốn đọc một cuốn tiểu thuyết, tôi dự đoán rằng các danh sách đề cử rút gọn (longlist) và chính thức (shortlist) của giải Booker, cùng với giải Pulitzer, National Book Awards, và nhiều giải thưởng khác, vốn phụ thuộc vào ý chí và sự thẩm định của con người, sẽ cung cấp những kim chỉ nam quan trọng.
Giống như những cuốn sách được vinh danh, các danh sách này truyền tải một điều gì đó cốt lõi về thế giới bất toàn và đầy rẫy những biến động mà chúng ta đang sống. Chúng sẽ là minh chứng cho một giai đoạn ngắn ngủi nhưng rực rỡ, khi một nhóm những con người sáng tạo chấp nhận – hoàn toàn tự nguyện! – dành phần lớn thời gian của một năm vùi đầu vào những trang sách, cống hiến thời gian và gu thẩm mỹ của mình để ủng hộ những tác phẩm mà họ hy vọng những người khác sẽ tìm đọc.
Về tác giả:
Radhika Jones từng là tổng biên tập của tạp chí Vanity Fair và trước đó từng giữ chức giám đốc mảng biên tập sách tại tờ The Times. Hiện bà đang viết một cuốn hồi ký mang tên “Bookish”, đồng thời phụ trách một bản tin về văn học và văn hóa.
Từ khoá: văn học AI sách đọc sách