Văn hoá - Xã hội
31 PHÚT ĐỌC

Khi những chiếc “Wave tàu” ngược chiều công nghệ

Từng quen thuộc trên những con phố, xe ôm truyền thống dần thưa vắng trước sự phổ biến của xe ôm công nghệ. Nếu một xã hội tiến bộ không bỏ lại những người đi chậm thì phải làm gì để bảo vệ phẩm giá và bảo đảm sinh kế cho họ?

Lê Minh Châu Anh 29/10/2026
Image
Người lái xe ôm truyền thống vật vờ ngồi chờ khách trên đường phố - (C): Pinterest

Chú Khánh, 66 tuổi, hằng ngày mỗi 4 giờ sáng, có mặt ở mấy văn phòng xe dọc đường Giải Phóng. Chú đến chờ khách gọi chở đi, hoặc chờ một gói hàng nào đó cần người giao. Cứ mỗi chuyến hàng như vậy, chú nhận được khoảng 50 nghìn, nếu khách bo thì chú có thêm 10 nghìn. Số lượng chuyến xe chú nhận được mỗi ngày không cố định. Ngày nhiều thì 4-5 chuyến, ngày ít thì 1-2 chuyến. Những ngày mưa lạnh, chú còn chẳng được chuyến nào.

Đó là một sáng trời mưa lất phất, nhiệt độ buổi sớm còn thấp. Thấy tôi bước xuống chiếc xe khách, chú lập tức hỏi, “Xe ôm không cháu, cháu về đâu?”. Khi tôi nói về gần Huỳnh Thúc Kháng, chú bảo, “đi cho chú nhé, chú lấy 60 nghìn thôi.” “Hôm nay trời mưa, khó bắt xe lắm, đi cho chú đi.” Nghĩ một lúc, tôi quyết định leo lên xe chú sau khi đã chụp ảnh biển số xe lại cho yên tâm. Hôm đó, ngồi trên chiếc “Wave tàu” cũ kỹ, tuy mưa táp ướt cả mặt, hành lý cũng ướt hết cả, nhưng tôi vẫn gửi chú 80 nghìn, một con số mà tôi thấy là hợp lý với cương vị là “người mở hàng”.

Vì thương cảm, tôi quyết định trở thành khách quen của chú. Lúc nào có hàng tôi cũng gọi nhờ chú chở để có dịp gửi chú thêm 20 nghìn. Chú rất nhiệt tình và đúng giờ. Có một buổi sáng trời mưa xối xả, tôi vẫn nhờ chú đi giao hàng như mọi khi. Khi xuống lấy hàng, tôi còn bắt gặp vợ chú, ngồi phía yên sau. Chú bảo, “hôm nay mưa quá bà đi bán mà phải về, thế là chú chở theo rồi tiện cùng về luôn.” Vậy là hai ông bà gần 70 lại rong ruổi trên chiếc “Wave tàu” suốt một ngày mưa hôm đó.

Một lần nọ, chú kể, có hôm chú chờ mãi mới có khách. Lý do là giờ chẳng ai còn dùng nhiều tiền mặt, họ cũng ngại không có tiền mặt trả cho chú. Chú bảo cứ chuyển vào tài khoản ngân hàng của con trai chú là được. Sau chuyến đi, chú nhắn cho họ số tài khoản của con trai. Nhưng chờ mãi không thấy tiền chuyển đến. Chú cười, “thôi, chắc là chỉ có 50 nghìn nên người ta quên, bao giờ gặp thì trả”. Ấy vậy mà chú lại bảo, “ngày nào chú cũng ra bến xe chờ xem có gặp người ta không, hy vọng họ nhớ ra rồi trả chú”.

Chú chia sẻ, dạo này chú đón chẳng được bao nhiêu khách. Tôi hỏi chú Khánh, tại sao chú không chuyển sang chạy xe ôm công nghệ cho dễ kiếm khách. Chú lại cười, “chú có biết app ‘iếc’ gì đâu, điện thoại chú còn dùng ‘cục gạch’ nữa là.” Thì ra ở cái năm 2026, cái thời 4.0, vẫn còn một nhóm người còn không được tiếp xúc với công nghệ, đành phải an phận với cái nghề đã theo mình bấy lâu. Họ chẳng có một cơ hội để khá hơn.

Giữa nhịp chuyển mình của đô thị

Câu chuyện của chú Khánh là một phần của thực trạng nghề xe ôm truyền thống hiện nay, một bức tranh đã nhuốm màu u tối hơn so với trước đây. Vốn dĩ, nghề xe ôm ở một, hai chục năm về trước dễ hơn bây giờ khá nhiều. Với đặc thù quy hoạch của thành phố tại Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, những con đường hẹp, những con hẻm giao nhau rối rắm đã khiến xe máy trở thành một phương tiện không thể thiếu. Cho đến nay, dù đường đã được mở rộng, xe ô tô đã trở nên phổ biến hơn trước, nhưng thành phố vẫn còn một vấn đề, đó là những con hẻm chằng chịt, giao nhau – chẳng có quy luật nào. Với “hệ thống” đường sá như vậy, những tay lái tường tận mọi “hang cùng ngõ hẻm” không phải chật vật vì lo không có khách. Vì vậy, nghề xe ôm trước đây không hiếm và thế hệ trước chắc không xa lạ gì với những chiếc xe máy đỗ dọc vỉa hè hay bến xe buýt, bến xe khách.

Xe ôm truyền thống từ xưa đến nay vẫn luôn thuộc nhóm lao động tự do hay lao động “phi chính thức”. Vì vậy, không có một “công đoàn xe ôm” nào được thành lập để thực sự bảo vệ cho quyền lợi của người chạy xe ôm. Phần lớn họ họp lại thành những “nghiệp đoàn xe ôm”, hoạt động tại các bến xe. Nghe có vẻ không mấy chuyên nghiệp, thật vậy, các nghiệp đoàn có nhiệm vụ chính là bảo vệ địa bàn thông qua hoạt động thu tiền bảo kê. Muốn có được một chỗ đỗ xe để chờ khách tại bến xe, tài xế xe ôm truyền thống phải có “quan hệ” với nghiệp đoàn xe ôm, hoặc phải biết “đàm phán” để lấy được chỗ. Và với lượng khách ra vào tấp nập tại bãi xe, công việc của họ không ế ẩm gì. Đối với những địa điểm quen thuộc khác, ví dụ như ở gần nhà, họ sẽ có một lượng khách quen nhất định. Tóm lại, nghề xe ôm trước đây không khiến họ phải chật vật, vì về cơ bản cũng có thu nhập, cho dù thấp.

Rồi công nghệ bùng nổ. Khi xe ôm công nghệ dần phổ biến thì xe ôm truyền thống đành lùi bước.

Ngày nay, người ta chọn đi xe công nghệ vì nhiều cái tiện. Chỉ cần đứng một chỗ đã đặt được xe với giá cả rõ ràng, không lo bị “hét giá”. Bên cạnh đó, người đặt xe còn có thể theo dõi thông tin của tài xế và hành trình chuyến đi. Trong cái thời đại mà nạn bắt cóc khiến người ta không thể tin được ai, thì chính việc theo dõi thông tin này là lợi thế của xe ôm công nghệ. Xe ôm công nghệ gần đây cũng được trang bị tính năng đặt xe hộ người khác, và người đặt tất nhiên có thể theo dõi hành trình chuyến đi để yên tâm hơn.

Những trăn trở của người lái xe ôm

Người tiêu dùng tất nhiên có cái lý của họ. Không ai muốn đi đôi co với một bác xe ôm già sau khi bị bác ấy “chém giá”. Mà chính xe ôm công nghệ lại giải quyết tốt vấn đề này. Ngay khi đặt xe, người đặt đã biết được chính xác giá của chuyến xe mình đi, thậm chí còn được áp dụng mã giảm giá để đi với giá rẻ hơn. Trong khi đó, tình trạng xe ôm truyền thống “hét” giá không hề xa lạ. Sau mỗi chuyến đi, người dùng có thể bị “vòi” thêm một ít tiền với vô vàn lý do. Lúc thì “đường xa quá”, khi thì “hôm nay kẹt xe quá”, để rồi “gửi cho chú thêm một ít”. Dù chỉ vài chục nghìn nhưng sự khó chịu của khách hàng là không thể tránh khỏi khi họ phải trả nhiều hơn thoả thuận ban đầu.

Tuy nhiên, đằng sau sự “chém giá” là những “nỗi khổ” của nghề xe ôm. Nếu tài xế xe công nghệ nhận khách qua sự phân phối của ứng dụng, các chuyến xe nối tiếp nhau, thì tài xế xe ôm truyền thống phải đi ngược trở về điểm đón khách quen thuộc của mình để chờ chuyến tiếp theo. Giá một chuyến xe sẽ gồm cả chiều đi lẫn chiều về, vì vậy giá sẽ “nhỉnh” hơn đôi chút so với giá của xe ôm công nghệ. Hơn nữa, đối với tài xế xe ôm truyền thống, mức giá trên các ứng dụng xe ôm công nghệ bị coi là “phá giá”. Tài xế xe ôm truyền thống không thể nhận chuyến với mức giá như của xe ôm công nghệ, vì theo họ, mức giá như vậy là quá ít và không đủ cho một bữa ăn để có thể tiếp tục chuyến xe tiếp theo.

Một nguyên nhân nữa là sự thiếu hụt tri thức. Thế hệ xe ôm truyền thống còn sót lại hiện nay cũng là nạn nhân của một thời đại cơm không đủ ăn, nước không đủ uống, và tất nhiên họ thiếu đi quyền được tiếp cận giáo dục. Họ không những yếu thế hoàn toàn về kiến thức trường lớp, mà còn thiếu đi kiến thức xã hội, họ không thể tính toán về lợi và hại lâu dài. Những người phải lo bữa nay bữa mai làm sao tính được con đường làm nghề còn dài phía trước. Họ chỉ biết tranh thủ kiếm thêm đồng nào hay đồng ấy, vì bữa cơm hôm nay của họ cũng cần thêm một quả trứng. Suy cho cùng, vấn đề “chém giá” xuất phát từ lẽ này.

Tuổi tác, nghèo khó và khoảng cách với công nghệ

Một nhóm người hoàn toàn yếu thế vì không có kiến thức, vì tuổi tác đã cao, vì nghèo, vì không thể cập nhật các xu hướng xã hội. Họ không thể cạnh tranh nổi với lớp trẻ đang dùng điện thoại thông minh để kiếm tiền, cụ thể là chạy xe ôm công nghệ. Có vài người trong số đó thậm chí còn chưa từng chạm vào một chiếc điện thoại thông minh, thì làm sao họ biết cách dùng nó để đăng ký trở thành xe ôm công nghệ? Hơn nữa, đã gần một đời người chỉ biết nhìn điện thoại đen trắng – hay “cục gạch”, họ cảm thấy điện thoại thông minh có lẽ quá “chói chang”. Thị lực có phần suy giảm cũng ngăn cách họ với đời sống công nghệ.

Hơn nữa, trong số họ, phần lớn cũng đã quá độ tuổi lao động. Chẳng hạn, theo thông tin tuyển dụng từ Grab Việt Nam, độ tuổi đăng ký đối tác tài xế xe máy có giới hạn: từ 18 đến 60 tuổi đối với xe máy, và dưới 65 tuổi đối với xe ô tô. Việc chuyển sang chạy xe công nghệ không phải là lựa chọn khả thi đối với tài xế xe ôm truyền thống lớn tuổi. Ngay cả khi đáp ứng điều kiện về độ tuổi, họ vẫn có thể gặp khó khăn do thiếu tiền mua điện thoại thông minh hoặc chưa quen thao tác với ứng dụng. Vì vậy, không thể xem việc chuyển sang chạy xe công nghệ hay học lái ô tô là giải pháp phù hợp với đối tượng lao động này, họ quá độ tuổi lao động nhưng lại không thể nghỉ ngơi hay dưỡng già.

Một vấn đề khác cho thấy tài xế xe ôm truyền thống đang bị bỏ lại phía sau, đó là chính sách cấm xe máy ở nội thành. Như đã đề cập về đặc trưng đường sá, Việt Nam vốn là một quốc gia “thân thiện” với xe máy. Tuy nhiên, một bộ phận dân cư đã có cuộc sống tốt hơn với những chiếc xe hơi xuất hiện ngày càng phổ biến. Vì mục tiêu “đô thị hiện đại”, xe máy trở thành “kẻ tội đồ của giao thông”, bị coi là phương tiện giao thông lạc hậu, gây nhiều bất tiện trên đường phố. Theo kế hoạch, đến năm 2030, xe máy sẽ bị cấm hoàn toàn ở nội thành thủ đô. Những tài xế xe ôm truyền thống, với thứ vốn duy nhất là cơ thể chưa đến mức rã rời và một chiếc xe máy “cà tàng” làm công cụ, họ sẽ đi đâu, về đâu?

Những nỗ lực bám nghề cuối cùng

Dù khó khăn, thế hệ xe ôm truyền thống vẫn gắng gượng kiếm miếng cơm manh áo. Họ không chọn ăn xin, vì phẩm giá, vì họ tin rằng mình vẫn còn một kế sinh nhai. Không có gì ngoài chiếc xe máy cà tàng, họ chọn “bám” nghề, vì đó là nghề duy nhất mà họ có đủ điều kiện: khả năng và công cụ lao động.

Một lợi thế của xe ôm truyền thống lại liên quan đến tốc độ, nghe thật khó tin, nhưng đó là: chậm. Nếu như tài xế xe ôm công nghệ phải “phóng” thật nhanh để kịp nhận chuyến tiếp theo, thì tài xế xe ôm, với đặc trưng lao động tự do, có thể chạy chậm hơn mà không phải chịu áp lực từ công ty xe ôm công nghệ. Thực chất, tốc độ chậm này cũng đến từ tuổi của người lái và tuổi của chính chiếc xe mà họ chạy. Tuy nhiên, với nhiều người, đây lại là lợi thế. Đó là sự an toàn. Vì vậy, một vài tài xế xe ôm truyền thống ngày nay, nếu may mắn, có thể nhận được những công việc khá đều đặn: chở trẻ em đi học, chở người già, và chở hàng.

Thế nhưng, những công việc thay thế đó cũng chỉ đủ để họ kiếm được bữa ăn ở mức cơ bản. Trong thời đại vật giá ngày càng leo thang nhưng công sức lao động lại không tăng tương xứng, những người còn sót lại của thế hệ xe ôm truyền thống sẽ làm gì để đủ sống? Làm sao để họ có những giây phút thảnh thơi? Làm sao để “không ai bị bỏ lại phía sau”?

Vì sao người lái xe ôm truyền thống cần được bảo vệ?

Có lẽ, sẽ đến một ngày, khi những chiếc xe ôm công nghệ phủ kín các con phố, khi việc gọi một chuyến xe chỉ còn là vài thao tác trên màn hình, chúng ta sẽ dần quên đi hình ảnh những bác xe ôm già ngồi chờ khách dưới mái hiên hay nớigóc phố quen. Thế hệ xe ôm truyền thống còn tồn tại đến ngày nay phần lớn là những người đã ngoài 60 tuổi. Khi thế hệ này qua đi, nghề xe ôm truyền thống có lẽ sẽ biến mất hoàn toàn trong nhịp phát triển chóng mặt của công nghệ.

Vấn đề đặt ra ở đây không phải là bảo tồn nghề xe ôm truyền thống, mà đúng hơn phải là bảo vệ những người lái xe ôm truyền thống không thể theo kịp thời đại. Không phải vì số lượng ít ỏi và thời gian tồn tại ngắn ngủi mà ta lại gạt họ ra khỏi chính sách an sinh xã hội. An sinh xã hội phải bao trùm và linh hoạt, và nhất là không để ai bị bỏ lại phía sau.

Họ là những người không còn nhiểu khả năng lao động, không có cơ hội và khả năng để chuyển đổi nhằm theo kịp tốc độ của cuộc sống hiện đại. Họ thiếu hụt tri thức và yếu kém về sức khoẻ. Những người “dễ bị tổn thương” và không biết cách thoát khỏi hoàn cảnh của mình chính là những đối tượng mà chính sách an sinh xã hội cần hướng đến.

Hơn nữa, bất chấp khó khăn do sức khoẻ bản thân hay do chuyển biến nhanh chóng của xã hội, họ vẫn làm việc chân chính và bằng sức lực của mình để nuôi sống bản thân,để không trở thành gánh nặng cho an sinh xã hội.

Việc hỗ trợ để nhóm đối tượng này thoát ra khỏi khó khăn về kinh tế cũng là để phòng tránh những gánh nặng lớn lao hơn sau này. Những tài xế xe ôm truyền thống chỉ có thể kiếm từng bữa ăn, không có tích luỹ, không có phòng bị lâu dài. Họ cần được hỗ trợ sớm trước khi thật sự không còn khả năng lao động và trở nên phụ thuộc hoàn toàn (mặc dù họ cũng không biết phải phụ thuộc vào cái gì). Điều này có nghĩa là những hỗ trợ trước mắt sẽ giúp họ không rơi vào hoàn cảnh khó khăn cùng cực, phải lao động với điều kiện sức khoẻ yếu kém, và từ đó tạo áp lực lên hệ thống y tế và cộng đồng.

An sinh xã hội và hỗ trợ sinh kế

Một thiệt thòi lớn trong việc tìm khách của xe ôm truyền thống là họ không thể hiện hữu liên tục. Không phải ở góc phố nào cũng có thể bắt gặp được tài xế xe ôm truyền thống. Thậm chí đối với khách quen, nếu không ở vị trí quen thuộc, sẽ rất khó để gọi xe ôm truyền thống. Trong khi đó, người dùng xe ôm công nghệ luôn có sẵn ứng dụng trong điện thoại thông minh, chỉ cần “bật app” là có thể đặt xe. Tuy nhiên, không phải là không có giải pháp cho vấn đề này.

Hãy thử tua lại thời gian về 10-20 năm trước, khi chưa có ứng dụng đặt xe, tại sao chúng ta vẫn gọi được taxi đến đón cho dù không biết tài xế đang ở đâu và cũng không thể liên hệ trực tiếp với họ. Đó là bởi vì xe taxi có tổng đài và một hệ thống điều phối trực thuộc hãng taxi. Phải chăng điều cần thiết cho xe ôm truyền thống hiện nay là một hệ thống tổng đài và điều phối tương tự.

Bên cạnh đó, cần tổ chức các hệ thống điểm đón xe ôm có trật tự, văn minh, và tiện lợi cho khách hàng. Những tụ điểm của những tài xế xe ôm ở cổng chợ, cổng bệnh viện hay bến xe cần có sự quản lý để đảm bảo an toàn cho cả tài xế lẫn hành khách. Các tài xế xe ôm cần phải được quản lý và tổ chức cụ thể để tránh hiện tượng giành chỗ, giành khách. Họ cũng cần phải được hướng dẫn nhiều hơn về dịch vụ khách hàng. Quan trọng, phải cho họ nhìn thấy được tầm quan trọng của làm nghề bền vững, và có niềm tin vào nghề trong tương lai để tránh hiện tượng “chém giá” làm mất khách.

Để thuận tiện cho khách hàng, cần có một hệ thống cập nhật các điểm đón xe, số điện thoại liên lạc và thời gian hoạt động của của tài xế tại điểm đón. Cách này sẽ giúp khách hàng nắm được thông tin của tài xế để đảm bảo an toàn và đồng thời nâng cao mức độ hiện diện của xe ôm truyền thống đối với khách hàng – vốn là hai lợi thế của xe ôm công nghệ. 

Việc đưa những tài xế xe ôm truyền thống đến gần hơn với bảo hiểm xã hội và các hỗ trợ về sinh kế dường như khó khăn hơn, cần sự nỗ lực liên đới của nhiều bên. Đó phải là sự chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương, đến cộng đồng nhỏ hơn để tiếp cận được với số lượng xe ôm truyền thống đang có mặt trên khắp đất nước. Bởi lẽ, đằng sau những người tài xế xe ôm già là… không ai cả. Họ là những người lao động tự do, không thuộc một tổ chức hay một công ty nào. Họ không có được sự bảo vệ từ công đoàn như những người lao động khác.

Thí dụ như người bán vé số, việc hướng dẫn họ tiếp cận với bảo hiểm xã hội sẽ dễ dàng hơn đôi chút, bởi họ có sự ràng buộc nhất định với công ty Xổ số kiến thiết hay với các đại lý nhỏ lẻ hơn. Nhưng người lái xe ôm thì hoàn toàn khác. Hãng xe mà họ đang đi cũng không thể đứng ra làm thủ tục bảo hiểm cho họ, vì những mẫu xe đó đã “quá date” chắc cũng cả thập kỷ hoặc vài thập kỷ, có khi, đó là những mẫu xe chắp vá không thể xác định được nguồn gốc. Tất nhiên rồi, tài xế xe ôm truyền thống chỉ có một chiếc xe để mưu sinh.

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội phải đi liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Việc một nhóm yếu thế như những tài xế xe ôm truyền thống được công nhận, được có quyền và địa vị pháp lý, được tiếp cận với bảo hiểm xã hội là nhằm thúc đẩy công bằng xã hội. Chúng ta cần kiến thiết một cá nhân để kiến thiết một gia đình ấm no và từ đó kiến thiết một xã hội công bằng, văn minh.

Xã hội tiến bộ không bỏ quên những người đi chậm

Chúng ta không thể yêu cầu xã hội ngừng phát triển chỉ để giữ lại một nghề nghiệp cũ. Cũng không thể buộc những người trẻ phải lựa chọn một phương thức di chuyển kém thuận tiện hơn chỉ vì lòng thương cảm. Nhưng giữa những bước tiến của công nghệ, có lẽ điều chúng ta cần tự hỏi là: liệu sự tiện lợi của số đông có nhất thiết phải được đánh đổi bằng sự chật vật của một nhóm người yếu thế? Liệu một xã hội thực sự văn minh chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, hay còn bằng cách nó đối xử với những người không đủ khả năng chạy theo tốc độ ấy?

Đằng sau mỗi bác xe ôm già có thể là một cuộc đời đã dành phần lớn thời gian để mưu sinh trên đường phố, là những tháng ngày dãi nắng dầm mưa để nuôi con, nuôi gia đình, là những năm tháng mà một chiếc xe máy không chỉ là phương tiện kiếm sống, mà còn là chỗ dựa cuối cùng khi tuổi già đã đến mà cuộc sống vẫn chưa cho phép họ nghỉ ngơi.

Những người lái xe ôm truyền thống có thể không còn là một phần nổi bật của những con phố trong tương lai. Nhưng trước khi họ rời đi, họ vẫn là những con người có phẩm giá, có nhu cầu được sống một cuộc đời tử tế và có quyền được đối xử công bằng. Điều họ cần có thể không phải là một ứng dụng mới, một chiếc xe mới hay một nỗ lực níu giữ nghề nghiệp đã cũ, mà là một cơ hội để bước tiếp mà không phải đánh đổi những năm tháng cuối đời trong nỗi lo cơm áo.

Chúng ta thường nói về công nghệ như một bước tiến của nhân loại, hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng tốt đẹp hơn cho ai, nếu vẫn có những người phải chật vật để tồn tại ngay giữa chính thành phố mà họ đã dành cả đời để phục vụ? Và tiến bộ có thực sự trọn vẹn hay không, nếu những người yếu thế nhất luôn là những người phải tự gánh chịu phần lớn cái giá của tiến bộ?

Sau cùng, công bằng không có nghĩa là tất cả mọi người đều phải nhận được những điều giống nhau. Công bằng bắt đầu từ việc chúng ta nhận ra rằng có những người cần được nâng đỡ nhiều hơn, không phải vì họ kém giá trị hơn người khác, mà vì họ có ít cơ hội hơn để tự bảo vệ mình. Và có lẽ, thước đo của một xã hội tiến bộ không chỉ nằm ở việc nó có thể đi nhanh đến đâu, mà còn ở việc nó có sẵn lòng ngoảnh lại, chìa tay ra với những người đang dần bị bỏ lại phía sau hay không.

Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Phẩm giá và công bằng xã hội cho nhóm yếu thế”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.

Lê Minh Châu Anh là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế - Học viện Ngoại giao. Châu Anh quan tâm đến an sinh xã hội, phát triển bền vững và bao trùm.

Chú Khánh, 66 tuổi, hằng ngày mỗi 4 giờ sáng, có mặt ở mấy văn phòng xe dọc đường Giải Phóng. Chú đến chờ khách gọi chở đi, hoặc chờ một gói hàng nào đó cần người giao. Cứ mỗi chuyến hàng như vậy, chú nhận được khoảng 50 nghìn, nếu khách bo thì chú có thêm 10 nghìn. Số lượng chuyến xe chú nhận được mỗi ngày không cố định. Ngày nhiều thì 4-5 chuyến, ngày ít thì 1-2 chuyến. Những ngày mưa lạnh, chú còn chẳng được chuyến nào.

Đó là một sáng trời mưa lất phất, nhiệt độ buổi sớm còn thấp. Thấy tôi bước xuống chiếc xe khách, chú lập tức hỏi, “Xe ôm không cháu, cháu về đâu?”. Khi tôi nói về gần Huỳnh Thúc Kháng, chú bảo, “đi cho chú nhé, chú lấy 60 nghìn thôi.” “Hôm nay trời mưa, khó bắt xe lắm, đi cho chú đi.” Nghĩ một lúc, tôi quyết định leo lên xe chú sau khi đã chụp ảnh biển số xe lại cho yên tâm. Hôm đó, ngồi trên chiếc “Wave tàu” cũ kỹ, tuy mưa táp ướt cả mặt, hành lý cũng ướt hết cả, nhưng tôi vẫn gửi chú 80 nghìn, một con số mà tôi thấy là hợp lý với cương vị là “người mở hàng”.

Vì thương cảm, tôi quyết định trở thành khách quen của chú. Lúc nào có hàng tôi cũng gọi nhờ chú chở để có dịp gửi chú thêm 20 nghìn. Chú rất nhiệt tình và đúng giờ. Có một buổi sáng trời mưa xối xả, tôi vẫn nhờ chú đi giao hàng như mọi khi. Khi xuống lấy hàng, tôi còn bắt gặp vợ chú, ngồi phía yên sau. Chú bảo, “hôm nay mưa quá bà đi bán mà phải về, thế là chú chở theo rồi tiện cùng về luôn.” Vậy là hai ông bà gần 70 lại rong ruổi trên chiếc “Wave tàu” suốt một ngày mưa hôm đó.

Một lần nọ, chú kể, có hôm chú chờ mãi mới có khách. Lý do là giờ chẳng ai còn dùng nhiều tiền mặt, họ cũng ngại không có tiền mặt trả cho chú. Chú bảo cứ chuyển vào tài khoản ngân hàng của con trai chú là được. Sau chuyến đi, chú nhắn cho họ số tài khoản của con trai. Nhưng chờ mãi không thấy tiền chuyển đến. Chú cười, “thôi, chắc là chỉ có 50 nghìn nên người ta quên, bao giờ gặp thì trả”. Ấy vậy mà chú lại bảo, “ngày nào chú cũng ra bến xe chờ xem có gặp người ta không, hy vọng họ nhớ ra rồi trả chú”.

Chú chia sẻ, dạo này chú đón chẳng được bao nhiêu khách. Tôi hỏi chú Khánh, tại sao chú không chuyển sang chạy xe ôm công nghệ cho dễ kiếm khách. Chú lại cười, “chú có biết app ‘iếc’ gì đâu, điện thoại chú còn dùng ‘cục gạch’ nữa là.” Thì ra ở cái năm 2026, cái thời 4.0, vẫn còn một nhóm người còn không được tiếp xúc với công nghệ, đành phải an phận với cái nghề đã theo mình bấy lâu. Họ chẳng có một cơ hội để khá hơn.

Giữa nhịp chuyển mình của đô thị

Câu chuyện của chú Khánh là một phần của thực trạng nghề xe ôm truyền thống hiện nay, một bức tranh đã nhuốm màu u tối hơn so với trước đây. Vốn dĩ, nghề xe ôm ở một, hai chục năm về trước dễ hơn bây giờ khá nhiều. Với đặc thù quy hoạch của thành phố tại Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, những con đường hẹp, những con hẻm giao nhau rối rắm đã khiến xe máy trở thành một phương tiện không thể thiếu. Cho đến nay, dù đường đã được mở rộng, xe ô tô đã trở nên phổ biến hơn trước, nhưng thành phố vẫn còn một vấn đề, đó là những con hẻm chằng chịt, giao nhau – chẳng có quy luật nào. Với “hệ thống” đường sá như vậy, những tay lái tường tận mọi “hang cùng ngõ hẻm” không phải chật vật vì lo không có khách. Vì vậy, nghề xe ôm trước đây không hiếm và thế hệ trước chắc không xa lạ gì với những chiếc xe máy đỗ dọc vỉa hè hay bến xe buýt, bến xe khách.

Xe ôm truyền thống từ xưa đến nay vẫn luôn thuộc nhóm lao động tự do hay lao động “phi chính thức”. Vì vậy, không có một “công đoàn xe ôm” nào được thành lập để thực sự bảo vệ cho quyền lợi của người chạy xe ôm. Phần lớn họ họp lại thành những “nghiệp đoàn xe ôm”, hoạt động tại các bến xe. Nghe có vẻ không mấy chuyên nghiệp, thật vậy, các nghiệp đoàn có nhiệm vụ chính là bảo vệ địa bàn thông qua hoạt động thu tiền bảo kê. Muốn có được một chỗ đỗ xe để chờ khách tại bến xe, tài xế xe ôm truyền thống phải có “quan hệ” với nghiệp đoàn xe ôm, hoặc phải biết “đàm phán” để lấy được chỗ. Và với lượng khách ra vào tấp nập tại bãi xe, công việc của họ không ế ẩm gì. Đối với những địa điểm quen thuộc khác, ví dụ như ở gần nhà, họ sẽ có một lượng khách quen nhất định. Tóm lại, nghề xe ôm trước đây không khiến họ phải chật vật, vì về cơ bản cũng có thu nhập, cho dù thấp.

Rồi công nghệ bùng nổ. Khi xe ôm công nghệ dần phổ biến thì xe ôm truyền thống đành lùi bước.

Ngày nay, người ta chọn đi xe công nghệ vì nhiều cái tiện. Chỉ cần đứng một chỗ đã đặt được xe với giá cả rõ ràng, không lo bị “hét giá”. Bên cạnh đó, người đặt xe còn có thể theo dõi thông tin của tài xế và hành trình chuyến đi. Trong cái thời đại mà nạn bắt cóc khiến người ta không thể tin được ai, thì chính việc theo dõi thông tin này là lợi thế của xe ôm công nghệ. Xe ôm công nghệ gần đây cũng được trang bị tính năng đặt xe hộ người khác, và người đặt tất nhiên có thể theo dõi hành trình chuyến đi để yên tâm hơn.

Những trăn trở của người lái xe ôm

Người tiêu dùng tất nhiên có cái lý của họ. Không ai muốn đi đôi co với một bác xe ôm già sau khi bị bác ấy “chém giá”. Mà chính xe ôm công nghệ lại giải quyết tốt vấn đề này. Ngay khi đặt xe, người đặt đã biết được chính xác giá của chuyến xe mình đi, thậm chí còn được áp dụng mã giảm giá để đi với giá rẻ hơn. Trong khi đó, tình trạng xe ôm truyền thống “hét” giá không hề xa lạ. Sau mỗi chuyến đi, người dùng có thể bị “vòi” thêm một ít tiền với vô vàn lý do. Lúc thì “đường xa quá”, khi thì “hôm nay kẹt xe quá”, để rồi “gửi cho chú thêm một ít”. Dù chỉ vài chục nghìn nhưng sự khó chịu của khách hàng là không thể tránh khỏi khi họ phải trả nhiều hơn thoả thuận ban đầu.

Tuy nhiên, đằng sau sự “chém giá” là những “nỗi khổ” của nghề xe ôm. Nếu tài xế xe công nghệ nhận khách qua sự phân phối của ứng dụng, các chuyến xe nối tiếp nhau, thì tài xế xe ôm truyền thống phải đi ngược trở về điểm đón khách quen thuộc của mình để chờ chuyến tiếp theo. Giá một chuyến xe sẽ gồm cả chiều đi lẫn chiều về, vì vậy giá sẽ “nhỉnh” hơn đôi chút so với giá của xe ôm công nghệ. Hơn nữa, đối với tài xế xe ôm truyền thống, mức giá trên các ứng dụng xe ôm công nghệ bị coi là “phá giá”. Tài xế xe ôm truyền thống không thể nhận chuyến với mức giá như của xe ôm công nghệ, vì theo họ, mức giá như vậy là quá ít và không đủ cho một bữa ăn để có thể tiếp tục chuyến xe tiếp theo.

Một nguyên nhân nữa là sự thiếu hụt tri thức. Thế hệ xe ôm truyền thống còn sót lại hiện nay cũng là nạn nhân của một thời đại cơm không đủ ăn, nước không đủ uống, và tất nhiên họ thiếu đi quyền được tiếp cận giáo dục. Họ không những yếu thế hoàn toàn về kiến thức trường lớp, mà còn thiếu đi kiến thức xã hội, họ không thể tính toán về lợi và hại lâu dài. Những người phải lo bữa nay bữa mai làm sao tính được con đường làm nghề còn dài phía trước. Họ chỉ biết tranh thủ kiếm thêm đồng nào hay đồng ấy, vì bữa cơm hôm nay của họ cũng cần thêm một quả trứng. Suy cho cùng, vấn đề “chém giá” xuất phát từ lẽ này.

Tuổi tác, nghèo khó và khoảng cách với công nghệ

Một nhóm người hoàn toàn yếu thế vì không có kiến thức, vì tuổi tác đã cao, vì nghèo, vì không thể cập nhật các xu hướng xã hội. Họ không thể cạnh tranh nổi với lớp trẻ đang dùng điện thoại thông minh để kiếm tiền, cụ thể là chạy xe ôm công nghệ. Có vài người trong số đó thậm chí còn chưa từng chạm vào một chiếc điện thoại thông minh, thì làm sao họ biết cách dùng nó để đăng ký trở thành xe ôm công nghệ? Hơn nữa, đã gần một đời người chỉ biết nhìn điện thoại đen trắng – hay “cục gạch”, họ cảm thấy điện thoại thông minh có lẽ quá “chói chang”. Thị lực có phần suy giảm cũng ngăn cách họ với đời sống công nghệ.

Hơn nữa, trong số họ, phần lớn cũng đã quá độ tuổi lao động. Chẳng hạn, theo thông tin tuyển dụng từ Grab Việt Nam, độ tuổi đăng ký đối tác tài xế xe máy có giới hạn: từ 18 đến 60 tuổi đối với xe máy, và dưới 65 tuổi đối với xe ô tô. Việc chuyển sang chạy xe công nghệ không phải là lựa chọn khả thi đối với tài xế xe ôm truyền thống lớn tuổi. Ngay cả khi đáp ứng điều kiện về độ tuổi, họ vẫn có thể gặp khó khăn do thiếu tiền mua điện thoại thông minh hoặc chưa quen thao tác với ứng dụng. Vì vậy, không thể xem việc chuyển sang chạy xe công nghệ hay học lái ô tô là giải pháp phù hợp với đối tượng lao động này, họ quá độ tuổi lao động nhưng lại không thể nghỉ ngơi hay dưỡng già.

Một vấn đề khác cho thấy tài xế xe ôm truyền thống đang bị bỏ lại phía sau, đó là chính sách cấm xe máy ở nội thành. Như đã đề cập về đặc trưng đường sá, Việt Nam vốn là một quốc gia “thân thiện” với xe máy. Tuy nhiên, một bộ phận dân cư đã có cuộc sống tốt hơn với những chiếc xe hơi xuất hiện ngày càng phổ biến. Vì mục tiêu “đô thị hiện đại”, xe máy trở thành “kẻ tội đồ của giao thông”, bị coi là phương tiện giao thông lạc hậu, gây nhiều bất tiện trên đường phố. Theo kế hoạch, đến năm 2030, xe máy sẽ bị cấm hoàn toàn ở nội thành thủ đô. Những tài xế xe ôm truyền thống, với thứ vốn duy nhất là cơ thể chưa đến mức rã rời và một chiếc xe máy “cà tàng” làm công cụ, họ sẽ đi đâu, về đâu?

Những nỗ lực bám nghề cuối cùng

Dù khó khăn, thế hệ xe ôm truyền thống vẫn gắng gượng kiếm miếng cơm manh áo. Họ không chọn ăn xin, vì phẩm giá, vì họ tin rằng mình vẫn còn một kế sinh nhai. Không có gì ngoài chiếc xe máy cà tàng, họ chọn “bám” nghề, vì đó là nghề duy nhất mà họ có đủ điều kiện: khả năng và công cụ lao động.

Một lợi thế của xe ôm truyền thống lại liên quan đến tốc độ, nghe thật khó tin, nhưng đó là: chậm. Nếu như tài xế xe ôm công nghệ phải “phóng” thật nhanh để kịp nhận chuyến tiếp theo, thì tài xế xe ôm, với đặc trưng lao động tự do, có thể chạy chậm hơn mà không phải chịu áp lực từ công ty xe ôm công nghệ. Thực chất, tốc độ chậm này cũng đến từ tuổi của người lái và tuổi của chính chiếc xe mà họ chạy. Tuy nhiên, với nhiều người, đây lại là lợi thế. Đó là sự an toàn. Vì vậy, một vài tài xế xe ôm truyền thống ngày nay, nếu may mắn, có thể nhận được những công việc khá đều đặn: chở trẻ em đi học, chở người già, và chở hàng.

Thế nhưng, những công việc thay thế đó cũng chỉ đủ để họ kiếm được bữa ăn ở mức cơ bản. Trong thời đại vật giá ngày càng leo thang nhưng công sức lao động lại không tăng tương xứng, những người còn sót lại của thế hệ xe ôm truyền thống sẽ làm gì để đủ sống? Làm sao để họ có những giây phút thảnh thơi? Làm sao để “không ai bị bỏ lại phía sau”?

Vì sao người lái xe ôm truyền thống cần được bảo vệ?

Có lẽ, sẽ đến một ngày, khi những chiếc xe ôm công nghệ phủ kín các con phố, khi việc gọi một chuyến xe chỉ còn là vài thao tác trên màn hình, chúng ta sẽ dần quên đi hình ảnh những bác xe ôm già ngồi chờ khách dưới mái hiên hay nớigóc phố quen. Thế hệ xe ôm truyền thống còn tồn tại đến ngày nay phần lớn là những người đã ngoài 60 tuổi. Khi thế hệ này qua đi, nghề xe ôm truyền thống có lẽ sẽ biến mất hoàn toàn trong nhịp phát triển chóng mặt của công nghệ.

Vấn đề đặt ra ở đây không phải là bảo tồn nghề xe ôm truyền thống, mà đúng hơn phải là bảo vệ những người lái xe ôm truyền thống không thể theo kịp thời đại. Không phải vì số lượng ít ỏi và thời gian tồn tại ngắn ngủi mà ta lại gạt họ ra khỏi chính sách an sinh xã hội. An sinh xã hội phải bao trùm và linh hoạt, và nhất là không để ai bị bỏ lại phía sau.

Họ là những người không còn nhiểu khả năng lao động, không có cơ hội và khả năng để chuyển đổi nhằm theo kịp tốc độ của cuộc sống hiện đại. Họ thiếu hụt tri thức và yếu kém về sức khoẻ. Những người “dễ bị tổn thương” và không biết cách thoát khỏi hoàn cảnh của mình chính là những đối tượng mà chính sách an sinh xã hội cần hướng đến.

Hơn nữa, bất chấp khó khăn do sức khoẻ bản thân hay do chuyển biến nhanh chóng của xã hội, họ vẫn làm việc chân chính và bằng sức lực của mình để nuôi sống bản thân,để không trở thành gánh nặng cho an sinh xã hội.

Việc hỗ trợ để nhóm đối tượng này thoát ra khỏi khó khăn về kinh tế cũng là để phòng tránh những gánh nặng lớn lao hơn sau này. Những tài xế xe ôm truyền thống chỉ có thể kiếm từng bữa ăn, không có tích luỹ, không có phòng bị lâu dài. Họ cần được hỗ trợ sớm trước khi thật sự không còn khả năng lao động và trở nên phụ thuộc hoàn toàn (mặc dù họ cũng không biết phải phụ thuộc vào cái gì). Điều này có nghĩa là những hỗ trợ trước mắt sẽ giúp họ không rơi vào hoàn cảnh khó khăn cùng cực, phải lao động với điều kiện sức khoẻ yếu kém, và từ đó tạo áp lực lên hệ thống y tế và cộng đồng.

An sinh xã hội và hỗ trợ sinh kế

Một thiệt thòi lớn trong việc tìm khách của xe ôm truyền thống là họ không thể hiện hữu liên tục. Không phải ở góc phố nào cũng có thể bắt gặp được tài xế xe ôm truyền thống. Thậm chí đối với khách quen, nếu không ở vị trí quen thuộc, sẽ rất khó để gọi xe ôm truyền thống. Trong khi đó, người dùng xe ôm công nghệ luôn có sẵn ứng dụng trong điện thoại thông minh, chỉ cần “bật app” là có thể đặt xe. Tuy nhiên, không phải là không có giải pháp cho vấn đề này.

Hãy thử tua lại thời gian về 10-20 năm trước, khi chưa có ứng dụng đặt xe, tại sao chúng ta vẫn gọi được taxi đến đón cho dù không biết tài xế đang ở đâu và cũng không thể liên hệ trực tiếp với họ. Đó là bởi vì xe taxi có tổng đài và một hệ thống điều phối trực thuộc hãng taxi. Phải chăng điều cần thiết cho xe ôm truyền thống hiện nay là một hệ thống tổng đài và điều phối tương tự.

Bên cạnh đó, cần tổ chức các hệ thống điểm đón xe ôm có trật tự, văn minh, và tiện lợi cho khách hàng. Những tụ điểm của những tài xế xe ôm ở cổng chợ, cổng bệnh viện hay bến xe cần có sự quản lý để đảm bảo an toàn cho cả tài xế lẫn hành khách. Các tài xế xe ôm cần phải được quản lý và tổ chức cụ thể để tránh hiện tượng giành chỗ, giành khách. Họ cũng cần phải được hướng dẫn nhiều hơn về dịch vụ khách hàng. Quan trọng, phải cho họ nhìn thấy được tầm quan trọng của làm nghề bền vững, và có niềm tin vào nghề trong tương lai để tránh hiện tượng “chém giá” làm mất khách.

Để thuận tiện cho khách hàng, cần có một hệ thống cập nhật các điểm đón xe, số điện thoại liên lạc và thời gian hoạt động của của tài xế tại điểm đón. Cách này sẽ giúp khách hàng nắm được thông tin của tài xế để đảm bảo an toàn và đồng thời nâng cao mức độ hiện diện của xe ôm truyền thống đối với khách hàng – vốn là hai lợi thế của xe ôm công nghệ. 

Việc đưa những tài xế xe ôm truyền thống đến gần hơn với bảo hiểm xã hội và các hỗ trợ về sinh kế dường như khó khăn hơn, cần sự nỗ lực liên đới của nhiều bên. Đó phải là sự chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương, đến cộng đồng nhỏ hơn để tiếp cận được với số lượng xe ôm truyền thống đang có mặt trên khắp đất nước. Bởi lẽ, đằng sau những người tài xế xe ôm già là… không ai cả. Họ là những người lao động tự do, không thuộc một tổ chức hay một công ty nào. Họ không có được sự bảo vệ từ công đoàn như những người lao động khác.

Thí dụ như người bán vé số, việc hướng dẫn họ tiếp cận với bảo hiểm xã hội sẽ dễ dàng hơn đôi chút, bởi họ có sự ràng buộc nhất định với công ty Xổ số kiến thiết hay với các đại lý nhỏ lẻ hơn. Nhưng người lái xe ôm thì hoàn toàn khác. Hãng xe mà họ đang đi cũng không thể đứng ra làm thủ tục bảo hiểm cho họ, vì những mẫu xe đó đã “quá date” chắc cũng cả thập kỷ hoặc vài thập kỷ, có khi, đó là những mẫu xe chắp vá không thể xác định được nguồn gốc. Tất nhiên rồi, tài xế xe ôm truyền thống chỉ có một chiếc xe để mưu sinh.

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội phải đi liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Việc một nhóm yếu thế như những tài xế xe ôm truyền thống được công nhận, được có quyền và địa vị pháp lý, được tiếp cận với bảo hiểm xã hội là nhằm thúc đẩy công bằng xã hội. Chúng ta cần kiến thiết một cá nhân để kiến thiết một gia đình ấm no và từ đó kiến thiết một xã hội công bằng, văn minh.

Xã hội tiến bộ không bỏ quên những người đi chậm

Chúng ta không thể yêu cầu xã hội ngừng phát triển chỉ để giữ lại một nghề nghiệp cũ. Cũng không thể buộc những người trẻ phải lựa chọn một phương thức di chuyển kém thuận tiện hơn chỉ vì lòng thương cảm. Nhưng giữa những bước tiến của công nghệ, có lẽ điều chúng ta cần tự hỏi là: liệu sự tiện lợi của số đông có nhất thiết phải được đánh đổi bằng sự chật vật của một nhóm người yếu thế? Liệu một xã hội thực sự văn minh chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, hay còn bằng cách nó đối xử với những người không đủ khả năng chạy theo tốc độ ấy?

Đằng sau mỗi bác xe ôm già có thể là một cuộc đời đã dành phần lớn thời gian để mưu sinh trên đường phố, là những tháng ngày dãi nắng dầm mưa để nuôi con, nuôi gia đình, là những năm tháng mà một chiếc xe máy không chỉ là phương tiện kiếm sống, mà còn là chỗ dựa cuối cùng khi tuổi già đã đến mà cuộc sống vẫn chưa cho phép họ nghỉ ngơi.

Những người lái xe ôm truyền thống có thể không còn là một phần nổi bật của những con phố trong tương lai. Nhưng trước khi họ rời đi, họ vẫn là những con người có phẩm giá, có nhu cầu được sống một cuộc đời tử tế và có quyền được đối xử công bằng. Điều họ cần có thể không phải là một ứng dụng mới, một chiếc xe mới hay một nỗ lực níu giữ nghề nghiệp đã cũ, mà là một cơ hội để bước tiếp mà không phải đánh đổi những năm tháng cuối đời trong nỗi lo cơm áo.

Chúng ta thường nói về công nghệ như một bước tiến của nhân loại, hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng tốt đẹp hơn cho ai, nếu vẫn có những người phải chật vật để tồn tại ngay giữa chính thành phố mà họ đã dành cả đời để phục vụ? Và tiến bộ có thực sự trọn vẹn hay không, nếu những người yếu thế nhất luôn là những người phải tự gánh chịu phần lớn cái giá của tiến bộ?

Sau cùng, công bằng không có nghĩa là tất cả mọi người đều phải nhận được những điều giống nhau. Công bằng bắt đầu từ việc chúng ta nhận ra rằng có những người cần được nâng đỡ nhiều hơn, không phải vì họ kém giá trị hơn người khác, mà vì họ có ít cơ hội hơn để tự bảo vệ mình. Và có lẽ, thước đo của một xã hội tiến bộ không chỉ nằm ở việc nó có thể đi nhanh đến đâu, mà còn ở việc nó có sẵn lòng ngoảnh lại, chìa tay ra với những người đang dần bị bỏ lại phía sau hay không.

Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Phẩm giá và công bằng xã hội cho nhóm yếu thế”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.

Lê Minh Châu Anh là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế - Học viện Ngoại giao. Châu Anh quan tâm đến an sinh xã hội, phát triển bền vững và bao trùm.

Từ khoá: người yếu thế xe ôm truyền thống công nghệ cuộc thi viết

BÀI LIÊN QUAN