Lao mình vào bóng tối: Cuộc trò chuyện với Anne Carson
Carson nói về không gian trống rỗng, dịch thuật, sự ngập ngừng, và ngưng đọng thời gian.
Nguồn: Kate Dwyer, Throwing Yourself Into the Dark: A Conversation with Anne Carson, The Paris Review, April 17, 2024.
Người dịch: Huỳnh Tâm Sáng
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Ghi chú của người dịch
Tương tự những ai tò mò về chủ nhân của giải Nobel Văn chương năm nay, tôi tìm hiểu về Anne Carson – nhà thơ, dịch giả, giáo sư người Canada, và bỗng thấy xa lạ vì tôi chưa bao giờ đọc bất kỳ sáng tác hay dịch phẩm nào của bà. Thay vì tìm hiểu tiểu sử, những ngợi ca, hay những khúc quanh xung quanh sự nghiệp của Carson, tôi quan tâm đến triết lý sáng tác, dịch thuật, cùng suy nghĩ của bà về văn chương, nghề viết, và những gì có liên quan. Bản dịch này là kết quả của sự tò mò đó.
Tôi đã phải đánh vật với bài phỏng vấn, và chỉnh sửa bản dịch nhiều lần, vì có những từ, cụm từ, câu mà tác giả sử dụng đầy ẩn ý. Đôi lúc, có những chỗ thật khó diễn đạt bằng tiếng Việt. Có cảm tưởng, phong cách kể chuyện của Carson rất thản nhiên, tĩnh lặng, và mộc mạc, nhưng đầy thâm trầm. Bà bước vào khu vườn ngôn từ với tâm thái khiêm nhường, dạo chơi và tìm trong đó những vẻ-đẹp-tối-giản – miễn sao chúng giúp bà biểu đạt chính xác những gì muốn nói. Có lúc, với cách dùng từ hóm hỉnh, bà đã kéo những nhà thơ cổ vĩ đại xuống ngang hàng với phàm nhân. Nhiều lúc tôi phải đặt mình vào vị trí của bà và cả bối cảnh, thay vì chỉ dựa vào tra cứu và hiểu biết cá nhân. Nếu phải kết lại với chỉ một câu sau khi đọc và dịch bài phỏng vấn, tôi sẽ nói, với Carson, công việc sáng tạo là một hành trình vào bên trong, vào khoảng trống, nơi đủ chỗ cho những thử nghiệm ở trạng thái lơ lửng và ngưng đọng.
Thêm một ý: Những đoạn trong ngoặc vuông là của tôi – người dịch. Tôi đã băn khoăn vì sợ sẽ phá vỡ cái ẩn dụ mà bà rất ưa thích (hơn nữa, người đọc chắc chắn sẽ có cách hiểu của riêng mình, thay vì đồng tình với người dịch), nhưng sau rốt, tôi quyết định giữ lại chúng. Biết đâu bạn đọc sẽ có thêm gợi ý để hiểu hơn về một cá-tính-Anne-Carson. Nếu thấy dài dòng hay không cần thiết, bạn đọc cứ bỏ qua. Lại thêm một ý: Tôi không làm nghề dịch, nên bản dịch chắn chắn có thiếu sót, tôi sẽ rất biết ơn khi bạn đọc chỉ ra các hạn chế, nhất là ở những chỗ có thể làm sai lệch (trong bài, chữ “wrong” theo Carson rất thú vị) ý của bà.
Toàn văn bản dịch
Anne Carson và tôi gặp nhau qua Zoom vào tháng Mười năm ngoái, trong căn phòng khách màu đỏ gạch tại căn hộ của bà ở Reykjavik, thành phố mà bà cùng chồng, Robert Currie, vẫn lui tới lưu trú mỗi năm kể từ năm 2008. Một bối cảnh sân khấu do Ragnar Kjartansson vẽ được dựng tựa vào tường. Bên ngoài cửa sổ là đại dương và khoảng không bao la hoang vu của Iceland. “Nước Mỹ có vẻ quá bừa bộn, về mặt thực vật,” Carson nói. “Cây cối ở khắp mọi nơi, cây mọc um tùm, hoa hoét khắp chốn. Ở đây thì chỉ có sự trống rỗng. Có dung nham, có biển cả. Chỉ có những đường nét. Khoảng trống.”
Khoảng trống ấy chính là một trong những sân chơi sáng tạo của Carson. “Lecture on the History of Skywriting” (Bài giảng về lịch sử của chữ viết trên bầu trời) – tác phẩm trung tâm trong bộ sưu tập mới nhất của bà, Wrong Norma – được kể bởi chính bầu trời, hay nói cách khác là hiện thân của chính không gian. Về mặt hình thức, trong khi các dịch giả khác của Sappho cố gắng lấp đầy những khoảng trống giữa các mảnh thơ vỡ của nhà thơ cổ đại, thì tác phẩm If Not, Winter của Carson lại đánh dấu không gian tiêu cực ấy bằng những dấu ngoặc vuông, nhấn mạnh rằng các câu thơ và khổ thơ đã bị lịch sử làm thất lạc. Carson thường xuyên khám phá sự-vắng-mặt-như-một-sự-hiện-diện: tác phẩm Eros the Bittersweet lập luận rằng khao khát đến từ sự thiếu hụt, trong khi Nox, bài văn tế dành cho người anh trai quá cố Michael của bà, lại tiếc thương cho sự vắng mặt vĩnh viễn của một người vốn đã mất tích khỏi cuộc đời bà từ lâu.
Chúng tôi ở đó để trò chuyện về Wrong Norma, tác phẩm độc lập đầu tiên của Carson sau bảy năm. Bà gọi tập sách này là “một tuyển tập của những mảnh rời rạc, không phải một chỉnh thể nhất quán với một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, các chủ đề chủ đạo, hay một lộ trình bắt buộc cho người đọc”. Dẫu vậy, các hình ảnh, cụm từ và ý niệm vẫn trở đi trở lại: bánh mì, máu, những viên sỏi, một con cáo, những luật sư, giữa lòng tâm tối [trong bài, cụm từ này được viết thường là a heart of darkness nhưng đây là một ẩn ý rõ ràng – nó là tên tiểu thuyết Heart of Darkness của nhà văn Joseph Conrad. Ở đây người dịch giữ tên gọi quen thuộc “giữa lòng tăm tối” như bản dịch tiếng Việt của Nham Hoa, NXB Tao Đàn], John Cage, từ wrong (sai), và ví như, cả những sắc thái khác nhau của sự sai ấy. “Tôi chẳng có nhiều điều để nói đâu,” Carson bộc bạch. Thế nhưng, qua hai cuộc trò chuyện kéo dài hàng giờ đồng hồ, chúng tôi đã tìm thấy biết bao điều để sẻ chia.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Hãy chia sẻ với tôi về “sự sai lệch” (wrongness) trong tựa đề của tập sách Wrong Norma.
ANNE CARSON
Khi mọi người hỏi tôi: “Người Canada khác người Mỹ ở điểm nào?”, tôi thường bảo: “Người Canada có một đặc điểm: họ lịch sự, nhưng sai.” Lúc nào cũng vậy, lịch sự nhưng sai.
Tôi đưa chữ “Wrong” vào tiêu đề, một phần là vì cái tính cách đặc trưng ấy của người Canada. Mặt khác, có một cảm giác mà bạn luôn phải đối mặt trong môi trường học thuật, đó là bạn luôn sai hoặc đang mấp mé bên bờ vực của cái sai, và bạn luôn phải canh cánh lo âu về điều đó. Bởi lẽ, mọi thứ ở nơi ấy quá nặng tính phán xét và thứ bậc. Việc có được biên chế giảng dạy vĩnh viễn phụ thuộc vào chuyện mọi điều bạn thốt ra phải “không được sai”. Vì vậy, đây là một kiểu tâm lý mà tôi muốn triệt tiêu.
Đó cũng là điều mà Simone Weil đã chỉ ra trong một tiểu luận bàn về sự mâu thuẫn, bởi người ta thường thấy sự mâu thuẫn trong các văn bản triết học thật rối rắm, còn bà lại là một chuyên gia về nó. Bà cho rằng mâu thuẫn là một hiện tượng tư duy hữu ích, bởi nó nới lỏng tâm trí. Và một khi tâm trí đã được nới lỏng, bạn mới có thể tiếp tục suy nghĩ về những điều khác, những điều rộng lớn hơn, hoặc những tầng sâu kín bên dưới chỗ bạn từng định vị. Khi ấy, một cảnh quan hoàn toàn khác đột ngột mở ra. Và tôi nghĩ, sự nới lỏng ấy chính là điều mà cái “sai” khơi gợi và mở lối cho ta.
Nhưng biết đâu ngày mai tôi lại nói về sự sai lệch bằng một câu chuyện hoàn toàn khác. Con người là một lăng kính mà, bạn biết đấy, và các khái niệm cứ thế lóe lên từ mặt này sang mặt khác, đổi thay theo từng ngày.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Khi đọc Eros the Bittersweet, tôi đã suy ngẫm về câu ngạn ngữ rằng bạn bè và tình nhân thường “nói cùng một ngôn ngữ.” Tôi không chắc điều đó có đúng không – có vẻ như mỗi người đều nói một thứ ngôn ngữ riêng biệt của chính họ, và luôn có một quá trình dịch thuật không ngừng diễn ra trong các mối quan hệ.
CARSON
Thành thật mà nói, tôi không nghĩ có ai thực sự hiểu được người khác muốn ngụ ý gì khi họ nói. Chuyện đó vượt xa cả biên độ của dịch thuật, nó giống như việc bạn tự lao mình vào bóng tối vậy. Ngôn ngữ là thứ vô cùng, vô cùng cá nhân, riêng tư và kỳ dị. Tôi đoán bạn có thể xem nó [chỉ sự giao tiếp giữa người với người] như một sự dịch thuật, nhưng đó dường như là một phép ẩn dụ mang ý nói giảm nói tránh. Thực tế có lẽ vô vọng hơn thế nhiều. Nhưng nỗ lực lên tiếng của một con người chính là nỗ lực vượt qua sự vô vọng đó trong từng câu nói.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Điều đó có vẻ tương đồng với ý niệm rằng cách một ngôn ngữ diễn đạt một ý tưởng có thể không bao giờ được chuyển dịch trọn vẹn sang một ngôn ngữ khác. Chuyện gì xảy ra trong khoảng không mà bà trú ngụ với tư cách là một dịch giả, ở giữa nguyên tác và bản dịch?
CARSON
Tôi nghĩ về nó như một con mương, một con mương nằm giữa hai con đường hay hai quốc gia. Đối với tôi, trạng thái tâm trí mà một dịch giả chạm tới luôn là một điều thú vị, khi họ có hai ngôn ngữ cùng lúc hiển thị trên màn hình não bộ. Chúng diễn đạt những điều không hoàn toàn tương đương, và cả hai cứ thế lửng lơ ở đó. Một số nhà văn – Emily Dickinson là một minh chứng điển hình – đã tận dụng chính con mương ấy ngay trong ngôn ngữ của mình. Vì vậy, bà không dịch từ một ngôn ngữ khác. Bà đang tự dịch chính mình. Bà viết xuống những câu từ nhất định rồi gạch chúng đi để thay bằng một từ khác, hoặc viết một từ thứ ba bên lề, hoặc lật ngược tờ giấy lại và tạo ra một phiên bản khác cho toàn bộ tác phẩm. Và tất cả chúng cùng tồn tại để tạo nên bài thơ. Đó thực sự là một trạng thái tâm trí vô cùng kỳ lạ, khi để tất cả những điều đó lửng lơ, để cho chúng cứ là như thế, để nó cấu thành nên bài thơ trong toàn bộ chỉnh thể của nó – một chỉnh thể bừa bộn và chưa được định đoạt.
Trong dịch thuật, điều này nảy sinh theo một cách khác, bởi vì bạn có một văn bản, và có lẽ trong đó chứa đựng vài lỗi sai hiển nhiên. Rồi ngay dưới chân trang, lại xuất hiện các dị bản, vốn là những ý kiến của các học giả khác nhau qua nhiều năm nhằm tìm kiếm một cách đọc hợp lý hơn ở những chỗ có vẻ sai lệch. Thế là, một lần nữa, bạn lại có những khả năng này lơ lửng trong tâm trí, cùng chỉ về một thứ, nhưng lại khác nhau. Và chúng, đại loại là, cùng hiện diện ở đó để cấu thành nên bài thơ. Tôi chưa từng biết phải làm gì với điều đó. Thật là một hiện tượng tuyệt đẹp khi có một bài thơ bằng tiếng Hy Lạp với các dị bản bằng tiếng Anh nằm ngay dưới chân trang, và để tất cả chúng lơ lửng như những khả năng về điều mà tác giả thực sự đã nói.
Phần lớn thời gian, tôi không thể truyền tải hết vẻ đẹp đó trên một trang sách, hay trong một thứ được gọi là “bản dịch của x.” Không có khuôn mẫu nào cho việc đó cả. Bạn có thể làm điều đó phần nào trên máy tính với các đường liên kết và những thứ đại loại thế, hoặc các văn bản bên lề. Nhưng về cơ bản, chẳng ai muốn bận tâm đọc tất cả các liên kết đó, và trải nghiệm mang lại chẳng còn được như thế [ý Carson là khi chuyển sang giao diện kỹ thuật số, cảm xúc thẩm mỹ trực tiếp, cái cảm giác thiêng liêng khi đối diện với văn bản cổ đã bị biến chất, không còn giữ được “cái ban đầu” như nó vốn có nữa. Trải nghiệm vừa khác biệt, cảm giác cũng chẳng còn như xưa…]. Với tư cách là một học giả, khi bạn nhìn vào chính trang sách với ngôn ngữ gốc và các dị bản, rồi tất cả chúng cùng lơ lửng trong tâm trí bạn, đó đơn giản là một trải nghiệm tuyệt diệu. Tôi nghĩ, ở những khía cạnh tinh tế nhất, nó là điều bất khả truyền từ.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Còn hành vi sáng tạo một điều gì đó từ vạch xuất phát thì sao? Trải nghiệm đó có mang tính không gian tương tự không?
CARSON
Tôi nghĩ về nó như một điều gì đó hiện lên trong tâm trí, và rồi ta sẽ bận lòng đến nó nếu nó đủ thú vị. Nó giống như việc lần theo một dấu vết hơn, tựa như một con cáo chạy ngang qua sân sau nhà bạn và bạn quyết định đi theo nó để xem liệu mình có thể đến được nơi con cáo sống hay không. Đó đơn giản là lần theo một lối mòn.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Con cáo là một trong những bí ẩn của Wrong Norma. Chú cáo ấy có mang một ý nghĩa hay cảm xúc cố định nào khi bà viết về nó không, hay điều đó lại đổi thay theo từng ngày?
CARSON
Tôi cũng chẳng biết con cáo đó đến từ đâu. Khi ấy tôi đang viết phần giới thiệu kèm theo (liner notes) cho album đĩa than (LP) The Visitors của Ragnar Kjartansson, và tôi cũng đang vẽ phác thảo cùng lúc. Con cáo hiện hình trong bức vẽ, và nó là một chú cáo tuyệt vời đến mức tôi đã nghĩ: “Mình phải đưa con cáo này vào đâu đó mới được,” vì vậy tôi đã đưa hình ảnh chú cáo này vào bài viết cho The Visitors. Đó chỉ là một con cáo tình cờ tự tìm đến, và rồi dường như nó cần được ta bận lòng lột tả.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Làm thế nào để bà bước vào vùng không gian tâm trí sáng tạo nhất của mình?
CARSON
Đôi khi, điều mà tôi viết sau cùng chỉ đơn thuần là diện mạo của ánh sáng. Và dường như có một loại khế ước nào đó đã được lập sẵn giữa tôi và ánh sáng để tôi lột tả – trong cuốn sổ tay này, nơi sẽ chẳng một ai đọc được – rằng ánh sáng hôm nay ra sao, để tìm cho ra những từ ngữ chuẩn xác nhất. Tôi không biết khế ước đó là gì. Nhưng nó dường như là nền tảng cho tất cả những bài viết khác của tôi.
Sau chuyện ánh sáng, chúng ta có thể bàn về mẹ tôi, về món tôi sẽ ăn tối nay, hay thuyết dịch thuật của Proust. Nhưng điều cốt lõi đã khép lại rồi. Ánh sáng mới là điều quan trọng nhất. Đối với tôi, lý do tại sao lại như vậy, hay khế ước đó từ đâu mà đến, vẫn mãi là một bí ẩn.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Trong tác phẩm “Snow” (Tuyết), bà có viết về một điềm báo liên quan đến người nhân viên trực đêm tại khách sạn nơi bà lưu trú một tuần trước khi mẹ bà qua đời. Đó có phải là điều thường xuyên xảy ra với bà không?
CARSON
Đã từng có một lần. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Hermes được gọi là psychopomp (vị thần dẫn dắt linh hồn), nghĩa là khi ai đó sắp lìa đời, ngài sẽ đến bên và đưa lối cho linh hồn họ xuống âm phủ. Vì thế, tôi đã phần nào xếp người nhân viên hành lý ở khách sạn vào hình mẫu của nhân vật đó. Nhưng có một lần, khi Currie và tôi đang trên đường đến dự tang lễ của cha anh ấy, chúng tôi đã cho một người đi nhờ xe ở giữa vùng Michigan, nơi không một bóng người. Có trời mới biết anh ta từ đâu chui ra, bởi xung quanh chỉ có cảnh vật hoang vu và rồi đột nhiên người đàn ông này xuất hiện bên lề đường, trong một bộ âu phục màu xanh biển vô cùng sạch sẽ. Anh ta mặc áo khoác xanh và sơ mi xanh. Trông anh ta phẳng phiu như vừa được là ủi, và khi anh ta bước vào xe, khoang xe bỗng chốc sực nức mùi nước giặt thơm tho, anh ta sạch sẽ đến mức ấy. Chúng tôi cố bắt chuyện, nhưng anh ta không muốn nói. Anh ta muốn đến một thư viện công cộng bên đường cách đó ba thị trấn, nhưng chẳng mảy may tiết lộ mình là ai. Và chúng tôi thả anh ta xuống trước thư viện rồi tiếp tục hành trình. Người đàn ông đó chính là một psychopomp, bởi lúc ấy chúng tôi còn chưa biết cha của Currie đã mất. Hay đúng hơn, lúc đó ông cụ vẫn chưa ra đi. Ông mất vào chính ngày hôm đó. Chúng tôi nghiệm ra rằng người đàn ông kia là dấu hiệu cho thấy có một ai đó đang chuẩn bị bước sang thế giới bên kia. Cho nên chuyện đó quả thực có xảy ra. Nhưng tôi không nghĩ là thường xuyên.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Trong một thời gian dài, bà và Currie đã cùng nhau giảng dạy một lớp học về sự cộng tác trong nghệ thuật tại Đại học New York (NYU) với tên gọi “The Egocircus” (Rạp xiếc của bản ngã). Bà thường đưa ra những dạng bài tập nào cho sinh viên của mình?
CARSON
“Hãy đốt một thứ gì đó, rồi dùng tro của nó” là một trong những đề bài. “Hãy cải tạo một khách sạn” là một đề bài khác. Đôi khi chúng tôi chỉ cho họ đúng ba từ, chẳng hạn như “sailing, butter, death” (hải trình, bơ, cái chết). Và rồi từ đó họ sáng tạo nên các tác phẩm. Không phải chúng tôi cấm đoán hoàn toàn việc viết lách – họ luôn tìm ra cách để đưa câu chữ vào – nhưng chúng tôi khuyến khích họ vận dụng những kỹ năng khác. Họ luôn khám phá ra những điều bản thân có thể làm mà trước đây họ chưa từng nghĩ tới.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà có kỹ năng phi-viết-lách nào dự phần vào quá trình sáng tác của mình không?
CARSON
Vẽ ký họa và vẽ tranh. Tôi sẽ xếp cả bơi lội vào nữa. Và dọn dẹp, tôi là một người dọn dẹp cừ khôi đấy.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Việc bơi lội dự phần thế nào vào hành trình viết lách của bà?
CARSON
Nó giữ cho tôi không bị sầu muộn và gắt gỏng. Đôi khi tôi tư duy ngay trong lúc ở hồ bơi. Nhưng thường thì đó là một ý tưởng tồi. Những ý niệm bạn có được khi ở dưới hồ bơi cũng giống như những ý niệm trong một giấc mơ vậy, nơi bạn chộp được một câu văn có thể giải đáp mọi câu hỏi bạn từng có về thực tại, rồi bạn tỉnh dậy một cách lơ mơ và ghi nó lại, để rồi sáng hôm sau nhìn lại, nó trông như kiểu “hãy đi mua chuối đi” hoặc một điều gì đó hoàn toàn trớt quớt. Thêm nữa là tôi thích nước. Một số người đơn giản là cần phải ở gần nước.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà và Currie đều là những người mộ điệu của John Cage, người luôn bàn về việc triệt tiêu bản ngã khỏi nghệ thuật. Tôi vẫn đang suy ngẫm về câu đề từ của John Cage xuất hiện trong tuyển tập Float năm 2016 của bà – “Mỗi một cái có-gì-đó là một sự tôn vinh dành cho cái hư-vô đang nâng đỡ nó.”
CARSON
Điều đó rất hệ trọng đối với các nhà văn, bởi vì họ thường có một kho tích lũy những ký ức và những lựa chọn, thứ mà họ gọi là cuốn tự truyện của đời mình, và rồi họ cứ thế tái chế nó không ngưng nghỉ trong lúc viết. Bạn buộc phải thoát khỏi lối mòn đó.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Trong thế giới viết lách, đặc biệt là trong và xung quanh các chương trình đào tạo Thạc sĩ Nghệ thuật Sáng tác (M.F.A.), có rất nhiều cuộc thảo luận xoay quanh những khái niệm như “nhân vật” và “điểm nhìn”, tức các cơ chế của cấu trúc tự sự. Bản thân bà có bao giờ nghĩ về “kỹ nghệ viết” theo những thuật ngữ này không?
CARSON
Không bao giờ. Tôi không nghĩ về nó. Tôi cho rằng mọi người nên từ bỏ những thứ đó đi. Hãy cứ suy nghĩ về một điều gì đó và lần theo nó đến tận cùng nơi mà sự thật hiển lộ.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tôi lo ngại rằng – ít nhất là ở Mỹ – hành vi tư duy phản biện đang bị hạ thấp giá trị dưới góc nhìn văn hóa. Ở vị trí của một người hay suy tưởng và đứng lớp giảng dạy, bà có nhận thấy điều đó không?
CARSON
Đó chính là một phần nguyên do khiến tôi bắt đầu suy ngẫm về sự ngập ngừng (hesitation). Những năm cuối cùng còn đứng lớp, khi thì tôi dạy tiếng Hy Lạp cổ, khi lại hướng dẫn viết lách. Thời tôi còn đi học, phương pháp tiếp cận tiếng Hy Lạp cổ là nhìn vào văn bản cổ, xác định những từ chưa biết rồi lật tìm chúng trong từ điển chuyên dụng. Sau đó mới tìm ra nghĩa của từ và ghi chép lại. Việc tra cứu trong một cuốn từ điển như thế là một quá trình tốn thời gian. Và trong quá trình ấy tồn tại một quãng lặng, tựa như một sự mơ màng, một trạng thái lửng lơ của tư duy; nói như vậy không có nghĩa là đầu óc trống rỗng (no thought), bởi lẽ bạn đang mang một câu hỏi về một từ ngữ, bạn giữ chặt câu hỏi đó khi lật giở từng trang sách để tìm kiếm một định nghĩa chuẩn xác, nhưng bạn vẫn chưa thực sự chạm đến cái đích của suy nghĩ. Đó là một kiểu thời gian rất khác, một trạng thái tâm trí rất khác so với bất kỳ khoảnh khắc nào khác trong ngày. Nó vô cùng giá trị, bởi vì chính trong quãng lặng ấy, những biến chuyển trong suy nghĩ và cảm xúc của bạn về từ ngữ mới có cơ hội nảy sinh. Tôi gọi đó là một sự ngập ngừng.
Ngày nay, người ta có toàn bộ văn bản trên máy tính, khi gặp một từ không biết, họ chỉ cần nhấn một nút và ngay lập tức từ đó được cung cấp bởi bất kỳ bộ từ điển nào đã được cài đặt. Thông thường, máy tính sẽ tự động chọn nghĩa phù hợp nhất với ngữ cảnh của đoạn văn để hiển thị, thế là bạn thậm chí còn không biết được lịch sử của từ đó, cũng như mất đi cơ hội được trôi lơ lửng giữa các tầng nghĩa khả dĩ khác của nó.
Việc đánh mất quãng lặng ấy tạo nên một sự khác biệt hoàn toàn trong cách bạn nhìn nhận ngôn ngữ. Quãng lặng ấy để cho bộ não của bạn được nghỉ ngơi trên lối dẫn vào tư duy, bởi vì lúc đó bạn chưa hẳn là đang suy nghĩ. Theo một cách nào đó, nó là một sự hiện diện mang tính vắng mặt (an absent presence), nhưng nó không phải là vầng mây vô tri (the cloud of unknowing) mà các nhà huyền học thường nhắc đến khi họ bảo rằng Chúa là hư vô và ta không thể nói bất cứ điều gì về Chúa, bởi vì việc thốt lên bất cứ điều gì về Chúa sẽ khiến Ngài trở nên cụ thể và bị giới hạn [Các nhà huyền học (mystics) cho rằng bản thể của Thượng Đế là vô hạn, vượt ra ngoài mọi giới hạn của ngôn từ phàm trần. Do đó, chỉ cần ta mở miệng thốt lên bất kỳ một đặc tính nào để mô tả, định nghĩa hoặc biểu đạt về Chúa (ví dụ: Chúa nhân từ, Chúa quyền năng), ta đã vô tình biến Ngài thành một thực thể cụ thể và bị giới hạn, đồng thời rơi vào cái bẫy của việc dùng ngôn từ để định nghĩa cái vô hạn]. Quãng lặng này không phải như vậy – nó nằm trên lối dẫn vào nhận thức (on the way to knowing), vì thế nó lơ lửng trong một niềm tin đại loại thế. Tôi vô cùng luyến tiếc sự mất mát ấy.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà có nghĩ rằng trải nghiệm của chúng ta về thời gian có liên quan đến cách mà chúng ta chú tâm không? Bà có cho rằng một người đọc sách nhiều sẽ trải nghiệm thời gian khác với một người nhìn vào màn hình suốt cả ngày?
CARSON
Điều đó có vẻ như ngầm chứa một sự phán xét. Tôi không chắc nữa. Điều tôi dám chắc là chúng ta luôn tìm kiếm những cách thức để khiến thời gian dừng lại. Điều đó chỉ xảy ra trong những khoảnh khắc của sự chú ý trọn vẹn, và đó là lý do tại sao chúng ta theo đuổi chúng. Tôi cho rằng điều này có thể xảy ra khi bạn xem một bộ phim trên Netflix. Hoặc khi bạn đang chìm sâu vào việc sáng tác bài thơ hay nhất của mình. Cả hai hoạt động ấy đều có thể mang lại một sự tập trung chú ý mà bạn có thể bước vào, và chìm đắm trong đó. Mối bận tâm duy nhất của tôi khi đối diện với thời gian là tìm cách làm cho nó dừng lại. Bởi vì khi nó không dừng lại, bạn sẽ rơi vào sự chán chường.
Bạn đang đứng nhìn thời gian trôi qua, và chẳng có gì diễn ra trong đó đủ để lấp đầy nó. Không có gì đủ để kéo bạn ra khỏi nỗi khốn khổ. Tôi không tìm thấy nhiều khoảng trung dung giữa sự chán chường và cái trạng thái còn lại kia… sự bất tử, tôi đoán thế. Lãng quên thời gian.
Tồn tại bên ngoài thời gian, hiện diện trong trạng thái khác biệt ấy, là một điều hoàn toàn vui sướng. Vui sướng đến mức bạn quên bẵng đi việc phải lo lắng về thời gian.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà có dành ra nhiều giờ đồng hồ liền trong trạng thái đó không?
CARSON
Vài phút thôi, nếu tôi may mắn.
Kate Dwyer là một nhà văn sống tại Brooklyn. Các tác phẩm của cô đã xuất hiện trên tờ New York Times cùng nhiều tạp chí khác.
Nguồn: Kate Dwyer, Throwing Yourself Into the Dark: A Conversation with Anne Carson, The Paris Review, April 17, 2024.
Người dịch: Huỳnh Tâm Sáng
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Ghi chú của người dịch
Tương tự những ai tò mò về chủ nhân của giải Nobel Văn chương năm nay, tôi tìm hiểu về Anne Carson – nhà thơ, dịch giả, giáo sư người Canada, và bỗng thấy xa lạ vì tôi chưa bao giờ đọc bất kỳ sáng tác hay dịch phẩm nào của bà. Thay vì tìm hiểu tiểu sử, những ngợi ca, hay những khúc quanh xung quanh sự nghiệp của Carson, tôi quan tâm đến triết lý sáng tác, dịch thuật, cùng suy nghĩ của bà về văn chương, nghề viết, và những gì có liên quan. Bản dịch này là kết quả của sự tò mò đó.
Tôi đã phải đánh vật với bài phỏng vấn, và chỉnh sửa bản dịch nhiều lần, vì có những từ, cụm từ, câu mà tác giả sử dụng đầy ẩn ý. Đôi lúc, có những chỗ thật khó diễn đạt bằng tiếng Việt. Có cảm tưởng, phong cách kể chuyện của Carson rất thản nhiên, tĩnh lặng, và mộc mạc, nhưng đầy thâm trầm. Bà bước vào khu vườn ngôn từ với tâm thái khiêm nhường, dạo chơi và tìm trong đó những vẻ-đẹp-tối-giản – miễn sao chúng giúp bà biểu đạt chính xác những gì muốn nói. Có lúc, với cách dùng từ hóm hỉnh, bà đã kéo những nhà thơ cổ vĩ đại xuống ngang hàng với phàm nhân. Nhiều lúc tôi phải đặt mình vào vị trí của bà và cả bối cảnh, thay vì chỉ dựa vào tra cứu và hiểu biết cá nhân. Nếu phải kết lại với chỉ một câu sau khi đọc và dịch bài phỏng vấn, tôi sẽ nói, với Carson, công việc sáng tạo là một hành trình vào bên trong, vào khoảng trống, nơi đủ chỗ cho những thử nghiệm ở trạng thái lơ lửng và ngưng đọng.
Thêm một ý: Những đoạn trong ngoặc vuông là của tôi – người dịch. Tôi đã băn khoăn vì sợ sẽ phá vỡ cái ẩn dụ mà bà rất ưa thích (hơn nữa, người đọc chắc chắn sẽ có cách hiểu của riêng mình, thay vì đồng tình với người dịch), nhưng sau rốt, tôi quyết định giữ lại chúng. Biết đâu bạn đọc sẽ có thêm gợi ý để hiểu hơn về một cá-tính-Anne-Carson. Nếu thấy dài dòng hay không cần thiết, bạn đọc cứ bỏ qua. Lại thêm một ý: Tôi không làm nghề dịch, nên bản dịch chắn chắn có thiếu sót, tôi sẽ rất biết ơn khi bạn đọc chỉ ra các hạn chế, nhất là ở những chỗ có thể làm sai lệch (trong bài, chữ “wrong” theo Carson rất thú vị) ý của bà.
Toàn văn bản dịch
Anne Carson và tôi gặp nhau qua Zoom vào tháng Mười năm ngoái, trong căn phòng khách màu đỏ gạch tại căn hộ của bà ở Reykjavik, thành phố mà bà cùng chồng, Robert Currie, vẫn lui tới lưu trú mỗi năm kể từ năm 2008. Một bối cảnh sân khấu do Ragnar Kjartansson vẽ được dựng tựa vào tường. Bên ngoài cửa sổ là đại dương và khoảng không bao la hoang vu của Iceland. “Nước Mỹ có vẻ quá bừa bộn, về mặt thực vật,” Carson nói. “Cây cối ở khắp mọi nơi, cây mọc um tùm, hoa hoét khắp chốn. Ở đây thì chỉ có sự trống rỗng. Có dung nham, có biển cả. Chỉ có những đường nét. Khoảng trống.”
Khoảng trống ấy chính là một trong những sân chơi sáng tạo của Carson. “Lecture on the History of Skywriting” (Bài giảng về lịch sử của chữ viết trên bầu trời) – tác phẩm trung tâm trong bộ sưu tập mới nhất của bà, Wrong Norma – được kể bởi chính bầu trời, hay nói cách khác là hiện thân của chính không gian. Về mặt hình thức, trong khi các dịch giả khác của Sappho cố gắng lấp đầy những khoảng trống giữa các mảnh thơ vỡ của nhà thơ cổ đại, thì tác phẩm If Not, Winter của Carson lại đánh dấu không gian tiêu cực ấy bằng những dấu ngoặc vuông, nhấn mạnh rằng các câu thơ và khổ thơ đã bị lịch sử làm thất lạc. Carson thường xuyên khám phá sự-vắng-mặt-như-một-sự-hiện-diện: tác phẩm Eros the Bittersweet lập luận rằng khao khát đến từ sự thiếu hụt, trong khi Nox, bài văn tế dành cho người anh trai quá cố Michael của bà, lại tiếc thương cho sự vắng mặt vĩnh viễn của một người vốn đã mất tích khỏi cuộc đời bà từ lâu.
Chúng tôi ở đó để trò chuyện về Wrong Norma, tác phẩm độc lập đầu tiên của Carson sau bảy năm. Bà gọi tập sách này là “một tuyển tập của những mảnh rời rạc, không phải một chỉnh thể nhất quán với một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, các chủ đề chủ đạo, hay một lộ trình bắt buộc cho người đọc”. Dẫu vậy, các hình ảnh, cụm từ và ý niệm vẫn trở đi trở lại: bánh mì, máu, những viên sỏi, một con cáo, những luật sư, giữa lòng tâm tối [trong bài, cụm từ này được viết thường là a heart of darkness nhưng đây là một ẩn ý rõ ràng – nó là tên tiểu thuyết Heart of Darkness của nhà văn Joseph Conrad. Ở đây người dịch giữ tên gọi quen thuộc “giữa lòng tăm tối” như bản dịch tiếng Việt của Nham Hoa, NXB Tao Đàn], John Cage, từ wrong (sai), và ví như, cả những sắc thái khác nhau của sự sai ấy. “Tôi chẳng có nhiều điều để nói đâu,” Carson bộc bạch. Thế nhưng, qua hai cuộc trò chuyện kéo dài hàng giờ đồng hồ, chúng tôi đã tìm thấy biết bao điều để sẻ chia.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Hãy chia sẻ với tôi về “sự sai lệch” (wrongness) trong tựa đề của tập sách Wrong Norma.
ANNE CARSON
Khi mọi người hỏi tôi: “Người Canada khác người Mỹ ở điểm nào?”, tôi thường bảo: “Người Canada có một đặc điểm: họ lịch sự, nhưng sai.” Lúc nào cũng vậy, lịch sự nhưng sai.
Tôi đưa chữ “Wrong” vào tiêu đề, một phần là vì cái tính cách đặc trưng ấy của người Canada. Mặt khác, có một cảm giác mà bạn luôn phải đối mặt trong môi trường học thuật, đó là bạn luôn sai hoặc đang mấp mé bên bờ vực của cái sai, và bạn luôn phải canh cánh lo âu về điều đó. Bởi lẽ, mọi thứ ở nơi ấy quá nặng tính phán xét và thứ bậc. Việc có được biên chế giảng dạy vĩnh viễn phụ thuộc vào chuyện mọi điều bạn thốt ra phải “không được sai”. Vì vậy, đây là một kiểu tâm lý mà tôi muốn triệt tiêu.
Đó cũng là điều mà Simone Weil đã chỉ ra trong một tiểu luận bàn về sự mâu thuẫn, bởi người ta thường thấy sự mâu thuẫn trong các văn bản triết học thật rối rắm, còn bà lại là một chuyên gia về nó. Bà cho rằng mâu thuẫn là một hiện tượng tư duy hữu ích, bởi nó nới lỏng tâm trí. Và một khi tâm trí đã được nới lỏng, bạn mới có thể tiếp tục suy nghĩ về những điều khác, những điều rộng lớn hơn, hoặc những tầng sâu kín bên dưới chỗ bạn từng định vị. Khi ấy, một cảnh quan hoàn toàn khác đột ngột mở ra. Và tôi nghĩ, sự nới lỏng ấy chính là điều mà cái “sai” khơi gợi và mở lối cho ta.
Nhưng biết đâu ngày mai tôi lại nói về sự sai lệch bằng một câu chuyện hoàn toàn khác. Con người là một lăng kính mà, bạn biết đấy, và các khái niệm cứ thế lóe lên từ mặt này sang mặt khác, đổi thay theo từng ngày.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Khi đọc Eros the Bittersweet, tôi đã suy ngẫm về câu ngạn ngữ rằng bạn bè và tình nhân thường “nói cùng một ngôn ngữ.” Tôi không chắc điều đó có đúng không – có vẻ như mỗi người đều nói một thứ ngôn ngữ riêng biệt của chính họ, và luôn có một quá trình dịch thuật không ngừng diễn ra trong các mối quan hệ.
CARSON
Thành thật mà nói, tôi không nghĩ có ai thực sự hiểu được người khác muốn ngụ ý gì khi họ nói. Chuyện đó vượt xa cả biên độ của dịch thuật, nó giống như việc bạn tự lao mình vào bóng tối vậy. Ngôn ngữ là thứ vô cùng, vô cùng cá nhân, riêng tư và kỳ dị. Tôi đoán bạn có thể xem nó [chỉ sự giao tiếp giữa người với người] như một sự dịch thuật, nhưng đó dường như là một phép ẩn dụ mang ý nói giảm nói tránh. Thực tế có lẽ vô vọng hơn thế nhiều. Nhưng nỗ lực lên tiếng của một con người chính là nỗ lực vượt qua sự vô vọng đó trong từng câu nói.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Điều đó có vẻ tương đồng với ý niệm rằng cách một ngôn ngữ diễn đạt một ý tưởng có thể không bao giờ được chuyển dịch trọn vẹn sang một ngôn ngữ khác. Chuyện gì xảy ra trong khoảng không mà bà trú ngụ với tư cách là một dịch giả, ở giữa nguyên tác và bản dịch?
CARSON
Tôi nghĩ về nó như một con mương, một con mương nằm giữa hai con đường hay hai quốc gia. Đối với tôi, trạng thái tâm trí mà một dịch giả chạm tới luôn là một điều thú vị, khi họ có hai ngôn ngữ cùng lúc hiển thị trên màn hình não bộ. Chúng diễn đạt những điều không hoàn toàn tương đương, và cả hai cứ thế lửng lơ ở đó. Một số nhà văn – Emily Dickinson là một minh chứng điển hình – đã tận dụng chính con mương ấy ngay trong ngôn ngữ của mình. Vì vậy, bà không dịch từ một ngôn ngữ khác. Bà đang tự dịch chính mình. Bà viết xuống những câu từ nhất định rồi gạch chúng đi để thay bằng một từ khác, hoặc viết một từ thứ ba bên lề, hoặc lật ngược tờ giấy lại và tạo ra một phiên bản khác cho toàn bộ tác phẩm. Và tất cả chúng cùng tồn tại để tạo nên bài thơ. Đó thực sự là một trạng thái tâm trí vô cùng kỳ lạ, khi để tất cả những điều đó lửng lơ, để cho chúng cứ là như thế, để nó cấu thành nên bài thơ trong toàn bộ chỉnh thể của nó – một chỉnh thể bừa bộn và chưa được định đoạt.
Trong dịch thuật, điều này nảy sinh theo một cách khác, bởi vì bạn có một văn bản, và có lẽ trong đó chứa đựng vài lỗi sai hiển nhiên. Rồi ngay dưới chân trang, lại xuất hiện các dị bản, vốn là những ý kiến của các học giả khác nhau qua nhiều năm nhằm tìm kiếm một cách đọc hợp lý hơn ở những chỗ có vẻ sai lệch. Thế là, một lần nữa, bạn lại có những khả năng này lơ lửng trong tâm trí, cùng chỉ về một thứ, nhưng lại khác nhau. Và chúng, đại loại là, cùng hiện diện ở đó để cấu thành nên bài thơ. Tôi chưa từng biết phải làm gì với điều đó. Thật là một hiện tượng tuyệt đẹp khi có một bài thơ bằng tiếng Hy Lạp với các dị bản bằng tiếng Anh nằm ngay dưới chân trang, và để tất cả chúng lơ lửng như những khả năng về điều mà tác giả thực sự đã nói.
Phần lớn thời gian, tôi không thể truyền tải hết vẻ đẹp đó trên một trang sách, hay trong một thứ được gọi là “bản dịch của x.” Không có khuôn mẫu nào cho việc đó cả. Bạn có thể làm điều đó phần nào trên máy tính với các đường liên kết và những thứ đại loại thế, hoặc các văn bản bên lề. Nhưng về cơ bản, chẳng ai muốn bận tâm đọc tất cả các liên kết đó, và trải nghiệm mang lại chẳng còn được như thế [ý Carson là khi chuyển sang giao diện kỹ thuật số, cảm xúc thẩm mỹ trực tiếp, cái cảm giác thiêng liêng khi đối diện với văn bản cổ đã bị biến chất, không còn giữ được “cái ban đầu” như nó vốn có nữa. Trải nghiệm vừa khác biệt, cảm giác cũng chẳng còn như xưa…]. Với tư cách là một học giả, khi bạn nhìn vào chính trang sách với ngôn ngữ gốc và các dị bản, rồi tất cả chúng cùng lơ lửng trong tâm trí bạn, đó đơn giản là một trải nghiệm tuyệt diệu. Tôi nghĩ, ở những khía cạnh tinh tế nhất, nó là điều bất khả truyền từ.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Còn hành vi sáng tạo một điều gì đó từ vạch xuất phát thì sao? Trải nghiệm đó có mang tính không gian tương tự không?
CARSON
Tôi nghĩ về nó như một điều gì đó hiện lên trong tâm trí, và rồi ta sẽ bận lòng đến nó nếu nó đủ thú vị. Nó giống như việc lần theo một dấu vết hơn, tựa như một con cáo chạy ngang qua sân sau nhà bạn và bạn quyết định đi theo nó để xem liệu mình có thể đến được nơi con cáo sống hay không. Đó đơn giản là lần theo một lối mòn.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Con cáo là một trong những bí ẩn của Wrong Norma. Chú cáo ấy có mang một ý nghĩa hay cảm xúc cố định nào khi bà viết về nó không, hay điều đó lại đổi thay theo từng ngày?
CARSON
Tôi cũng chẳng biết con cáo đó đến từ đâu. Khi ấy tôi đang viết phần giới thiệu kèm theo (liner notes) cho album đĩa than (LP) The Visitors của Ragnar Kjartansson, và tôi cũng đang vẽ phác thảo cùng lúc. Con cáo hiện hình trong bức vẽ, và nó là một chú cáo tuyệt vời đến mức tôi đã nghĩ: “Mình phải đưa con cáo này vào đâu đó mới được,” vì vậy tôi đã đưa hình ảnh chú cáo này vào bài viết cho The Visitors. Đó chỉ là một con cáo tình cờ tự tìm đến, và rồi dường như nó cần được ta bận lòng lột tả.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Làm thế nào để bà bước vào vùng không gian tâm trí sáng tạo nhất của mình?
CARSON
Đôi khi, điều mà tôi viết sau cùng chỉ đơn thuần là diện mạo của ánh sáng. Và dường như có một loại khế ước nào đó đã được lập sẵn giữa tôi và ánh sáng để tôi lột tả – trong cuốn sổ tay này, nơi sẽ chẳng một ai đọc được – rằng ánh sáng hôm nay ra sao, để tìm cho ra những từ ngữ chuẩn xác nhất. Tôi không biết khế ước đó là gì. Nhưng nó dường như là nền tảng cho tất cả những bài viết khác của tôi.
Sau chuyện ánh sáng, chúng ta có thể bàn về mẹ tôi, về món tôi sẽ ăn tối nay, hay thuyết dịch thuật của Proust. Nhưng điều cốt lõi đã khép lại rồi. Ánh sáng mới là điều quan trọng nhất. Đối với tôi, lý do tại sao lại như vậy, hay khế ước đó từ đâu mà đến, vẫn mãi là một bí ẩn.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Trong tác phẩm “Snow” (Tuyết), bà có viết về một điềm báo liên quan đến người nhân viên trực đêm tại khách sạn nơi bà lưu trú một tuần trước khi mẹ bà qua đời. Đó có phải là điều thường xuyên xảy ra với bà không?
CARSON
Đã từng có một lần. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Hermes được gọi là psychopomp (vị thần dẫn dắt linh hồn), nghĩa là khi ai đó sắp lìa đời, ngài sẽ đến bên và đưa lối cho linh hồn họ xuống âm phủ. Vì thế, tôi đã phần nào xếp người nhân viên hành lý ở khách sạn vào hình mẫu của nhân vật đó. Nhưng có một lần, khi Currie và tôi đang trên đường đến dự tang lễ của cha anh ấy, chúng tôi đã cho một người đi nhờ xe ở giữa vùng Michigan, nơi không một bóng người. Có trời mới biết anh ta từ đâu chui ra, bởi xung quanh chỉ có cảnh vật hoang vu và rồi đột nhiên người đàn ông này xuất hiện bên lề đường, trong một bộ âu phục màu xanh biển vô cùng sạch sẽ. Anh ta mặc áo khoác xanh và sơ mi xanh. Trông anh ta phẳng phiu như vừa được là ủi, và khi anh ta bước vào xe, khoang xe bỗng chốc sực nức mùi nước giặt thơm tho, anh ta sạch sẽ đến mức ấy. Chúng tôi cố bắt chuyện, nhưng anh ta không muốn nói. Anh ta muốn đến một thư viện công cộng bên đường cách đó ba thị trấn, nhưng chẳng mảy may tiết lộ mình là ai. Và chúng tôi thả anh ta xuống trước thư viện rồi tiếp tục hành trình. Người đàn ông đó chính là một psychopomp, bởi lúc ấy chúng tôi còn chưa biết cha của Currie đã mất. Hay đúng hơn, lúc đó ông cụ vẫn chưa ra đi. Ông mất vào chính ngày hôm đó. Chúng tôi nghiệm ra rằng người đàn ông kia là dấu hiệu cho thấy có một ai đó đang chuẩn bị bước sang thế giới bên kia. Cho nên chuyện đó quả thực có xảy ra. Nhưng tôi không nghĩ là thường xuyên.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Trong một thời gian dài, bà và Currie đã cùng nhau giảng dạy một lớp học về sự cộng tác trong nghệ thuật tại Đại học New York (NYU) với tên gọi “The Egocircus” (Rạp xiếc của bản ngã). Bà thường đưa ra những dạng bài tập nào cho sinh viên của mình?
CARSON
“Hãy đốt một thứ gì đó, rồi dùng tro của nó” là một trong những đề bài. “Hãy cải tạo một khách sạn” là một đề bài khác. Đôi khi chúng tôi chỉ cho họ đúng ba từ, chẳng hạn như “sailing, butter, death” (hải trình, bơ, cái chết). Và rồi từ đó họ sáng tạo nên các tác phẩm. Không phải chúng tôi cấm đoán hoàn toàn việc viết lách – họ luôn tìm ra cách để đưa câu chữ vào – nhưng chúng tôi khuyến khích họ vận dụng những kỹ năng khác. Họ luôn khám phá ra những điều bản thân có thể làm mà trước đây họ chưa từng nghĩ tới.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà có kỹ năng phi-viết-lách nào dự phần vào quá trình sáng tác của mình không?
CARSON
Vẽ ký họa và vẽ tranh. Tôi sẽ xếp cả bơi lội vào nữa. Và dọn dẹp, tôi là một người dọn dẹp cừ khôi đấy.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Việc bơi lội dự phần thế nào vào hành trình viết lách của bà?
CARSON
Nó giữ cho tôi không bị sầu muộn và gắt gỏng. Đôi khi tôi tư duy ngay trong lúc ở hồ bơi. Nhưng thường thì đó là một ý tưởng tồi. Những ý niệm bạn có được khi ở dưới hồ bơi cũng giống như những ý niệm trong một giấc mơ vậy, nơi bạn chộp được một câu văn có thể giải đáp mọi câu hỏi bạn từng có về thực tại, rồi bạn tỉnh dậy một cách lơ mơ và ghi nó lại, để rồi sáng hôm sau nhìn lại, nó trông như kiểu “hãy đi mua chuối đi” hoặc một điều gì đó hoàn toàn trớt quớt. Thêm nữa là tôi thích nước. Một số người đơn giản là cần phải ở gần nước.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà và Currie đều là những người mộ điệu của John Cage, người luôn bàn về việc triệt tiêu bản ngã khỏi nghệ thuật. Tôi vẫn đang suy ngẫm về câu đề từ của John Cage xuất hiện trong tuyển tập Float năm 2016 của bà – “Mỗi một cái có-gì-đó là một sự tôn vinh dành cho cái hư-vô đang nâng đỡ nó.”
CARSON
Điều đó rất hệ trọng đối với các nhà văn, bởi vì họ thường có một kho tích lũy những ký ức và những lựa chọn, thứ mà họ gọi là cuốn tự truyện của đời mình, và rồi họ cứ thế tái chế nó không ngưng nghỉ trong lúc viết. Bạn buộc phải thoát khỏi lối mòn đó.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Trong thế giới viết lách, đặc biệt là trong và xung quanh các chương trình đào tạo Thạc sĩ Nghệ thuật Sáng tác (M.F.A.), có rất nhiều cuộc thảo luận xoay quanh những khái niệm như “nhân vật” và “điểm nhìn”, tức các cơ chế của cấu trúc tự sự. Bản thân bà có bao giờ nghĩ về “kỹ nghệ viết” theo những thuật ngữ này không?
CARSON
Không bao giờ. Tôi không nghĩ về nó. Tôi cho rằng mọi người nên từ bỏ những thứ đó đi. Hãy cứ suy nghĩ về một điều gì đó và lần theo nó đến tận cùng nơi mà sự thật hiển lộ.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tôi lo ngại rằng – ít nhất là ở Mỹ – hành vi tư duy phản biện đang bị hạ thấp giá trị dưới góc nhìn văn hóa. Ở vị trí của một người hay suy tưởng và đứng lớp giảng dạy, bà có nhận thấy điều đó không?
CARSON
Đó chính là một phần nguyên do khiến tôi bắt đầu suy ngẫm về sự ngập ngừng (hesitation). Những năm cuối cùng còn đứng lớp, khi thì tôi dạy tiếng Hy Lạp cổ, khi lại hướng dẫn viết lách. Thời tôi còn đi học, phương pháp tiếp cận tiếng Hy Lạp cổ là nhìn vào văn bản cổ, xác định những từ chưa biết rồi lật tìm chúng trong từ điển chuyên dụng. Sau đó mới tìm ra nghĩa của từ và ghi chép lại. Việc tra cứu trong một cuốn từ điển như thế là một quá trình tốn thời gian. Và trong quá trình ấy tồn tại một quãng lặng, tựa như một sự mơ màng, một trạng thái lửng lơ của tư duy; nói như vậy không có nghĩa là đầu óc trống rỗng (no thought), bởi lẽ bạn đang mang một câu hỏi về một từ ngữ, bạn giữ chặt câu hỏi đó khi lật giở từng trang sách để tìm kiếm một định nghĩa chuẩn xác, nhưng bạn vẫn chưa thực sự chạm đến cái đích của suy nghĩ. Đó là một kiểu thời gian rất khác, một trạng thái tâm trí rất khác so với bất kỳ khoảnh khắc nào khác trong ngày. Nó vô cùng giá trị, bởi vì chính trong quãng lặng ấy, những biến chuyển trong suy nghĩ và cảm xúc của bạn về từ ngữ mới có cơ hội nảy sinh. Tôi gọi đó là một sự ngập ngừng.
Ngày nay, người ta có toàn bộ văn bản trên máy tính, khi gặp một từ không biết, họ chỉ cần nhấn một nút và ngay lập tức từ đó được cung cấp bởi bất kỳ bộ từ điển nào đã được cài đặt. Thông thường, máy tính sẽ tự động chọn nghĩa phù hợp nhất với ngữ cảnh của đoạn văn để hiển thị, thế là bạn thậm chí còn không biết được lịch sử của từ đó, cũng như mất đi cơ hội được trôi lơ lửng giữa các tầng nghĩa khả dĩ khác của nó.
Việc đánh mất quãng lặng ấy tạo nên một sự khác biệt hoàn toàn trong cách bạn nhìn nhận ngôn ngữ. Quãng lặng ấy để cho bộ não của bạn được nghỉ ngơi trên lối dẫn vào tư duy, bởi vì lúc đó bạn chưa hẳn là đang suy nghĩ. Theo một cách nào đó, nó là một sự hiện diện mang tính vắng mặt (an absent presence), nhưng nó không phải là vầng mây vô tri (the cloud of unknowing) mà các nhà huyền học thường nhắc đến khi họ bảo rằng Chúa là hư vô và ta không thể nói bất cứ điều gì về Chúa, bởi vì việc thốt lên bất cứ điều gì về Chúa sẽ khiến Ngài trở nên cụ thể và bị giới hạn [Các nhà huyền học (mystics) cho rằng bản thể của Thượng Đế là vô hạn, vượt ra ngoài mọi giới hạn của ngôn từ phàm trần. Do đó, chỉ cần ta mở miệng thốt lên bất kỳ một đặc tính nào để mô tả, định nghĩa hoặc biểu đạt về Chúa (ví dụ: Chúa nhân từ, Chúa quyền năng), ta đã vô tình biến Ngài thành một thực thể cụ thể và bị giới hạn, đồng thời rơi vào cái bẫy của việc dùng ngôn từ để định nghĩa cái vô hạn]. Quãng lặng này không phải như vậy – nó nằm trên lối dẫn vào nhận thức (on the way to knowing), vì thế nó lơ lửng trong một niềm tin đại loại thế. Tôi vô cùng luyến tiếc sự mất mát ấy.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà có nghĩ rằng trải nghiệm của chúng ta về thời gian có liên quan đến cách mà chúng ta chú tâm không? Bà có cho rằng một người đọc sách nhiều sẽ trải nghiệm thời gian khác với một người nhìn vào màn hình suốt cả ngày?
CARSON
Điều đó có vẻ như ngầm chứa một sự phán xét. Tôi không chắc nữa. Điều tôi dám chắc là chúng ta luôn tìm kiếm những cách thức để khiến thời gian dừng lại. Điều đó chỉ xảy ra trong những khoảnh khắc của sự chú ý trọn vẹn, và đó là lý do tại sao chúng ta theo đuổi chúng. Tôi cho rằng điều này có thể xảy ra khi bạn xem một bộ phim trên Netflix. Hoặc khi bạn đang chìm sâu vào việc sáng tác bài thơ hay nhất của mình. Cả hai hoạt động ấy đều có thể mang lại một sự tập trung chú ý mà bạn có thể bước vào, và chìm đắm trong đó. Mối bận tâm duy nhất của tôi khi đối diện với thời gian là tìm cách làm cho nó dừng lại. Bởi vì khi nó không dừng lại, bạn sẽ rơi vào sự chán chường.
Bạn đang đứng nhìn thời gian trôi qua, và chẳng có gì diễn ra trong đó đủ để lấp đầy nó. Không có gì đủ để kéo bạn ra khỏi nỗi khốn khổ. Tôi không tìm thấy nhiều khoảng trung dung giữa sự chán chường và cái trạng thái còn lại kia… sự bất tử, tôi đoán thế. Lãng quên thời gian.
Tồn tại bên ngoài thời gian, hiện diện trong trạng thái khác biệt ấy, là một điều hoàn toàn vui sướng. Vui sướng đến mức bạn quên bẵng đi việc phải lo lắng về thời gian.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Bà có dành ra nhiều giờ đồng hồ liền trong trạng thái đó không?
CARSON
Vài phút thôi, nếu tôi may mắn.
Kate Dwyer là một nhà văn sống tại Brooklyn. Các tác phẩm của cô đã xuất hiện trên tờ New York Times cùng nhiều tạp chí khác.
Từ khoá: Anne Carson Nobel Văn chương