Một người bình thường
Hà Nội, Lyon, miếng ăn, một vài kiểu văn hóa.
Đến gần đây tôi mới chấp nhận là 3 năm qua ở Pháp tôi bị trầm cảm, tôi vẫn đi học, đi làm và giao lưu bạn bè nhưng cái gì cũng ở ngưỡng nửa chừng, không có gì đặc biệt khiến mình thấy gắn bó sâu sắc. Sau này tôi nhận ra đó là do mình đã mất quá lâu để tìm lại được cái cảm giác cộng đồng ngày tháng lớn lên ở Hà Nội. Tôi ra đầu ngõ ăn sáng, đi cà phê học bài với bạn, đi nghe nhạc, sinh hoạt hội nhóm với trường lớp. Tiện ích luôn ở gần, muốn gì có nấy, lớn lên chỉ nghĩ chăm học là cái gì cũng sẽ làm ra được. Sang Pháp, tôi nhận ra rằng mình không thể sống dựa dẫm vào món tiền ăn tiêu bố mẹ gửi cho nữa, cơ bản là nó chẳng đủ cho những thú vui đời thường nhất. Thế là tôi bắt đầu đi làm những công việc nhà hàng mà ở đó những người đồng nghiệp của tôi đều đâu đó trạc tuổi mình và đang đi học.
Lớn lên giữa lòng thủ đô, được bố mẹ cho học thêm thầy cô giỏi, học năng khiếu rồi định hướng đi du học, tôi sống sung sướng hơn phần lớn những người đồng trang lứa. Đó là cái mà tôi đã không thể nhận ra được khi còn ở Hà Nội, vì xung quanh tôi là một cái vòng tròn rất bé của những người có điều kiện hơn trong cả một cộng đồng rất lớn. Cái vòng tròn đó khiến chúng tôi hay đùa về việc hơn thua nhau từ chuyện nhà bố mẹ người này có xe hơi còn người kia ở chung cư Vinhomes.
Ở Lyon, tôi đi làm cùng những bạn từ thành phố nhỏ lên, thậm chí là từ những làng. Tôi giống họ ở chỗ chúng tôi đều từ một không gian văn hoá khác, phải học cách làm quen, thích nghi và sinh tồn. Điểm khác của chúng tôi thì không chỉ nằm ở màu da, mà về khác biệt giai cấp, rất rõ ràng. Cách tôi nhận sự đối xử từ những người Pháp hay những người Maghrebi rất khác so với những người châu Á khác sang đây với mục đích xuất khẩu lao động. Nó nằm ở cách một người ăn mặc, nói chuyện, tận dụng vốn sống. Tôi được dạy tiêu tiền vào những sản phẩm văn hóa “cao”, nói theo kiểu bài trừ những thú vui phàm thường theo kiểu truyện tranh hay trò chơi điện tử.
Tôi lớn lên với rất ít ỏi những kí nhớ về món đồ chơi yêu thích, vì hình như tôi có rất ít. Mẹ muốn tôi đọc sách văn, chơi đàn và giao lưu với “đúng người”. Thế giới của tôi suốt từng ấy năm đầu trước khi vào đời thành ra khá hẹp hòi. Tôi ăn ngon, mặc sạch vì đó là tiêu chuẩn cho khuôn mẫu tồn tại. Nếu tôi ăn thiếu một bữa, tôi sẽ bỗng thấy lo âu vô cùng vì hình như mình làm gì đó sai, không phải sai cho sức khỏe bản thân mà sai cho cái lối ăn vận đã bào mòn tâm trí. Ở đây tôi chẳng dư dả gì, nhưng vì cái nỗi sợ đó, một kiểu tự ti sĩ diện rất lớn của những người tuột dốc trong bậc thang xã hội, tôi dùng tiền ăn hàng mỗi khi có người rủ rê, hay thậm chí chẳng ai rủ mà tôi thấy chán miệng thì đi. Nói vậy không nhằm hạ thấp thú vui ăn uống, vì bản chất nó vẫn rất đẹp, rất con người. Ăn thì mới sống được, ăn ngon mới sống vui được. Thấy được món lạ thành món ngon là tới gần hơn tới cái văn hóa mà mình cho là lạ đó. Người bình thường mất bao lâu để thích được món phô mai xanh? Đó là quan sát rất tầm thường của tôi về việc sống giữa văn hóa phương Tây với tư cách là một người Việt, một cộng đồng thiểu số nhưng đang lớn dần, có lẽ vì những người giỏi không còn thấy cơ hội xứng đáng cho họ ở nhà, những gia đình có điều kiện đều muốn gửi gắm con em rời khỏi tổ quốc, hay có lẽ vì người lao động không còn được trân trọng bởi chính nhà nước của mình.
Tôi không còn nấu cơm nữa, cắm cơm mất 40 phút trong khi luộc mì Ý thì còn chưa tới 10 phút, hay 14 phút nếu là thứ mì ngon. Tôi đi làm về nhiều khi gần khuya, về nhà tiện thì ôn bài không thì ăn lẹ rồi đi ngủ. Ngày còn ở nhà, bà ngoại tôi nấu cơm từ chiều, tôi học về là có cơm nóng hổi với canh rau thịt cá đủ cả. Những tối học thêm từ 7 giờ thì tôi ăn cơm từ 5 giờ. Giờ giấc đảo lộn hoàn toàn khi tôi bước sang môi trường mới này. Chẳng ai bắt tôi tới trường vào thứ Bảy cả, chẳng ai bắt tôi phải học thêm ba, bốn lớp phụ để theo kịp những thứ trên trường cả. Vậy mà đầu óc tôi cứ rối tung suốt ngày, vì tôi không được dạy phải chủ động bắt tay vào làm thứ gì đó.
Tôi nhìn lại về danh tính Việt ấy, thứ để bản thân tôi bị lề hóa khi sống trong xã hội phương Tây ấy. Tôi không tìm thấy được cảm giác cộng đồng ngay cả khi ở giữa những người Việt, chúng tôi rất giống nhau mà lại rất khác. Tất cả những người tôi quen ở đây đều thoai thoải một nỗi nhớ nhà, thế nhưng ít người có thể nói rằng họ chỉ muốn quay về Việt Nam và sống ở đó suốt phần đời còn lại. Việt Nam đang phát triển vô cùng mạnh mẽ mà rất tiếc là mọi sự tiện nghi phía trước sẽ không thể ưu ái cho số đông chúng ta. Tình yêu sâu sắc của những người xa xứ chỉ có thể dừng lại ở những món cơm quen, dăm bữa nửa tháng tới Phở 69 ở Guillotière và lướt Threads để theo dõi những tin tức mà chỉ có thứ xảy ra vào ngày mai mới có thể tồi tệ hơn. Đó là sự thụ động bám rễ trong tư tưởng chúng ta, rằng mình chịu thiệt quen rồi, mới nửa thế kỉ trước đất nước còn phải gây dựng lại từ đống đổ nát cơ mà? Sự bị động đó kéo dài từ những người thiệt thòi nhất tới những người ít thiệt thòi hơn, như tôi chẳng hạn, vì chúng tôi bị ảo tưởng rằng mình có đủ.
Tôi có dịp đi Ý vào mùa hè này. Đứng giữa đường phố Naples nhộn nhịp lúc 2 giờ sáng với những người trẻ như tôi, tôi mới tìm lại được cảm giác cộng đồng bao nay tưởng như tan biến. Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy không kịp gửi gắm cho tôi vào cộng đồng những con người ấy, nhưng nó đủ khiến tôi hiểu cảm giác an toàn về tinh thần khi xung quanh tôi vẫn còn những con người đang tồn tại và thực sự sống. Đó là sự sống của đấu tranh không ngừng, luôn tìm kiếm quyền lợi chính đáng cho chính mình khi đứng giữa bất bình. Văn hóa bắt đầu từ những cộng đồng, ta phải có trách nhiệm xây dựng cộng đồng ấy. Tôi không tin là có bất kì người Việt nào lại không có ít nhiều điều chưa hài lòng với tình hình nước nhà, trừ khi họ lên núi ở ẩn hoặc không có bất kì phương tiện tiếp cận với truyền thông nào, hoặc cả hai.
Tôi quay về Lyon sau chuyến đi Ý, dành một tháng hè còn lại để nghỉ ngơi trước khi quay lại với việc học và đi làm. Tôi xem phim, đọc sách hăng say trở lại sau một thời gian dài mệt oải trước những thói quen tiêu thụ văn hóa. Tôi học điện ảnh nhưng đã lâu rồi tôi mới xem phim với đầy sự tò mò và hào hứng như vậy. Nhìn thấy những nền văn hóa, những câu chuyện khác nhau được khai thác trên màn ảnh, tôi nhìn thế giới xung quanh bằng sự trìu mến thiết tha hơn cũng như bất bình sâu sắc hơn. Đó có lẽ là thái độ cần thiết khi ta tiếp cận văn hóa, bởi ta đang nhìn tới những cộng đồng và những con người đang kiến thiết xã hội ấy.
Tôi xem phim Bố già của Trấn Thành lần đầu tiên sau nhiều năm dè bỉu anh này và các sản phẩm văn hóa mà anh ấy làm ra. Sau cùng thì quan điểm của tôi không hề thay đổi, nhưng tôi thấy thật đáng tiếc vì tôi không xem bộ phim sớm hơn. Một tác phẩm dở không có nghĩa là nó không nên tồn tại. Nhưng ta cần nhận ra rõ rằng một tác phẩm được ra đời từ vị trí của nhóm thống trị thì nó không đại diện cho phần đại văn hóa của chúng ta. Tôi nói Trấn Thành thuộc nhóm người thống trị vì anh ta có vị thế trong nền truyền thông đại chúng nước nhà, anh ta cốt là người làm giải trí nhưng sự hiện diện rộng rãi của anh ta trên các phương tiện hình ảnh đã đủ cho anh một quyền lực có tính biểu tượng rất mạnh. Trấn Thành hay bất kì nhân vật nào chúng ta thuộc mặt thuộc tên đều không đại diện cho nền văn hóa chúng ta đang gây dựng; và xung quanh ta luôn có những người tài giỏi với ý chí cống hiến không ngừng, đó mới là xuất phát điểm của văn hóa.
Văn hóa Việt là một phạm trù rất rộng, nó được xây dựng bởi nhiều cộng đồng khác nhau. Việt Nam có 54 dân tộc, văn hóa vùng miền đa dạng. Tôi không thể phát biểu rằng tôi hiểu văn hóa Sài Gòn chỉ vì tôi là người Việt, cũng như hiểu văn hóa Lyon chỉ vì tôi sống ở đây 3 năm. Vào tiệm phở ở Hà Nội, trên bàn luôn có sẵn dấm tỏi, tương ớt, xì dầu, nước mắm. Tùy thói quen mỗi người nhưng tôi thích ăn kèm với quẩy, chấm quẩy với nước dùng vừa đủ cho nó thấm nước nhưng vẫn kịp giòn khi đưa vào miệng. Chẳng có cách ăn nào là đúng cả, nhưng ta phải sống đủ lâu và trải nghiệm đủ trong không gian cộng đồng đó để hiểu cái gu có thể thỏa mãn được của mình. Tôi sẽ chẳng bao giờ thấm thía nổi hương vị món phô mai xanh nếu nó được đặt ra giữa mâm cơm gia đình vào một ngày trong tuần bất kì. Tôi không hiểu được văn hóa Lyon vì tôi không gắn bó với bất kì không gian cộng đồng nào ở đây. Tôi không hiểu được cảm giác bước vào một hàng boucherie và kêu một phần pâté-croûte như một món ăn quen. Tôi không hiểu được cảm giác bước vào giảng đường và chuyện trò với bạn cùng lớp vài phút trước khi vào tiết chỉ vì đó là thứ giao tiếp tối thiểu. Cảm giác xa lạ trong cuộc sống đời thường đã kéo tôi đi quá xa khỏi những cảm thông cơ bản nhất của một con người, tôi thấy giận dữ và chán nản trong một thời gian dài, muốn hàn gắn và sửa chữa nhưng chẳng rõ là cái gì. Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghĩ đến Hà Nội đầu tiên. Tôi dành nhiều thời gian hơn để đọc về Hà Nội, nghe nhạc về Hà Nội, cắm nồi cơm và nấu lại những món ăn quen. Thành phố yêu dấu là xuất phát điểm quan trọng nhất trong đời tôi.
Những ngày này tôi đi làm tới gần khuya, về nhà khi người đã mệt lả nhưng tâm trạng thì ổn định dần. Có hôm tôi đứng chờ tàu, 11 giờ hơn đường xá vắng người hẳn. Ở trạm dừng tàu của tôi có những người dọn dẹp tới, họ phun nước lên kính chắn ở trạm dừng và lau rửa sạch sẽ. Chẳng có miếng ăn nào tự dọn ra trước mắt cả, chẳng có con đường nào tự dưng lại sạch. Tôi đã luôn phiền lòng vì luôn vướng bận trong công việc nhà hàng, khi niềm khao khát lớn nhất của tôi là được cầm máy quay lên và làm nên thứ văn hóa phẩm có thể đưa xã hội tiến bộ. Nhưng ta không thể đứng ngoài cuộc và chỉ quan sát cuộc sống như một vở kịch, ta phải dấn thân. Mỗi lần đóng cửa quán, tôi đổ xô nước đầy ra sàn rồi kì cọ, nước bắn lên ướt sũng ống quần. Những cái quần tôi mặc vừa vặn nhiều năm, cái gấu quần đã bung chỉ dần và phai màu rõ. Thì ra đó là cảm giác khi ta gắn bó với thứ gì nhiều. Một cộng đồng, một nhóm người với những điểm chung.
Nhớ về Hà Nội, tôi nhớ đến nhạc Ngọt, Hồ Tây, phố cổ, những cổng trường lúc tan tầm. Thế giới mà ta đang sống đang thay đổi từng phút và nó đáng lo thì nhiều. Hà Nội cũng vậy, những thói quen cứ thế bị đảo lộn vì sự chuyển biến xã hội liên tục. Tâm trạng lo âu không phải tự dưng mà có, nó đến từ chất lượng cuộc sống bị suy đồi, một niềm tin bị đổ vỡ, một thái độ bất mãn nhưng không tìm ra căn nguyên. Ta than thở về đồng lương hẹp hòi, về giá xăng tăng, mọi thứ đắt đỏ dần và cơ sở hạ tầng xuống cấp của nơi ta sống. Thứ đẹp đẽ nhất mà tôi thấy được ở nước Pháp xa lạ sau 3 năm sinh sống ở đây có lẽ là bánh mì baguette và sự đấu tranh không ngừng nghỉ của những người bình thường nhất với bất công trong xã hội. Họ ra đường, hô khẩu hiệu, dám chống lại bạo lực từ cảnh sát và giới cầm quyền để đòi quyền lợi chính đáng. Tôi chẳng thể đòi hỏi điều tương tự từ những người đồng chí Việt Nam của mình, vì bản thân tôi đang có đặc quyền quá lớn là không phải trực tiếp đối mặt với những vấn đề ấy; thế nhưng, ở mức độ tối thiểu nhất của đấu tranh xã hội, ta cần có sự thức tỉnh và hiểu được vị trí của bản thân trong cộng đồng của mình. Làm văn hóa hay nghệ thuật, ta phải đánh thật mạnh vào vấn đề đó. Đó là trách nhiệm của những người có đặc quyền được tiếp cận tri thức, đặc quyền được lên tiếng và được lắng nghe.
Mong đợi lớp trí thức trẻ Việt Nam liên minh và hiệp lực.
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Phẩm giá và công bằng xã hội cho nhóm yếu thế”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Đến gần đây tôi mới chấp nhận là 3 năm qua ở Pháp tôi bị trầm cảm, tôi vẫn đi học, đi làm và giao lưu bạn bè nhưng cái gì cũng ở ngưỡng nửa chừng, không có gì đặc biệt khiến mình thấy gắn bó sâu sắc. Sau này tôi nhận ra đó là do mình đã mất quá lâu để tìm lại được cái cảm giác cộng đồng ngày tháng lớn lên ở Hà Nội. Tôi ra đầu ngõ ăn sáng, đi cà phê học bài với bạn, đi nghe nhạc, sinh hoạt hội nhóm với trường lớp. Tiện ích luôn ở gần, muốn gì có nấy, lớn lên chỉ nghĩ chăm học là cái gì cũng sẽ làm ra được. Sang Pháp, tôi nhận ra rằng mình không thể sống dựa dẫm vào món tiền ăn tiêu bố mẹ gửi cho nữa, cơ bản là nó chẳng đủ cho những thú vui đời thường nhất. Thế là tôi bắt đầu đi làm những công việc nhà hàng mà ở đó những người đồng nghiệp của tôi đều đâu đó trạc tuổi mình và đang đi học.
Lớn lên giữa lòng thủ đô, được bố mẹ cho học thêm thầy cô giỏi, học năng khiếu rồi định hướng đi du học, tôi sống sung sướng hơn phần lớn những người đồng trang lứa. Đó là cái mà tôi đã không thể nhận ra được khi còn ở Hà Nội, vì xung quanh tôi là một cái vòng tròn rất bé của những người có điều kiện hơn trong cả một cộng đồng rất lớn. Cái vòng tròn đó khiến chúng tôi hay đùa về việc hơn thua nhau từ chuyện nhà bố mẹ người này có xe hơi còn người kia ở chung cư Vinhomes.
Ở Lyon, tôi đi làm cùng những bạn từ thành phố nhỏ lên, thậm chí là từ những làng. Tôi giống họ ở chỗ chúng tôi đều từ một không gian văn hoá khác, phải học cách làm quen, thích nghi và sinh tồn. Điểm khác của chúng tôi thì không chỉ nằm ở màu da, mà về khác biệt giai cấp, rất rõ ràng. Cách tôi nhận sự đối xử từ những người Pháp hay những người Maghrebi rất khác so với những người châu Á khác sang đây với mục đích xuất khẩu lao động. Nó nằm ở cách một người ăn mặc, nói chuyện, tận dụng vốn sống. Tôi được dạy tiêu tiền vào những sản phẩm văn hóa “cao”, nói theo kiểu bài trừ những thú vui phàm thường theo kiểu truyện tranh hay trò chơi điện tử.
Tôi lớn lên với rất ít ỏi những kí nhớ về món đồ chơi yêu thích, vì hình như tôi có rất ít. Mẹ muốn tôi đọc sách văn, chơi đàn và giao lưu với “đúng người”. Thế giới của tôi suốt từng ấy năm đầu trước khi vào đời thành ra khá hẹp hòi. Tôi ăn ngon, mặc sạch vì đó là tiêu chuẩn cho khuôn mẫu tồn tại. Nếu tôi ăn thiếu một bữa, tôi sẽ bỗng thấy lo âu vô cùng vì hình như mình làm gì đó sai, không phải sai cho sức khỏe bản thân mà sai cho cái lối ăn vận đã bào mòn tâm trí. Ở đây tôi chẳng dư dả gì, nhưng vì cái nỗi sợ đó, một kiểu tự ti sĩ diện rất lớn của những người tuột dốc trong bậc thang xã hội, tôi dùng tiền ăn hàng mỗi khi có người rủ rê, hay thậm chí chẳng ai rủ mà tôi thấy chán miệng thì đi. Nói vậy không nhằm hạ thấp thú vui ăn uống, vì bản chất nó vẫn rất đẹp, rất con người. Ăn thì mới sống được, ăn ngon mới sống vui được. Thấy được món lạ thành món ngon là tới gần hơn tới cái văn hóa mà mình cho là lạ đó. Người bình thường mất bao lâu để thích được món phô mai xanh? Đó là quan sát rất tầm thường của tôi về việc sống giữa văn hóa phương Tây với tư cách là một người Việt, một cộng đồng thiểu số nhưng đang lớn dần, có lẽ vì những người giỏi không còn thấy cơ hội xứng đáng cho họ ở nhà, những gia đình có điều kiện đều muốn gửi gắm con em rời khỏi tổ quốc, hay có lẽ vì người lao động không còn được trân trọng bởi chính nhà nước của mình.
Tôi không còn nấu cơm nữa, cắm cơm mất 40 phút trong khi luộc mì Ý thì còn chưa tới 10 phút, hay 14 phút nếu là thứ mì ngon. Tôi đi làm về nhiều khi gần khuya, về nhà tiện thì ôn bài không thì ăn lẹ rồi đi ngủ. Ngày còn ở nhà, bà ngoại tôi nấu cơm từ chiều, tôi học về là có cơm nóng hổi với canh rau thịt cá đủ cả. Những tối học thêm từ 7 giờ thì tôi ăn cơm từ 5 giờ. Giờ giấc đảo lộn hoàn toàn khi tôi bước sang môi trường mới này. Chẳng ai bắt tôi tới trường vào thứ Bảy cả, chẳng ai bắt tôi phải học thêm ba, bốn lớp phụ để theo kịp những thứ trên trường cả. Vậy mà đầu óc tôi cứ rối tung suốt ngày, vì tôi không được dạy phải chủ động bắt tay vào làm thứ gì đó.
Tôi nhìn lại về danh tính Việt ấy, thứ để bản thân tôi bị lề hóa khi sống trong xã hội phương Tây ấy. Tôi không tìm thấy được cảm giác cộng đồng ngay cả khi ở giữa những người Việt, chúng tôi rất giống nhau mà lại rất khác. Tất cả những người tôi quen ở đây đều thoai thoải một nỗi nhớ nhà, thế nhưng ít người có thể nói rằng họ chỉ muốn quay về Việt Nam và sống ở đó suốt phần đời còn lại. Việt Nam đang phát triển vô cùng mạnh mẽ mà rất tiếc là mọi sự tiện nghi phía trước sẽ không thể ưu ái cho số đông chúng ta. Tình yêu sâu sắc của những người xa xứ chỉ có thể dừng lại ở những món cơm quen, dăm bữa nửa tháng tới Phở 69 ở Guillotière và lướt Threads để theo dõi những tin tức mà chỉ có thứ xảy ra vào ngày mai mới có thể tồi tệ hơn. Đó là sự thụ động bám rễ trong tư tưởng chúng ta, rằng mình chịu thiệt quen rồi, mới nửa thế kỉ trước đất nước còn phải gây dựng lại từ đống đổ nát cơ mà? Sự bị động đó kéo dài từ những người thiệt thòi nhất tới những người ít thiệt thòi hơn, như tôi chẳng hạn, vì chúng tôi bị ảo tưởng rằng mình có đủ.
Tôi có dịp đi Ý vào mùa hè này. Đứng giữa đường phố Naples nhộn nhịp lúc 2 giờ sáng với những người trẻ như tôi, tôi mới tìm lại được cảm giác cộng đồng bao nay tưởng như tan biến. Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy không kịp gửi gắm cho tôi vào cộng đồng những con người ấy, nhưng nó đủ khiến tôi hiểu cảm giác an toàn về tinh thần khi xung quanh tôi vẫn còn những con người đang tồn tại và thực sự sống. Đó là sự sống của đấu tranh không ngừng, luôn tìm kiếm quyền lợi chính đáng cho chính mình khi đứng giữa bất bình. Văn hóa bắt đầu từ những cộng đồng, ta phải có trách nhiệm xây dựng cộng đồng ấy. Tôi không tin là có bất kì người Việt nào lại không có ít nhiều điều chưa hài lòng với tình hình nước nhà, trừ khi họ lên núi ở ẩn hoặc không có bất kì phương tiện tiếp cận với truyền thông nào, hoặc cả hai.
Tôi quay về Lyon sau chuyến đi Ý, dành một tháng hè còn lại để nghỉ ngơi trước khi quay lại với việc học và đi làm. Tôi xem phim, đọc sách hăng say trở lại sau một thời gian dài mệt oải trước những thói quen tiêu thụ văn hóa. Tôi học điện ảnh nhưng đã lâu rồi tôi mới xem phim với đầy sự tò mò và hào hứng như vậy. Nhìn thấy những nền văn hóa, những câu chuyện khác nhau được khai thác trên màn ảnh, tôi nhìn thế giới xung quanh bằng sự trìu mến thiết tha hơn cũng như bất bình sâu sắc hơn. Đó có lẽ là thái độ cần thiết khi ta tiếp cận văn hóa, bởi ta đang nhìn tới những cộng đồng và những con người đang kiến thiết xã hội ấy.
Tôi xem phim Bố già của Trấn Thành lần đầu tiên sau nhiều năm dè bỉu anh này và các sản phẩm văn hóa mà anh ấy làm ra. Sau cùng thì quan điểm của tôi không hề thay đổi, nhưng tôi thấy thật đáng tiếc vì tôi không xem bộ phim sớm hơn. Một tác phẩm dở không có nghĩa là nó không nên tồn tại. Nhưng ta cần nhận ra rõ rằng một tác phẩm được ra đời từ vị trí của nhóm thống trị thì nó không đại diện cho phần đại văn hóa của chúng ta. Tôi nói Trấn Thành thuộc nhóm người thống trị vì anh ta có vị thế trong nền truyền thông đại chúng nước nhà, anh ta cốt là người làm giải trí nhưng sự hiện diện rộng rãi của anh ta trên các phương tiện hình ảnh đã đủ cho anh một quyền lực có tính biểu tượng rất mạnh. Trấn Thành hay bất kì nhân vật nào chúng ta thuộc mặt thuộc tên đều không đại diện cho nền văn hóa chúng ta đang gây dựng; và xung quanh ta luôn có những người tài giỏi với ý chí cống hiến không ngừng, đó mới là xuất phát điểm của văn hóa.
Văn hóa Việt là một phạm trù rất rộng, nó được xây dựng bởi nhiều cộng đồng khác nhau. Việt Nam có 54 dân tộc, văn hóa vùng miền đa dạng. Tôi không thể phát biểu rằng tôi hiểu văn hóa Sài Gòn chỉ vì tôi là người Việt, cũng như hiểu văn hóa Lyon chỉ vì tôi sống ở đây 3 năm. Vào tiệm phở ở Hà Nội, trên bàn luôn có sẵn dấm tỏi, tương ớt, xì dầu, nước mắm. Tùy thói quen mỗi người nhưng tôi thích ăn kèm với quẩy, chấm quẩy với nước dùng vừa đủ cho nó thấm nước nhưng vẫn kịp giòn khi đưa vào miệng. Chẳng có cách ăn nào là đúng cả, nhưng ta phải sống đủ lâu và trải nghiệm đủ trong không gian cộng đồng đó để hiểu cái gu có thể thỏa mãn được của mình. Tôi sẽ chẳng bao giờ thấm thía nổi hương vị món phô mai xanh nếu nó được đặt ra giữa mâm cơm gia đình vào một ngày trong tuần bất kì. Tôi không hiểu được văn hóa Lyon vì tôi không gắn bó với bất kì không gian cộng đồng nào ở đây. Tôi không hiểu được cảm giác bước vào một hàng boucherie và kêu một phần pâté-croûte như một món ăn quen. Tôi không hiểu được cảm giác bước vào giảng đường và chuyện trò với bạn cùng lớp vài phút trước khi vào tiết chỉ vì đó là thứ giao tiếp tối thiểu. Cảm giác xa lạ trong cuộc sống đời thường đã kéo tôi đi quá xa khỏi những cảm thông cơ bản nhất của một con người, tôi thấy giận dữ và chán nản trong một thời gian dài, muốn hàn gắn và sửa chữa nhưng chẳng rõ là cái gì. Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghĩ đến Hà Nội đầu tiên. Tôi dành nhiều thời gian hơn để đọc về Hà Nội, nghe nhạc về Hà Nội, cắm nồi cơm và nấu lại những món ăn quen. Thành phố yêu dấu là xuất phát điểm quan trọng nhất trong đời tôi.
Những ngày này tôi đi làm tới gần khuya, về nhà khi người đã mệt lả nhưng tâm trạng thì ổn định dần. Có hôm tôi đứng chờ tàu, 11 giờ hơn đường xá vắng người hẳn. Ở trạm dừng tàu của tôi có những người dọn dẹp tới, họ phun nước lên kính chắn ở trạm dừng và lau rửa sạch sẽ. Chẳng có miếng ăn nào tự dọn ra trước mắt cả, chẳng có con đường nào tự dưng lại sạch. Tôi đã luôn phiền lòng vì luôn vướng bận trong công việc nhà hàng, khi niềm khao khát lớn nhất của tôi là được cầm máy quay lên và làm nên thứ văn hóa phẩm có thể đưa xã hội tiến bộ. Nhưng ta không thể đứng ngoài cuộc và chỉ quan sát cuộc sống như một vở kịch, ta phải dấn thân. Mỗi lần đóng cửa quán, tôi đổ xô nước đầy ra sàn rồi kì cọ, nước bắn lên ướt sũng ống quần. Những cái quần tôi mặc vừa vặn nhiều năm, cái gấu quần đã bung chỉ dần và phai màu rõ. Thì ra đó là cảm giác khi ta gắn bó với thứ gì nhiều. Một cộng đồng, một nhóm người với những điểm chung.
Nhớ về Hà Nội, tôi nhớ đến nhạc Ngọt, Hồ Tây, phố cổ, những cổng trường lúc tan tầm. Thế giới mà ta đang sống đang thay đổi từng phút và nó đáng lo thì nhiều. Hà Nội cũng vậy, những thói quen cứ thế bị đảo lộn vì sự chuyển biến xã hội liên tục. Tâm trạng lo âu không phải tự dưng mà có, nó đến từ chất lượng cuộc sống bị suy đồi, một niềm tin bị đổ vỡ, một thái độ bất mãn nhưng không tìm ra căn nguyên. Ta than thở về đồng lương hẹp hòi, về giá xăng tăng, mọi thứ đắt đỏ dần và cơ sở hạ tầng xuống cấp của nơi ta sống. Thứ đẹp đẽ nhất mà tôi thấy được ở nước Pháp xa lạ sau 3 năm sinh sống ở đây có lẽ là bánh mì baguette và sự đấu tranh không ngừng nghỉ của những người bình thường nhất với bất công trong xã hội. Họ ra đường, hô khẩu hiệu, dám chống lại bạo lực từ cảnh sát và giới cầm quyền để đòi quyền lợi chính đáng. Tôi chẳng thể đòi hỏi điều tương tự từ những người đồng chí Việt Nam của mình, vì bản thân tôi đang có đặc quyền quá lớn là không phải trực tiếp đối mặt với những vấn đề ấy; thế nhưng, ở mức độ tối thiểu nhất của đấu tranh xã hội, ta cần có sự thức tỉnh và hiểu được vị trí của bản thân trong cộng đồng của mình. Làm văn hóa hay nghệ thuật, ta phải đánh thật mạnh vào vấn đề đó. Đó là trách nhiệm của những người có đặc quyền được tiếp cận tri thức, đặc quyền được lên tiếng và được lắng nghe.
Mong đợi lớp trí thức trẻ Việt Nam liên minh và hiệp lực.
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Phẩm giá và công bằng xã hội cho nhóm yếu thế”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Từ khoá: người yếu thế cuộc thi viết