Campuchia kiện Thái Lan lên ICJ: Liệu có hiệu quả như kỳ vọng?

Campuchia viện đến ICJ nhằm giành thế chủ động trong tranh chấp biên giới, nhưng Thái Lan không công nhận thẩm quyền của tòa, khiến nỗ lực này có thể mang tính biểu tượng hơn thực chất.

Huỳnh Tấn Tùng 18/07/2025
Image
Ngày 15/6, Campuchia cho biết nước này đã gửi công hàm lên Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) đề nghị phân xử về vấn đề tranh chấp biên giới với Thái Lan. - (C): Vietnam Strategic Forum

Ngày 28/5, một binh sĩ Campuchia đã thiệt mạng trong một giao tranh ngắn với quân đội Thái Lan. Sự việc là “mồi lửa” châm ngòi cho xung đột sau gần 15 năm yên ắng kể từ lần cuối hai quốc gia có xung đột vào khoảng năm 2008 đến giữa năm 2011 về vấn đề chủ quyền với đền Preah Vihear và các khu vực lân cận đền. 

Sau những xung đột leo thang do vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các khu vực lãnh thổ biên giới giữa Campuchia và Thái Lan, phía Campuchia vào ngày 16/6 đã chính thức gửi công hàm tới Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) ở The Hague (Hà Lan) để yêu cầu phân xử về 4 khu vực biên giới đang tranh chấp, gồm Tamone Thom, Tamone Touch, Ta Krabey và Mom Bei. Phía Thái Lan gọi các khu vực này là Ta Muen Thom, Ta Muen Toch, Ta Kwai, và vùng “Tam giác ngọc” (Emerald Triangle). 

Việc Campuchia đơn phương yêu cầu một cơ quan tài phán quốc tế (bên thứ ba) tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp với Thái Lan cho thấy Phnom Penh đã không thực sự công nhận các ghi nhớ song phương (MOU) trước đó của hai nước về giải quyết vấn đề biên giới. 

Theo Điều VIII MOU 2000 (Article VIII) việc giải quyết tranh chấp giữa hai bên phải thông qua tham vấn và đối thoại hoà bình. Các cơ chế  như Ủy ban Biên giới hỗn hợp (Joint Boundary Commission - JBC), Ủy ban Biên giới chung (General Border Committee - GBC), và Ủy ban Biên giới khu vực (Regional Border Committee - RBC) được thành lập nhằm tạo kênh đối thoại song phương để hai nước giải quyết các tranh chấp biên giới. Tuy nhiên, giờ đây chúng không còn là lựa chọn của Campuchia khi xung đột ngày càng căng thẳng.

 Trước hành động của phía Campuchia, Thái Lan không chỉ không đồng tình mà còn lên án việc nước láng giềng không tuân theo thỏa thuận song phương. Thái Lan nhấn mạnh rằng các vấn đề biên giới phải được giải quyết thông qua các cơ chế đàm phán song phương gồm JBC, GBC và RBC. Bên cạnh đó, Thái lan cũng nhắc lại việc từ chối thẩm quyền của ICJ đối với các tranh chấp giữa hai nước từ năm 1960. 

Việc Campuchia đơn phương gửi công hàm lên ICJ không trái với luật pháp quốc tế. Bên cạnh đó, cần chú ý rằng các MOU không tạo ra các ràng buộc pháp lý cho các bên vì không phải là các điều ước quốc tế (treaties). Chiếu theo quy chế toà ICJ tại điều 38 (Article 38) thì các MOU mà hai nước đã ký kết trước đây không được xem như cơ sở để các bên có thể tuyên bố rằng đối phương đã làm trái với các cam kết quốc tế.

Với việc hiểu rõ và vận dụng luật pháp quốc tế thông qua yêu cầu cơ quan tài phán quốc tế tham gia vào tranh chấp, Campuchia đã và đang tạo ra thế chủ động hơn so với Thái Lan. Trên cơ sở xem xét các vấn đề lịch sử, từ bản đồ phân chia biên giới Campuchia và Thái Lan do Uỷ ban Pháp-Xiêm (The Franco-Siamese Treaty of 1907) (được thành lập trên cơ sở hiệp định ngày 13/02/1904) xuất bản năm 1907, phán quyết của ICJ về đền Preah Vihear vào tháng 6/1962, phán quyết 2013 của ICJ về giải thích và thực hiện phán quyết tháng 6/1962, Campuchia đã đạt được mục tiêu là chính thức kêu gọi một cơ quan tài phán quốc tế tham gia vào giải quyết tranh chấp. Với động thái lần này, chính quyền Hun Manet có thể có tính chính danh lịch sử lẫn tính pháp lý đối với các vùng lãnh thổ mà Campuchia cho rằng mình có chủ quyền. 

Tuy nhiên, liệu quyết định đưa tranh chấp với Thái Lan ra ICJ có giúp Campuchia đạt được ưu thế, tương tự như những sự việc trước đây?

Theo quy chế của ICJ, tòa chỉ có thẩm quyền khởi động một vụ kiện giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia khi và chỉ khi các bên tranh chấp đồng ý đưa tranh chấp ra ICJ xét xử (nguyên văn “Only states may be parties in cases before the Court”). Nói cách khác, ICJ không đương nhiên có quyền tham gia vào một tranh chấp nào nếu không được trao quyền. 

Đối với sự việc lần này, nếu nội dung của đơn được phía Campuchia đưa ra tòa là một đơn kiện có nội dung xâm phạm chủ quyền hợp pháp của Campuchia hay là một đơn yêu cầu xem xét chủ quyền hợp pháp của nước này đối với 4 vùng lãnh thổ thì ICJ khó có thể thụ lý. Bởi lẽ, chỉ có Campuchia đồng ý sử dụng ICJ để giải quyết tranh chấp, còn Thái Lan thì luôn nhắc lại việc từ chối thẩm quyền của ICJ từ năm 1960. 

Liệu Campuchia có thể lặp lại câu chuyện lịch sử vào năm 2013 khi yêu cầu ICJ giải thích về phán quyết liên quan đến đền Preah Vihear vào tháng 6/1962? Khoảng cách địa lý của 4 khu vực tranh chấp hiện tại đều cách xa đền Preah Vihear hay khu vực mỏm đá nên khó để ICJ có thể xem xét đây là một “khu vực lân cận” (vicinity) thuộc nội dung của việc yêu cầu giải thích phán quyết năm 1962. Điều này tương tự việc ICJ không công nhận ngọn đồi Phnom Trap 2013 thuộc phạm vi vùng lãnh thổ mà ICJ có thẩm quyền giải quyết, bởi vì đồi Phnom Trap nằm ở phía Tây Bắc vượt ngoài mỏm đá đền Preah Vihear thuộc chủ quyền Campuchia theo phán quyết trước đó. 

Ngoài cách tham gia trực tiếp vào vụ việc qua gửi công hàm lên ICJ, Campuchia có thể lập luận rằng sự việc lần này có ảnh hưởng trầm trọng tới an ninh chính trị, kinh tế, và xã hội của khu vực và quốc tế, và theo đó gửi vụ việc này lên Đại Hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Theo Điều 96 Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945, các cơ quan này có quyền hỏi ICJ về mọi vấn đề pháp lý (legal question), kể cả tranh chấp hiện nay giữa Campuchia và Thái Lan. Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 96 nêu rõ: “Đại Hội đồng hoặc Hội đồng Bảo an có thể yêu cầu ICJ đưa ra ý kiến tư vấn về bất kỳ vấn đề pháp lý nào”. Bằng phương án này, ICJ có thể tham gia một cách gián tiếp vào vụ việc. 

Tuy nhiên, phương án này có một nhược điểm lớn, đó là phía Campuchia phải chứng minh tính nghiêm trọng vượt quá khả năng giải quyết của các bên trong sự việc, và do đó cần một tổ chức liên chính phủ (ở đây có thể là Liên Hợp Quốc) can thiệp.

Các giả định trên cho thấy một tương lai không mấy khả thi khi Campuchia nêu tranh chấp với Thái Lan ra thể chế quốc tế như ICJ. Cũng có thể hiểu là Campuchia đang vướng phải một “nút thắt” pháp lý quốc tế khá nan giải. Tuy vậy, quốc gia này vẫn đang tích cực chuẩn bị các lập luận cho quá trình tháo gỡ “nút thắt” ấy. 

Theo Khmer Times, Jean-Marc Sorel, luật sư người Pháp đóng vai trò quan trọng trong các thắng lợi của Campuchia tại ICJ, đã trở lại để tư vấn cho Campuchia trong quá trình gửi đơn lên ICJ và sẵn sàng cho các tiến trình tố tụng tại ICJ trong tương lai. Ở phương diện đối ngoại, Campuchia cũng không ngừng kêu gọi Thái Lan đồng ý đưa vụ việc lên ICJ hoặc Liên Hợp Quốc nếu Bangkok tự tin.

Hiện ICJ vẫn chưa có động thái gì trước việc gửi công hàm của Campuchia. Tuy nhiên, việc chính quyền Hun Manet đem tranh chấp trong khu vực ra các thể chế quốc tế cho thấy các cơ chế song phương và cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) không thật sự hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. 

Do đó, dù còn hạn chế, ICJ nói riêng và các cơ quan tài phán của Liên Hợp Quốc nói chung vẫn là lựa chọn hàng đầu mà các quốc gia cân nhắc khi vướng vào tranh chấp.

Ngày 28/5, một binh sĩ Campuchia đã thiệt mạng trong một giao tranh ngắn với quân đội Thái Lan. Sự việc là “mồi lửa” châm ngòi cho xung đột sau gần 15 năm yên ắng kể từ lần cuối hai quốc gia có xung đột vào khoảng năm 2008 đến giữa năm 2011 về vấn đề chủ quyền với đền Preah Vihear và các khu vực lân cận đền. 

Sau những xung đột leo thang do vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các khu vực lãnh thổ biên giới giữa Campuchia và Thái Lan, phía Campuchia vào ngày 16/6 đã chính thức gửi công hàm tới Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) ở The Hague (Hà Lan) để yêu cầu phân xử về 4 khu vực biên giới đang tranh chấp, gồm Tamone Thom, Tamone Touch, Ta Krabey và Mom Bei. Phía Thái Lan gọi các khu vực này là Ta Muen Thom, Ta Muen Toch, Ta Kwai, và vùng “Tam giác ngọc” (Emerald Triangle). 

Việc Campuchia đơn phương yêu cầu một cơ quan tài phán quốc tế (bên thứ ba) tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp với Thái Lan cho thấy Phnom Penh đã không thực sự công nhận các ghi nhớ song phương (MOU) trước đó của hai nước về giải quyết vấn đề biên giới. 

Theo Điều VIII MOU 2000 (Article VIII) việc giải quyết tranh chấp giữa hai bên phải thông qua tham vấn và đối thoại hoà bình. Các cơ chế  như Ủy ban Biên giới hỗn hợp (Joint Boundary Commission - JBC), Ủy ban Biên giới chung (General Border Committee - GBC), và Ủy ban Biên giới khu vực (Regional Border Committee - RBC) được thành lập nhằm tạo kênh đối thoại song phương để hai nước giải quyết các tranh chấp biên giới. Tuy nhiên, giờ đây chúng không còn là lựa chọn của Campuchia khi xung đột ngày càng căng thẳng.

 Trước hành động của phía Campuchia, Thái Lan không chỉ không đồng tình mà còn lên án việc nước láng giềng không tuân theo thỏa thuận song phương. Thái Lan nhấn mạnh rằng các vấn đề biên giới phải được giải quyết thông qua các cơ chế đàm phán song phương gồm JBC, GBC và RBC. Bên cạnh đó, Thái lan cũng nhắc lại việc từ chối thẩm quyền của ICJ đối với các tranh chấp giữa hai nước từ năm 1960. 

Việc Campuchia đơn phương gửi công hàm lên ICJ không trái với luật pháp quốc tế. Bên cạnh đó, cần chú ý rằng các MOU không tạo ra các ràng buộc pháp lý cho các bên vì không phải là các điều ước quốc tế (treaties). Chiếu theo quy chế toà ICJ tại điều 38 (Article 38) thì các MOU mà hai nước đã ký kết trước đây không được xem như cơ sở để các bên có thể tuyên bố rằng đối phương đã làm trái với các cam kết quốc tế.

Với việc hiểu rõ và vận dụng luật pháp quốc tế thông qua yêu cầu cơ quan tài phán quốc tế tham gia vào tranh chấp, Campuchia đã và đang tạo ra thế chủ động hơn so với Thái Lan. Trên cơ sở xem xét các vấn đề lịch sử, từ bản đồ phân chia biên giới Campuchia và Thái Lan do Uỷ ban Pháp-Xiêm (The Franco-Siamese Treaty of 1907) (được thành lập trên cơ sở hiệp định ngày 13/02/1904) xuất bản năm 1907, phán quyết của ICJ về đền Preah Vihear vào tháng 6/1962, phán quyết 2013 của ICJ về giải thích và thực hiện phán quyết tháng 6/1962, Campuchia đã đạt được mục tiêu là chính thức kêu gọi một cơ quan tài phán quốc tế tham gia vào giải quyết tranh chấp. Với động thái lần này, chính quyền Hun Manet có thể có tính chính danh lịch sử lẫn tính pháp lý đối với các vùng lãnh thổ mà Campuchia cho rằng mình có chủ quyền. 

Tuy nhiên, liệu quyết định đưa tranh chấp với Thái Lan ra ICJ có giúp Campuchia đạt được ưu thế, tương tự như những sự việc trước đây?

Theo quy chế của ICJ, tòa chỉ có thẩm quyền khởi động một vụ kiện giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia khi và chỉ khi các bên tranh chấp đồng ý đưa tranh chấp ra ICJ xét xử (nguyên văn “Only states may be parties in cases before the Court”). Nói cách khác, ICJ không đương nhiên có quyền tham gia vào một tranh chấp nào nếu không được trao quyền. 

Đối với sự việc lần này, nếu nội dung của đơn được phía Campuchia đưa ra tòa là một đơn kiện có nội dung xâm phạm chủ quyền hợp pháp của Campuchia hay là một đơn yêu cầu xem xét chủ quyền hợp pháp của nước này đối với 4 vùng lãnh thổ thì ICJ khó có thể thụ lý. Bởi lẽ, chỉ có Campuchia đồng ý sử dụng ICJ để giải quyết tranh chấp, còn Thái Lan thì luôn nhắc lại việc từ chối thẩm quyền của ICJ từ năm 1960. 

Liệu Campuchia có thể lặp lại câu chuyện lịch sử vào năm 2013 khi yêu cầu ICJ giải thích về phán quyết liên quan đến đền Preah Vihear vào tháng 6/1962? Khoảng cách địa lý của 4 khu vực tranh chấp hiện tại đều cách xa đền Preah Vihear hay khu vực mỏm đá nên khó để ICJ có thể xem xét đây là một “khu vực lân cận” (vicinity) thuộc nội dung của việc yêu cầu giải thích phán quyết năm 1962. Điều này tương tự việc ICJ không công nhận ngọn đồi Phnom Trap 2013 thuộc phạm vi vùng lãnh thổ mà ICJ có thẩm quyền giải quyết, bởi vì đồi Phnom Trap nằm ở phía Tây Bắc vượt ngoài mỏm đá đền Preah Vihear thuộc chủ quyền Campuchia theo phán quyết trước đó. 

Ngoài cách tham gia trực tiếp vào vụ việc qua gửi công hàm lên ICJ, Campuchia có thể lập luận rằng sự việc lần này có ảnh hưởng trầm trọng tới an ninh chính trị, kinh tế, và xã hội của khu vực và quốc tế, và theo đó gửi vụ việc này lên Đại Hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Theo Điều 96 Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945, các cơ quan này có quyền hỏi ICJ về mọi vấn đề pháp lý (legal question), kể cả tranh chấp hiện nay giữa Campuchia và Thái Lan. Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 96 nêu rõ: “Đại Hội đồng hoặc Hội đồng Bảo an có thể yêu cầu ICJ đưa ra ý kiến tư vấn về bất kỳ vấn đề pháp lý nào”. Bằng phương án này, ICJ có thể tham gia một cách gián tiếp vào vụ việc. 

Tuy nhiên, phương án này có một nhược điểm lớn, đó là phía Campuchia phải chứng minh tính nghiêm trọng vượt quá khả năng giải quyết của các bên trong sự việc, và do đó cần một tổ chức liên chính phủ (ở đây có thể là Liên Hợp Quốc) can thiệp.

Các giả định trên cho thấy một tương lai không mấy khả thi khi Campuchia nêu tranh chấp với Thái Lan ra thể chế quốc tế như ICJ. Cũng có thể hiểu là Campuchia đang vướng phải một “nút thắt” pháp lý quốc tế khá nan giải. Tuy vậy, quốc gia này vẫn đang tích cực chuẩn bị các lập luận cho quá trình tháo gỡ “nút thắt” ấy. 

Theo Khmer Times, Jean-Marc Sorel, luật sư người Pháp đóng vai trò quan trọng trong các thắng lợi của Campuchia tại ICJ, đã trở lại để tư vấn cho Campuchia trong quá trình gửi đơn lên ICJ và sẵn sàng cho các tiến trình tố tụng tại ICJ trong tương lai. Ở phương diện đối ngoại, Campuchia cũng không ngừng kêu gọi Thái Lan đồng ý đưa vụ việc lên ICJ hoặc Liên Hợp Quốc nếu Bangkok tự tin.

Hiện ICJ vẫn chưa có động thái gì trước việc gửi công hàm của Campuchia. Tuy nhiên, việc chính quyền Hun Manet đem tranh chấp trong khu vực ra các thể chế quốc tế cho thấy các cơ chế song phương và cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) không thật sự hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. 

Do đó, dù còn hạn chế, ICJ nói riêng và các cơ quan tài phán của Liên Hợp Quốc nói chung vẫn là lựa chọn hàng đầu mà các quốc gia cân nhắc khi vướng vào tranh chấp.

Từ khoá: Campuchia Thái Lan xung đột biên giới ICJ Tòa án Công lý Quốc tế

BÀI LIÊN QUAN