Đối ngoại Hàn Quốc trong vòng xoáy phân cực chính trị

Phân cực chính trị sâu sắc giữa phe bảo thủ và tiến bộ trong chính trị Hàn Quốc khiến chính sách đối ngoại thiếu nhất quán và dao động mạnh theo từng đời tổng thống. Từ Triều Tiên, Mỹ đến Trung Quốc và Nhật Bản, khác biệt về tầm nhìn giữa hai đảng lớn và cạnh tranh nội bộ làm suy yếu năng lực hoạch định chiến lược dài hạn của Seoul.

Phan Thanh Trường 02/01/2026
Image
Hệ thống chính trị Hàn Quốc hiện đại chứng kiến sự phân cực sâu sắc giữa hai phe chính: bảo thủ và tiến bộ. (C): Vietnam Strategic Forum

Một nền chính trị phân cực

Hệ thống chính trị Hàn Quốc hiện đại chứng kiến sự phân cực sâu sắc giữa hai phe chính: bảo thủ và tiến bộ. Hai đảng lớn là đảng Quyền lực nhân dân (People Power Party - PPP) (bảo thủ) và đảng Dân chủ (Democratic Party of Korea - DPK) (tiến bộ), luân phiên cầm quyền trong một cấu trúc cạnh tranh lưỡng đảng.

Trong bối cảnh đó, sự phân cực chính trị ngày càng rõ nét đã góp phần làm nổi bật các hình thức vận động mang tính đối đầu (negative campaigning) giữa các đảng thay vì cạnh tranh về sự khác biệt trong chính sách. Điều này dẫn đến bầu không khí chính trị đối kháng gay gắt, khi mỗi bên xem bên kia gần như là “kẻ thù” cần đánh bại hơn là đối tác để hợp tác.

Sự phân cực ngày càng gay gắt đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của nền dân chủ Hàn Quốc. Các cuộc tranh luận tại quốc hội thường rơi vào bế tắc do hai phe thiếu thiện chí thỏa hiệp, ngay cả đối với những vấn đề tưởng chừng phi chính trị. Việc chính phủ và quốc hội do hai đảng khác nhau kiểm soát cũng dẫn đến đối đầu leo thang.

Năm 2024, đảng đối lập Dân chủ thắng lớn trong bầu cử quốc hội giữa kỳ, gia tăng áp lực lên Tổng thống Yoon Suk-yeol và thúc đẩy xung đột quyền lực giữa nhánh lập pháp và nhánh hành pháp. Đỉnh điểm, tháng 12/2024, Tổng thống Yoon ban bố lệnh thiết quân luật trong bối cảnh bất ổn, một động thái cực đoan phản ánh tình trạng phân cực kéo dài thay vì một phản ứng bộc phát nhất thời.

Hành động này nhanh chóng dẫn tới việc Quốc hội do phe đối lập kiểm soát bỏ phiếu luận tội Tổng thống vào tháng 1, và sau đó Tòa án Hiến pháp thông qua quyết định này vào tháng 4/2025. Sự kiện gây nhiều tranh cãi đã đẩy nền chính trị Hàn Quốc vào cuộc khủng hoảng hiến pháp chưa từng có kể từ khi quốc gia này sửa đổi Hiến pháp năm 1987.

Tác động của phân cực chính trị đối với chính sách đối ngoại Hàn Quốc

Đối với Triều Tiên

Đối với vấn đề Triều Tiên, sự khác biệt giữa hai phe bộc lộ rõ rệt. Phe tiến bộ (Đảng Dân chủ) thường chủ trương cách tiếp cận hòa giải và hợp tác với Bình Nhưỡng. Kể từ cuối thập niên 1990, các chính quyền tự do của các tổng thống Kim Dae-jung hay Roh Moo-hyun đã triển khai lần lượt Chính sách Ánh Dương (Sunshine Policy) và Hòa bình và Thịnh vượng (Peace and Prosperity), ưu tiên viện trợ và đối thoại nhằm cải thiện quan hệ liên Triều. Tinh thần này được Tổng thống Moon Jae-in (2017-2022) kế thừa khi ông tích cực thúc đẩy các cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un trong năm 2018, ký Tuyên bố Panmunjom (hay Tuyên bố Bàn Môn Điếm) và Thỏa thuận Bình Nhưỡng (còn gọi là Hiệp định Quân sự Toàn diện) nhằm giảm căng thẳng quân sự và hướng tới phi hạt nhân hóa bán đảo. Dưới chính quyền mới của Tổng thống Lee Jae-myung, Hàn Quốc cũng ưu tiên các biện pháp ngoại giao mềm mỏng đối với Triều Tiên, kêu gọi cùng tồn tại hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Nhìn chung, các lãnh đạo thuộc Đảng dân chủ của Hàn Quốc đều coi đối thoại là con đường xây dựng lòng tin, giảm nguy cơ xung đột và tạo tiền đề cho thống nhất hòa bình trong tương lai.

Trái lại, phe bảo thủ ở Hàn Quốc có xu hướng siết chặt liên minh Hàn - Mỹ và đưa ra các quan điểm cứng rắn đối với Triều Tiên. Các chính quyền bảo thủ, tiêu biểu là dưới thời Lee Myung-bak (2008-2013), Park Geun-hye (2013-2017) và Yoon Suk-yeol (2022-2025) thường bày tỏ lập trường cứng rắn hơn, coi trọng trừng phạt kinh tế và gây sức ép an ninh để kiềm chế Triều Tiên. Các nhà lãnh đạo này đề cao năng lực phòng thủ và sự hiện diện của quân đội Mỹ như lá chắn trước mối đe dọa từ miền Bắc. Dưới thời Tổng thống Yoon Suk-yeol, Hàn Quốc khẳng định sẽ không nhượng bộ trừ khi Triều Tiên có bước đi cụ thể hướng tới phi hạt nhân, đồng thời tuyên bố xem xét cả các biện pháp mạnh như tấn công phủ đầu để “giành lại thế chủ động” mà ông Yoon cho là chính quyền tiền nhiệm đã đánh mất vào tay Bình Nhưỡng. Trong Chiến lược an ninh quốc gia của Hàn Quốc năm 2023, chính quyền Yoon coi vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là “thách thức an ninh lớn nhất” đối với Hàn Quốc, khẳng định phải tăng cường đáng kể sức mạnh quốc phòng quốc gia và tận dụng liên minh Hàn - Mỹ để đối phó.

Do phân cực nội bộ, chính sách liên Triều của Hàn Quốc thiếu nhất quán và bền vững. Bình Nhưỡng thường lợi dụng điều này, tranh thủ đối thoại và nhượng bộ từ phe tiến bộ ở Hàn Quốc. Nhưng sau đó, quan hệ liên Triều lại tiếp tục căng thẳng khi Hàn Quốc chuyển sang phe bảo thủ. Sự thiếu nhất quán này cũng khiến lập trường đối ngoại của Hàn Quốc “kém trọng lượng” trong mắt Bình Nhưỡng. Triều Tiên cho rằng chính quyền Hàn Quốc dù là “dân chủ” hay “bảo thủ” cũng có cùng mục tiêu là “lật đổ chế độ của Triều Tiên”. Nói cách khác, khi nội bộ Hàn Quốc không thống nhất về chính sách đối với Triều Tiên, Bình Nhưỡng sẽ hoài nghi liệu Seoul có dám hành động đến cùng hay không, từ đó có thể khiêu khích với các hành vi mạo hiểm hơn (như thử tên lửa tầm xa hay gây áp lực ở khu vực biên giới hai nước).

Đối với Mỹ

Mối quan hệ đồng minh Hàn - Mỹ cũng chịu tác động mạnh bởi sự phân cực chính trị ở Hàn Quốc. Nhìn chung, phe bảo thủ nhất quán duy trì quan điểm thân Mỹ, xem liên minh là nền tảng bảo đảm an ninh quốc gia. Từ sau Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), liên minh Hàn - Mỹ được Hàn Quốc coi như yếu tố răn đe sống còn trước mối đe dọa từ Triều Tiên. Do đó, các chính quyền thuộc đảng bảo thủ luôn tìm cách tăng cường thắt chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ, từ việc tăng chia sẻ chi phí quân sự, mua sắm vũ khí, cho tới tham gia các sáng kiến chiến lược do Washington dẫn dắt.

Dưới chính quyền Tổng thống Yoon Suk-yeol, liên minh Hàn - Mỹ được định vị như một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc. Ngay khi nhậm chức, ông Yoon đã đảo ngược chính sách “mập mờ chiến lược” (strategic ambiguity) của người tiền nhiệm, thực thi chính sách “rõ ràng chiến lược” (strategic clarity) bằng cách nghiêng hẳn Hàn Quốc về phía Mỹ. Năm 2023, nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập liên minh, với Tuyên bố Washington, quan hệ này được nâng lên một tầm cao mới khi hai nước thiết lập các chương trình nghị sự toàn cầu vượt khỏi phạm vi bán đảo Triều Tiên.

Ngược lại, phe tiến bộ chú trọng hơn đến tính tự chủ chiến lược của Hàn Quốc. Các tổng thống Hàn Quốc thuộc đảng Dân chủ tuy không phủ nhận tầm quan trọng của liên minh Hàn - Mỹ nhưng thường muốn giảm bớt sự lệ thuộc vào Washington. Việc này nhằm mở rộng không gian cho Seoul trong việc cải thiện quan hệ liên Triều và thúc đẩy quan hệ với các nước lớn khác. Các tổng thống theo đảng này lo ngại việc phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ có thể khiến Hàn Quốc vướng vào căng thẳng với Trung Quốc hoặc cản trở các sáng kiến hòa giải với Triều Tiên.

Dưới thời chính quyền Moon Jae-in, khái niệm “mập mờ chiến lược” được nhắc đến nhiều với hàm ý Seoul cố gắng cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc, duy trì liên minh với Washington nhưng tránh công khai đối đầu Bắc Kinh. Tổng thống Moon Jae-in đã tiếp tục khẳng định cam kết phòng thủ chung với Mỹ theo Hiệp ước phòng thủ tương trợ Hàn - Mỹ và hợp tác chặt chẽ với Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Tuy vậy, chính quyền Moon đồng thời theo đuổi chính sách “Hướng Nam mới” (New Southern Policy) nhằm đa dạng hóa quan hệ kinh tế - an ninh với các quốc gia ở phía Nam và giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc. Chính quyền Moon nhìn chung khá thận trọng không để Hàn Quốc bị cuốn vào cạnh tranh Mỹ - Trung, thể hiện qua việc Seoul giữ khoảng cách với khối QUAD (gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia), hay không tham gia các động thái chống Trung Quốc mà Mỹ khởi xướng.

Chính quyền Tổng thống Lee Jae-myung cũng khẳng định rằng “Rõ ràng liên minh Hàn - Mỹ nên tiếp tục là nền tảng của ngoại giao và an ninh của chúng ta, và cần được tăng cường hơn nữa…”, nhưng ông cũng lưu ý rằng “chúng ta không nên đặt tất cả trứng vào một giỏ”. Tuyên bố này hàm ý rằng Hàn Quốc vẫn coi trọng liên minh, nhưng đồng thời sẽ nỗ lực tăng cường mở rộng quan hệ hơn với các quốc gia khác.

Đối với Trung Quốc và Nhật Bản

Sự phân cực chính trị cũng bao trùm trong cách Seoul ứng xử với hai nước láng giềng quan trọng là Trung Quốc và Nhật Bản. Quan hệ giữa Seoul với Bắc Kinh và Tokyo rất nhạy cảm, vì tình cảm dân tộc chủ nghĩa và tính toán địa chính trị đan xen, khiến các phe phái chính trị Hàn Quốc có cách tiếp cận khác nhau trong vấn đề đối ngoại với hai nước láng giềng.

Đối với Trung Quốc, phe tiến bộ của Hàn Quốc có xu hướng hòa dịu hơn với Bắc Kinh, xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng kinh tế của Trung Quốc và mong muốn tranh thủ vai trò của Bắc Kinh trong tiến trình hòa bình Triều Tiên. Vào thập niên 2000, các tổng thống thuộc đảng Dân chủ ở Hàn Quốc thường tỏ ra lạc quan về sự “trỗi dậy” của Trung Quốc và kêu gọi Hàn Quốc tăng cường hợp tác kinh tế với Bắc Kinh, đồng thời đôi khi tỏ ra hoài nghi trước một số động thái của Mỹ mà họ cho là có thể “chọc giận” Trung Quốc. Ngược lại, phe bảo thủ tỏ ra cảnh giác hơn với Bắc Kinh. Họ coi Trung Quốc vừa là hậu thuẫn chính của chính quyền Bình Nhưỡng, vừa là một cường quốc có thể đe dọa lợi ích an ninh của Hàn Quốc (như việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự và yêu sách lãnh thổ ở khu vực). Do vậy, các chính quyền bảo thủ của Hàn Quốc sẵn sàng phối hợp chặt hơn với Mỹ để kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc, cho dù phải chấp nhận rủi ro về kinh tế khi Bắc Kinh trả đũa.

Sự kiện Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (Terminal High Altitude Area Defense – THAAD) 2016-2017 là minh chứng điển hình cho cách tiếp cận của phe bảo thủ. Khi chính quyền Park Geun-hye quyết định triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD của Mỹ trên đất Hàn Quốc, Trung Quốc phản ứng gay gắt bằng một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế và văn hóa (như cấm tour du lịch, tẩy chay hàng hóa và nghệ thuật Hàn Quốc). Trong nước, vấn đề THAAD trở thành tâm điểm tranh cãi phân cực khi các nhóm ủng hộ phe tiến bộ lên án việc triển khai THAAD, họ lên án phe bảo thủ thân Trung Quốc và lo ngại Hàn Quốc bị biến thành tiền đồn đối đầu Bắc Kinh. Ngược lại, phe bảo thủ thì bảo vệ quyết định này, nhấn mạnh nhu cầu an ninh trước tên lửa Triều Tiên và coi THAAD là một phần không thể thiếu cho năng lực phòng thủ của Hàn Quốc.

Cuộc bầu cử tổng thống năm 2017 phần nào phản ánh tranh luận gay gắt đó. Ứng viên Moon Jae-in chỉ trích chính phủ tiền nhiệm nóng vội với THAAD. Sau khi đắc cử, Tổng thống Moon đã phải triển khai chiến lược ngoại giao mềm mỏng hơn để hàn gắn quan hệ với Bắc Kinh bằng cách đưa ra cam kết “3 Không” (không triển khai thêm trận địa THAAD, không tham gia mạng lưới phòng thủ tên lửa toàn cầu của Mỹ, không liên minh quân sự ba bên với Mỹ và Nhật) như một lời đảm bảo với Trung Quốc. Nhờ đó, Bắc Kinh dỡ bỏ dần các biện pháp trả đũa, và ông Moon đã phần nào duy trì thế cân bằng giữa hai siêu cường trong thời gian cầm quyền.

Tuy nhiên, cách tiếp cận với Trung Quốc lại thay đổi dưới thời tổng thống thuộc phe bảo thủ. Tổng thống Yoon Suk-yeol tỏ rõ lập trường mạnh mẽ hơn trước Bắc Kinh. Chính quyền Yoon sử dụng các cụm từ như “không thể chấp nhận việc thay đổi nguyên trạng đơn phương bằng vũ lực”, “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” và “bảo vệ trật tự kinh tế mở và công bằng” tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 2022 (diễn ra tại Campuchia) để nhắm vào Trung Quốc với tư cách là quốc gia ủng hộ Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ. Đồng thời, Seoul dưới thời Tổng thống Yoon tăng cường hợp tác công nghệ với Mỹ như tham gia chuỗi cung ứng chip bán dẫn “Chip 4”,  nhằm bảo đảm chuỗi cung ứng chip ổn định và hạn chế sự tham gia của Trung Quốc. Điều này cho thấy rõ sự khác nhau trong cách tiếp cận đối với Trung Quốc của phe bảo thủ đối với phe tiến bộ trong nền chính trị Hàn Quốc.

Đối với Nhật Bản, lịch sử đô hộ bán đảo Triều Tiên (1910-1945) và các tranh cãi xung quanh vấn đề quá khứ luôn phủ bóng lên quan hệ Hàn - Nhật. Sự phân cực chính trị nội bộ là nhân tố càng khiến cách tiếp cận với Tokyo trong nội bộ Hàn Quốc phân hóa rõ nét. Ở phe tiến bộ có xu hướng cứng rắn hơn về vấn đề lịch sử và tỏ ra thận trọng hơn trong việc hợp tác với Tokyo. Điều này bắt nguồn từ lập trường của phe này khi đòi hỏi Nhật Bản phải xin lỗi chân thành và bồi thường thích đáng cho các nạn nhân Hàn Quốc của thời kỳ chiếm đóng, như phụ nữ mua vui (comfort women), lao động cưỡng bức (forced labor), đồng thời lo ngại việc hợp tác an ninh với Nhật Bản có thể làm lu mờ những vấn đề lịch sử chưa được giải quyết dứt điểm. Ngược lại, phía đảng bảo thủ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác với Tokyo, coi hợp tác ba bên Mỹ - Nhật - Hàn là tất yếu trong việc đối phó lại với hai thách thức an ninh chính là Triều Tiên và Trung Quốc. Sự khác biệt này thể hiện rõ nét qua hai chính quyền liên tiếp là Moon Jae-in và Yoon Suk-yeol.

Thời Tổng thống Moon Jae-in, quan hệ Hàn - Nhật xấu đi nhanh chóng. Năm 2018, Tòa án Tối cao Hàn Quốc ra phán quyết yêu cầu các công ty Nhật Bản bồi thường cho lao động người Hàn bị cưỡng ép thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Tokyo phản đối kịch liệt phán quyết này vì cho rằng vấn đề đã được giải quyết xong từ Hiệp ước 1965 (về bình thường hóa quan hệ ngoại giao Nhật Bản và Hàn Quốc), dẫn tới căng thẳng leo thang trong quan hệ hai nước. Năm 2019, chính quyền Nhật Bản dưới thời Abe Shinzo áp đặt lệnh hạn chế xuất khẩu vật liệu công nghệ cao sang Hàn Quốc, còn chính quyền Moon Jae-in đáp trả bằng cách dọa hủy bỏ Hiệp định chia sẻ thông tin tình báo quân sự (General Security of Military Information Agreement - GSOMIA) với Tokyo. Trước đó, do vấp phải phản ứng dữ dội từ dư luận Hàn Quốc, ông Moon cũng đã vô hiệu hóa thỏa thuận năm 2015 về “phụ nữ mua vui” (với thỏa thuận này Nhật Bản chính thức lên tiếng xin lỗi những người phụ nữ là nạn nhân của vấn đề “phụ nữ mua vui” và thành lập Quỹ Hòa giải và chữa lành – “Reconciliation and Healing Foundation” để giải quyết vấn đề này) mà Hàn Quốc đã ký với Nhật Bản dưới thời Tổng thống Park Geun-hye. Những động thái này, cùng bầu không khí tẩy chay Nhật Bản như tẩy chay hàng Nhật, chấm dứt du lịch đến Nhật Bản... đã khiến lòng tin giữa Seoul và Tokyo sụt giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều thập niên. Hệ quả là hợp tác an ninh Hàn - Nhật đứng trước nguy cơ đổ vỡ trong giai đoạn 2018-2021; mối quan hệ này chỉ được duy trì nhờ vào sức ép từ phía Mỹ về việc đoàn kết trước mối đe dọa chung là Triều Tiên khi Bình Nhưỡng liên tục thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo.

Sau khi Yoon Suk-yeol lên nắm quyền (năm 2022), Hàn Quốc đảo chiều cách tiếp cận với Nhật Bản theo hướng thúc đẩy hợp tác. Yoon là tổng thống Hàn Quốc đầu tiên thăm Tokyo sau 12 năm (kể từ năm 2011) và mở đường cho Thủ tướng Nhật Kishida Fumio sang thăm Seoul vào năm 2024. Hai nước nhanh chóng phục hồi lại hoàn toàn GSOMIA, dỡ bỏ các hạn chế thương mại đối với nhau. Tổng thống Yoon coi việc cải thiện quan hệ hợp tác với Tokyo là ưu tiên chiến lược nhằm củng cố mặt trận an ninh chung với Mỹ để đối phó với Triều Tiên và các thách thức trong khu vực. Chính quyền Yoon Suk-yeol đã đơn phương đề xuất giải pháp cho vấn đề lao động cưỡng bức: thay vì buộc công ty Nhật bồi thường trực tiếp, Seoul lập quỹ bồi thường cho nạn nhân bằng nguồn tiền từ doanh nghiệp Hàn Quốc như một cách “thay Nhật xin lỗi”. Đặc biệt là hai nước đã cùng Mỹ tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh lịch sử tại Trại David (Mỹ) vào tháng 8/2023 để thiết lập cơ chế tham vấn an ninh ba bên thường trực. Bước tiến ngoại giao này mang tính bước ngoặt, đánh dấu việc hai quốc gia Đông Á gác lại bất đồng trong quá khứ để hướng tới hợp tác an ninh sâu rộng.

***

Như vậy, mặc dù Hàn Quốc theo mô hình đa đảng, nhưng trên thực tế chính trường nước này chủ yếu bị chi phối bởi hai trụ cột chính là Đảng Quyền lực Nhân dân và Đảng Dân chủ. Sự khác biệt về định hướng và ưu tiên chiến lược giữa hai đảng đã góp phần làm gia tăng phân cực chính trị, từ đó kéo theo sự phân hóa trong cách Hàn Quốc ứng xử với Triều Tiên, Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản. Điều này làm cho đường lối ngoại giao của Hàn Quốc có xu hướng dao động theo từng đời tổng thống, làm suy giảm tính nhất quán và khả năng hoạch định chiến lược dài hạn.

Phan Thanh Trường hiện là sinh viên chuyên ngành châu Á - Thái Bình Dương tại Học viện Ngoại giao. Trường quan tâm đến hệ thống chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại của Hàn Quốc. Email liên hệ: [email protected]

Một nền chính trị phân cực

Hệ thống chính trị Hàn Quốc hiện đại chứng kiến sự phân cực sâu sắc giữa hai phe chính: bảo thủ và tiến bộ. Hai đảng lớn là đảng Quyền lực nhân dân (People Power Party - PPP) (bảo thủ) và đảng Dân chủ (Democratic Party of Korea - DPK) (tiến bộ), luân phiên cầm quyền trong một cấu trúc cạnh tranh lưỡng đảng.

Trong bối cảnh đó, sự phân cực chính trị ngày càng rõ nét đã góp phần làm nổi bật các hình thức vận động mang tính đối đầu (negative campaigning) giữa các đảng thay vì cạnh tranh về sự khác biệt trong chính sách. Điều này dẫn đến bầu không khí chính trị đối kháng gay gắt, khi mỗi bên xem bên kia gần như là “kẻ thù” cần đánh bại hơn là đối tác để hợp tác.

Sự phân cực ngày càng gay gắt đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của nền dân chủ Hàn Quốc. Các cuộc tranh luận tại quốc hội thường rơi vào bế tắc do hai phe thiếu thiện chí thỏa hiệp, ngay cả đối với những vấn đề tưởng chừng phi chính trị. Việc chính phủ và quốc hội do hai đảng khác nhau kiểm soát cũng dẫn đến đối đầu leo thang.

Năm 2024, đảng đối lập Dân chủ thắng lớn trong bầu cử quốc hội giữa kỳ, gia tăng áp lực lên Tổng thống Yoon Suk-yeol và thúc đẩy xung đột quyền lực giữa nhánh lập pháp và nhánh hành pháp. Đỉnh điểm, tháng 12/2024, Tổng thống Yoon ban bố lệnh thiết quân luật trong bối cảnh bất ổn, một động thái cực đoan phản ánh tình trạng phân cực kéo dài thay vì một phản ứng bộc phát nhất thời.

Hành động này nhanh chóng dẫn tới việc Quốc hội do phe đối lập kiểm soát bỏ phiếu luận tội Tổng thống vào tháng 1, và sau đó Tòa án Hiến pháp thông qua quyết định này vào tháng 4/2025. Sự kiện gây nhiều tranh cãi đã đẩy nền chính trị Hàn Quốc vào cuộc khủng hoảng hiến pháp chưa từng có kể từ khi quốc gia này sửa đổi Hiến pháp năm 1987.

Tác động của phân cực chính trị đối với chính sách đối ngoại Hàn Quốc

Đối với Triều Tiên

Đối với vấn đề Triều Tiên, sự khác biệt giữa hai phe bộc lộ rõ rệt. Phe tiến bộ (Đảng Dân chủ) thường chủ trương cách tiếp cận hòa giải và hợp tác với Bình Nhưỡng. Kể từ cuối thập niên 1990, các chính quyền tự do của các tổng thống Kim Dae-jung hay Roh Moo-hyun đã triển khai lần lượt Chính sách Ánh Dương (Sunshine Policy) và Hòa bình và Thịnh vượng (Peace and Prosperity), ưu tiên viện trợ và đối thoại nhằm cải thiện quan hệ liên Triều. Tinh thần này được Tổng thống Moon Jae-in (2017-2022) kế thừa khi ông tích cực thúc đẩy các cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un trong năm 2018, ký Tuyên bố Panmunjom (hay Tuyên bố Bàn Môn Điếm) và Thỏa thuận Bình Nhưỡng (còn gọi là Hiệp định Quân sự Toàn diện) nhằm giảm căng thẳng quân sự và hướng tới phi hạt nhân hóa bán đảo. Dưới chính quyền mới của Tổng thống Lee Jae-myung, Hàn Quốc cũng ưu tiên các biện pháp ngoại giao mềm mỏng đối với Triều Tiên, kêu gọi cùng tồn tại hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Nhìn chung, các lãnh đạo thuộc Đảng dân chủ của Hàn Quốc đều coi đối thoại là con đường xây dựng lòng tin, giảm nguy cơ xung đột và tạo tiền đề cho thống nhất hòa bình trong tương lai.

Trái lại, phe bảo thủ ở Hàn Quốc có xu hướng siết chặt liên minh Hàn - Mỹ và đưa ra các quan điểm cứng rắn đối với Triều Tiên. Các chính quyền bảo thủ, tiêu biểu là dưới thời Lee Myung-bak (2008-2013), Park Geun-hye (2013-2017) và Yoon Suk-yeol (2022-2025) thường bày tỏ lập trường cứng rắn hơn, coi trọng trừng phạt kinh tế và gây sức ép an ninh để kiềm chế Triều Tiên. Các nhà lãnh đạo này đề cao năng lực phòng thủ và sự hiện diện của quân đội Mỹ như lá chắn trước mối đe dọa từ miền Bắc. Dưới thời Tổng thống Yoon Suk-yeol, Hàn Quốc khẳng định sẽ không nhượng bộ trừ khi Triều Tiên có bước đi cụ thể hướng tới phi hạt nhân, đồng thời tuyên bố xem xét cả các biện pháp mạnh như tấn công phủ đầu để “giành lại thế chủ động” mà ông Yoon cho là chính quyền tiền nhiệm đã đánh mất vào tay Bình Nhưỡng. Trong Chiến lược an ninh quốc gia của Hàn Quốc năm 2023, chính quyền Yoon coi vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là “thách thức an ninh lớn nhất” đối với Hàn Quốc, khẳng định phải tăng cường đáng kể sức mạnh quốc phòng quốc gia và tận dụng liên minh Hàn - Mỹ để đối phó.

Do phân cực nội bộ, chính sách liên Triều của Hàn Quốc thiếu nhất quán và bền vững. Bình Nhưỡng thường lợi dụng điều này, tranh thủ đối thoại và nhượng bộ từ phe tiến bộ ở Hàn Quốc. Nhưng sau đó, quan hệ liên Triều lại tiếp tục căng thẳng khi Hàn Quốc chuyển sang phe bảo thủ. Sự thiếu nhất quán này cũng khiến lập trường đối ngoại của Hàn Quốc “kém trọng lượng” trong mắt Bình Nhưỡng. Triều Tiên cho rằng chính quyền Hàn Quốc dù là “dân chủ” hay “bảo thủ” cũng có cùng mục tiêu là “lật đổ chế độ của Triều Tiên”. Nói cách khác, khi nội bộ Hàn Quốc không thống nhất về chính sách đối với Triều Tiên, Bình Nhưỡng sẽ hoài nghi liệu Seoul có dám hành động đến cùng hay không, từ đó có thể khiêu khích với các hành vi mạo hiểm hơn (như thử tên lửa tầm xa hay gây áp lực ở khu vực biên giới hai nước).

Đối với Mỹ

Mối quan hệ đồng minh Hàn - Mỹ cũng chịu tác động mạnh bởi sự phân cực chính trị ở Hàn Quốc. Nhìn chung, phe bảo thủ nhất quán duy trì quan điểm thân Mỹ, xem liên minh là nền tảng bảo đảm an ninh quốc gia. Từ sau Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), liên minh Hàn - Mỹ được Hàn Quốc coi như yếu tố răn đe sống còn trước mối đe dọa từ Triều Tiên. Do đó, các chính quyền thuộc đảng bảo thủ luôn tìm cách tăng cường thắt chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ, từ việc tăng chia sẻ chi phí quân sự, mua sắm vũ khí, cho tới tham gia các sáng kiến chiến lược do Washington dẫn dắt.

Dưới chính quyền Tổng thống Yoon Suk-yeol, liên minh Hàn - Mỹ được định vị như một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc. Ngay khi nhậm chức, ông Yoon đã đảo ngược chính sách “mập mờ chiến lược” (strategic ambiguity) của người tiền nhiệm, thực thi chính sách “rõ ràng chiến lược” (strategic clarity) bằng cách nghiêng hẳn Hàn Quốc về phía Mỹ. Năm 2023, nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập liên minh, với Tuyên bố Washington, quan hệ này được nâng lên một tầm cao mới khi hai nước thiết lập các chương trình nghị sự toàn cầu vượt khỏi phạm vi bán đảo Triều Tiên.

Ngược lại, phe tiến bộ chú trọng hơn đến tính tự chủ chiến lược của Hàn Quốc. Các tổng thống Hàn Quốc thuộc đảng Dân chủ tuy không phủ nhận tầm quan trọng của liên minh Hàn - Mỹ nhưng thường muốn giảm bớt sự lệ thuộc vào Washington. Việc này nhằm mở rộng không gian cho Seoul trong việc cải thiện quan hệ liên Triều và thúc đẩy quan hệ với các nước lớn khác. Các tổng thống theo đảng này lo ngại việc phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ có thể khiến Hàn Quốc vướng vào căng thẳng với Trung Quốc hoặc cản trở các sáng kiến hòa giải với Triều Tiên.

Dưới thời chính quyền Moon Jae-in, khái niệm “mập mờ chiến lược” được nhắc đến nhiều với hàm ý Seoul cố gắng cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc, duy trì liên minh với Washington nhưng tránh công khai đối đầu Bắc Kinh. Tổng thống Moon Jae-in đã tiếp tục khẳng định cam kết phòng thủ chung với Mỹ theo Hiệp ước phòng thủ tương trợ Hàn - Mỹ và hợp tác chặt chẽ với Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Tuy vậy, chính quyền Moon đồng thời theo đuổi chính sách “Hướng Nam mới” (New Southern Policy) nhằm đa dạng hóa quan hệ kinh tế - an ninh với các quốc gia ở phía Nam và giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc. Chính quyền Moon nhìn chung khá thận trọng không để Hàn Quốc bị cuốn vào cạnh tranh Mỹ - Trung, thể hiện qua việc Seoul giữ khoảng cách với khối QUAD (gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia), hay không tham gia các động thái chống Trung Quốc mà Mỹ khởi xướng.

Chính quyền Tổng thống Lee Jae-myung cũng khẳng định rằng “Rõ ràng liên minh Hàn - Mỹ nên tiếp tục là nền tảng của ngoại giao và an ninh của chúng ta, và cần được tăng cường hơn nữa…”, nhưng ông cũng lưu ý rằng “chúng ta không nên đặt tất cả trứng vào một giỏ”. Tuyên bố này hàm ý rằng Hàn Quốc vẫn coi trọng liên minh, nhưng đồng thời sẽ nỗ lực tăng cường mở rộng quan hệ hơn với các quốc gia khác.

Đối với Trung Quốc và Nhật Bản

Sự phân cực chính trị cũng bao trùm trong cách Seoul ứng xử với hai nước láng giềng quan trọng là Trung Quốc và Nhật Bản. Quan hệ giữa Seoul với Bắc Kinh và Tokyo rất nhạy cảm, vì tình cảm dân tộc chủ nghĩa và tính toán địa chính trị đan xen, khiến các phe phái chính trị Hàn Quốc có cách tiếp cận khác nhau trong vấn đề đối ngoại với hai nước láng giềng.

Đối với Trung Quốc, phe tiến bộ của Hàn Quốc có xu hướng hòa dịu hơn với Bắc Kinh, xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng kinh tế của Trung Quốc và mong muốn tranh thủ vai trò của Bắc Kinh trong tiến trình hòa bình Triều Tiên. Vào thập niên 2000, các tổng thống thuộc đảng Dân chủ ở Hàn Quốc thường tỏ ra lạc quan về sự “trỗi dậy” của Trung Quốc và kêu gọi Hàn Quốc tăng cường hợp tác kinh tế với Bắc Kinh, đồng thời đôi khi tỏ ra hoài nghi trước một số động thái của Mỹ mà họ cho là có thể “chọc giận” Trung Quốc. Ngược lại, phe bảo thủ tỏ ra cảnh giác hơn với Bắc Kinh. Họ coi Trung Quốc vừa là hậu thuẫn chính của chính quyền Bình Nhưỡng, vừa là một cường quốc có thể đe dọa lợi ích an ninh của Hàn Quốc (như việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự và yêu sách lãnh thổ ở khu vực). Do vậy, các chính quyền bảo thủ của Hàn Quốc sẵn sàng phối hợp chặt hơn với Mỹ để kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc, cho dù phải chấp nhận rủi ro về kinh tế khi Bắc Kinh trả đũa.

Sự kiện Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (Terminal High Altitude Area Defense – THAAD) 2016-2017 là minh chứng điển hình cho cách tiếp cận của phe bảo thủ. Khi chính quyền Park Geun-hye quyết định triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD của Mỹ trên đất Hàn Quốc, Trung Quốc phản ứng gay gắt bằng một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế và văn hóa (như cấm tour du lịch, tẩy chay hàng hóa và nghệ thuật Hàn Quốc). Trong nước, vấn đề THAAD trở thành tâm điểm tranh cãi phân cực khi các nhóm ủng hộ phe tiến bộ lên án việc triển khai THAAD, họ lên án phe bảo thủ thân Trung Quốc và lo ngại Hàn Quốc bị biến thành tiền đồn đối đầu Bắc Kinh. Ngược lại, phe bảo thủ thì bảo vệ quyết định này, nhấn mạnh nhu cầu an ninh trước tên lửa Triều Tiên và coi THAAD là một phần không thể thiếu cho năng lực phòng thủ của Hàn Quốc.

Cuộc bầu cử tổng thống năm 2017 phần nào phản ánh tranh luận gay gắt đó. Ứng viên Moon Jae-in chỉ trích chính phủ tiền nhiệm nóng vội với THAAD. Sau khi đắc cử, Tổng thống Moon đã phải triển khai chiến lược ngoại giao mềm mỏng hơn để hàn gắn quan hệ với Bắc Kinh bằng cách đưa ra cam kết “3 Không” (không triển khai thêm trận địa THAAD, không tham gia mạng lưới phòng thủ tên lửa toàn cầu của Mỹ, không liên minh quân sự ba bên với Mỹ và Nhật) như một lời đảm bảo với Trung Quốc. Nhờ đó, Bắc Kinh dỡ bỏ dần các biện pháp trả đũa, và ông Moon đã phần nào duy trì thế cân bằng giữa hai siêu cường trong thời gian cầm quyền.

Tuy nhiên, cách tiếp cận với Trung Quốc lại thay đổi dưới thời tổng thống thuộc phe bảo thủ. Tổng thống Yoon Suk-yeol tỏ rõ lập trường mạnh mẽ hơn trước Bắc Kinh. Chính quyền Yoon sử dụng các cụm từ như “không thể chấp nhận việc thay đổi nguyên trạng đơn phương bằng vũ lực”, “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” và “bảo vệ trật tự kinh tế mở và công bằng” tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 2022 (diễn ra tại Campuchia) để nhắm vào Trung Quốc với tư cách là quốc gia ủng hộ Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ. Đồng thời, Seoul dưới thời Tổng thống Yoon tăng cường hợp tác công nghệ với Mỹ như tham gia chuỗi cung ứng chip bán dẫn “Chip 4”,  nhằm bảo đảm chuỗi cung ứng chip ổn định và hạn chế sự tham gia của Trung Quốc. Điều này cho thấy rõ sự khác nhau trong cách tiếp cận đối với Trung Quốc của phe bảo thủ đối với phe tiến bộ trong nền chính trị Hàn Quốc.

Đối với Nhật Bản, lịch sử đô hộ bán đảo Triều Tiên (1910-1945) và các tranh cãi xung quanh vấn đề quá khứ luôn phủ bóng lên quan hệ Hàn - Nhật. Sự phân cực chính trị nội bộ là nhân tố càng khiến cách tiếp cận với Tokyo trong nội bộ Hàn Quốc phân hóa rõ nét. Ở phe tiến bộ có xu hướng cứng rắn hơn về vấn đề lịch sử và tỏ ra thận trọng hơn trong việc hợp tác với Tokyo. Điều này bắt nguồn từ lập trường của phe này khi đòi hỏi Nhật Bản phải xin lỗi chân thành và bồi thường thích đáng cho các nạn nhân Hàn Quốc của thời kỳ chiếm đóng, như phụ nữ mua vui (comfort women), lao động cưỡng bức (forced labor), đồng thời lo ngại việc hợp tác an ninh với Nhật Bản có thể làm lu mờ những vấn đề lịch sử chưa được giải quyết dứt điểm. Ngược lại, phía đảng bảo thủ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác với Tokyo, coi hợp tác ba bên Mỹ - Nhật - Hàn là tất yếu trong việc đối phó lại với hai thách thức an ninh chính là Triều Tiên và Trung Quốc. Sự khác biệt này thể hiện rõ nét qua hai chính quyền liên tiếp là Moon Jae-in và Yoon Suk-yeol.

Thời Tổng thống Moon Jae-in, quan hệ Hàn - Nhật xấu đi nhanh chóng. Năm 2018, Tòa án Tối cao Hàn Quốc ra phán quyết yêu cầu các công ty Nhật Bản bồi thường cho lao động người Hàn bị cưỡng ép thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Tokyo phản đối kịch liệt phán quyết này vì cho rằng vấn đề đã được giải quyết xong từ Hiệp ước 1965 (về bình thường hóa quan hệ ngoại giao Nhật Bản và Hàn Quốc), dẫn tới căng thẳng leo thang trong quan hệ hai nước. Năm 2019, chính quyền Nhật Bản dưới thời Abe Shinzo áp đặt lệnh hạn chế xuất khẩu vật liệu công nghệ cao sang Hàn Quốc, còn chính quyền Moon Jae-in đáp trả bằng cách dọa hủy bỏ Hiệp định chia sẻ thông tin tình báo quân sự (General Security of Military Information Agreement - GSOMIA) với Tokyo. Trước đó, do vấp phải phản ứng dữ dội từ dư luận Hàn Quốc, ông Moon cũng đã vô hiệu hóa thỏa thuận năm 2015 về “phụ nữ mua vui” (với thỏa thuận này Nhật Bản chính thức lên tiếng xin lỗi những người phụ nữ là nạn nhân của vấn đề “phụ nữ mua vui” và thành lập Quỹ Hòa giải và chữa lành – “Reconciliation and Healing Foundation” để giải quyết vấn đề này) mà Hàn Quốc đã ký với Nhật Bản dưới thời Tổng thống Park Geun-hye. Những động thái này, cùng bầu không khí tẩy chay Nhật Bản như tẩy chay hàng Nhật, chấm dứt du lịch đến Nhật Bản... đã khiến lòng tin giữa Seoul và Tokyo sụt giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều thập niên. Hệ quả là hợp tác an ninh Hàn - Nhật đứng trước nguy cơ đổ vỡ trong giai đoạn 2018-2021; mối quan hệ này chỉ được duy trì nhờ vào sức ép từ phía Mỹ về việc đoàn kết trước mối đe dọa chung là Triều Tiên khi Bình Nhưỡng liên tục thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo.

Sau khi Yoon Suk-yeol lên nắm quyền (năm 2022), Hàn Quốc đảo chiều cách tiếp cận với Nhật Bản theo hướng thúc đẩy hợp tác. Yoon là tổng thống Hàn Quốc đầu tiên thăm Tokyo sau 12 năm (kể từ năm 2011) và mở đường cho Thủ tướng Nhật Kishida Fumio sang thăm Seoul vào năm 2024. Hai nước nhanh chóng phục hồi lại hoàn toàn GSOMIA, dỡ bỏ các hạn chế thương mại đối với nhau. Tổng thống Yoon coi việc cải thiện quan hệ hợp tác với Tokyo là ưu tiên chiến lược nhằm củng cố mặt trận an ninh chung với Mỹ để đối phó với Triều Tiên và các thách thức trong khu vực. Chính quyền Yoon Suk-yeol đã đơn phương đề xuất giải pháp cho vấn đề lao động cưỡng bức: thay vì buộc công ty Nhật bồi thường trực tiếp, Seoul lập quỹ bồi thường cho nạn nhân bằng nguồn tiền từ doanh nghiệp Hàn Quốc như một cách “thay Nhật xin lỗi”. Đặc biệt là hai nước đã cùng Mỹ tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh lịch sử tại Trại David (Mỹ) vào tháng 8/2023 để thiết lập cơ chế tham vấn an ninh ba bên thường trực. Bước tiến ngoại giao này mang tính bước ngoặt, đánh dấu việc hai quốc gia Đông Á gác lại bất đồng trong quá khứ để hướng tới hợp tác an ninh sâu rộng.

***

Như vậy, mặc dù Hàn Quốc theo mô hình đa đảng, nhưng trên thực tế chính trường nước này chủ yếu bị chi phối bởi hai trụ cột chính là Đảng Quyền lực Nhân dân và Đảng Dân chủ. Sự khác biệt về định hướng và ưu tiên chiến lược giữa hai đảng đã góp phần làm gia tăng phân cực chính trị, từ đó kéo theo sự phân hóa trong cách Hàn Quốc ứng xử với Triều Tiên, Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản. Điều này làm cho đường lối ngoại giao của Hàn Quốc có xu hướng dao động theo từng đời tổng thống, làm suy giảm tính nhất quán và khả năng hoạch định chiến lược dài hạn.

Phan Thanh Trường hiện là sinh viên chuyên ngành châu Á - Thái Bình Dương tại Học viện Ngoại giao. Trường quan tâm đến hệ thống chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại của Hàn Quốc. Email liên hệ: [email protected]

Từ khoá: Hàn Quốc phân cực chính trị Mỹ Nhật Bản Trung Quốc

BÀI LIÊN QUAN