Động thái chính trị đương đại của Chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản

Bài viết này lý giải sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản hiện đại như hệ quả từ việc kết hợp đồng thời các cải cách kinh tế tự do với xu hướng chính trị phản tự do và xét lại lịch sử.

Lý Hoàng Đức 30/07/2026
Image
Cố Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo tại một buổi duyệt binh hồi tháng 10/2018 - (C): EPA

Nguồn: Nakano Koichi, “Contemporary Political Dynamics Of Japanese Nationalism,” The Asia-Pacific Journal, Vol. 14, No. 6, 2016.

Lược dịch: Lý Hoàng Đức

Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.

Nakano Koichi là Giáo sư Chính trị học tại Khoa Nghệ thuật Tự do, Đại học Sophia (Tokyo). Các nghiên cứu của ông tập trung vào chính trường Nhật Bản, bảo thủ học và bộ máy hành chính nhà nước. Ông đã công bố nhiều bài nghiên cứu trên các tạp chí học thuật danh tiếng như The Journal of Japanese Studies, Asian Survey, The Pacific Review, West European Politics, Governance; đồng thời là tác giả của cuốn sách “Party Politics and Decentralization in Japan and France: When the Opposition Governs (Routledge, 2010)” cùng nhiều công trình khác.

Bài luận này xem xét lý do tại sao chủ nghĩa dân tộc dường như đang trỗi dậy ở châu Á và xa hơn nữa, ngay tại thời điểm mà quá trình toàn cầu hóa cũng trở nên rõ nét hơn. Bài viết tập trung vào các động thái chính trị đã thúc đẩy cả hai sự thay đổi này tại Nhật Bản trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh. Loại hình chủ nghĩa dân tộc cởi mở và tự do xuất hiện ở Nhật Bản từ những năm 1980 đến giữa thập niên 1990 đã bị thay thế bởi một làn sóng phản kháng mạnh mẽ của chủ nghĩa xét lại (revisionism) bắt đầu từ cuối những năm 1990. Bước ngoặt phản tự do và độc đoán này trong chủ nghĩa dân tộc đương đại đã được khẳng định và đẩy nhanh dưới thời Thủ tướng Koizumi Junichiro (2001-2006), khi các cải cách tân tự do (neoliberal) sâu rộng được triển khai đồng thời. Tôi lập luận rằng sự chuyển đổi “Cánh hữu mới” (New Right) của chính trường Nhật Bản - sự kết hợp giữa ưu thế của chủ nghĩa tự do kinh tế và tính chất phản tự do về chính trị - chính là động lực thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc đương đại tại Nhật Bản.

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Chủ nghĩa Xét lại

Theo các cuộc khảo sát hằng năm của Văn phòng Nội các Nhật Bản, trong những năm gần đây, thái độ tiêu cực đối với Trung Quốc và Hàn Quốc đã gia tăng mạnh mẽ tại Nhật Bản. Cuộc khảo sát năm 2014 cho thấy 93% người Nhật tham gia khảo sát có tình cảm tiêu cực đối với Trung Quốc, vốn được xem là một mối đe dọa ngày càng lớn đối với Nhật Bản. Sự gia tăng này diễn ra theo hai giai đoạn: đầu tiên là vào giữa thập niên 2000 dưới chính phủ Koizumi, khi ông thực hiện các cuộc viếng thăm hằng năm tới Đền Yasukuni, và việc này khiến quan hệ Nhật - Trung xấu đi; và sau đó là vào đầu thập niên 2010 khi căng thẳng leo thang xoay quanh tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.

Về quan điểm của người Nhật đối với Hàn Quốc, quan điểm tích cực đã sụt giảm nghiêm trọng vào năm 2012 khi quan hệ song phương xấu đi sau chuyến thăm của Tổng thống Lee Myung-bak tới đảo Takeshima/Dokdo (nơi cũng đang chịu các yêu sách chủ quyền chồng chéo tương tự như với Trung Quốc). Chuyến thăm này được cho là do sự thất vọng về việc thiếu tiến triển trong việc giải quyết vấn đề “phụ nữ giải khuây” (comfort women – những phụ nữ bị cưỡng bức làm nô lệ tình dục trong các nhà chứa quân đội thời chiến theo lệnh của chính quyền quân sự Nhật Bản). Cuộc khảo sát tương tự vào năm 2014 của Văn phòng Nội các chỉ ra rằng 66,4% người dân Nhật Bản có ác cảm với Hàn Quốc.

Thực tế là cảm xúc tiêu cực đối với Trung Quốc luôn duy trì ổn định ở mức khoảng 20% cho đến sự kiện Thiên An Môn ngày 4/6/1989, trong khi ác cảm với Hàn Quốc chỉ dưới mức 40% cho mãi tới gần đây như năm 2011. Do đó, đây là những diễn biến đáng lo ngại đối với tương lai của Đông Bắc Á.

Hơn nữa, một nghiên cứu về các tạp chí hàng tháng có ảnh hưởng lớn của phe bảo thủ như Shokun! và Seiron cũng xác nhận xu hướng bài ngoại ngày càng tăng trong giới truyền thông. Các bài báo với tiêu đề chứa các cụm từ như han-nichi (phản Nhật) liên quan đến Trung Quốc và Hàn Quốc đã gia tăng đột biến vào cuối những năm 1990 và tiếp tục tăng mạnh suốt thập niên 2000. Tác phẩm manga phổ biến Ken Kanryu (Ghét làn sóng Hàn Quốc) xuất bản năm 2005 đã phá bỏ rào cản cấm kỵ về phát ngôn thù hận, kéo theo vô số các ấn phẩm tương tự với thông điệp chính là thù ghét Hàn Quốc và Trung Quốc. Ngày nay, những cuốn sách và tạp chí giật gân kích động tâm lý bài trừ Trung Quốc hoặc/và Hàn Quốc đã trở thành một hiện tượng phổ biến đáng báo động tại các hiệu sách Nhật Bản và trên cả các chuyến tàu đi làm của nhân viên công sở, nơi các tuần báo mang tính dân túy liên tục thể hiện những thông điệp thù hận nhắm vào hai quốc gia này.

Các cuộc biểu tình của tổ chức Zaitokukai nhắm vào người gốc Triều Tiên tại Nhật Bản

Mặc dù không có bạo lực hay bạo loạn chống lại người Trung Quốc hay Hàn Quốc ở Nhật Bản trong những năm gần đây, nhưng các cuộc biểu tình thù hận chống lại cộng đồng người gốc Triều Tiên cư trú tại Nhật (Zainichi) đã trở thành một vấn đề xã hội nổi bật. Điều này đặc biệt từ khi tổ chức Zaitokukai (viết tắt của Zainichi Tokken o Yurusanai Shimin no Kai, Nhóm Công dân Chống lại Quyền lợi Đặc biệt cho Người Hàn Quốc tại Nhật Bản) được thành lập năm 2007. Những người Nhật “bình thường”, vốn trước đây chỉ tiêu thụ các ấn phẩm kích động thù hận và lan truyền thông điệp chủ nghĩa dân tộc cực đoan trên mạng Internet, sau đó đã xuống đường và thét ra những lời chửi bới, khủng bố cư dân gốc Triều Tiên thường trú tại Nhật Bản. Cộng đồng Zainichi bị nhắm tới dựa trên những niềm tin vô căn cứ rằng họ được hưởng các đặc quyền đặc lợi, cũng như là “thiệt hại đi kèm” (collateral damage) của mối quan hệ ngày càng tồi tệ giữa Nhật Bản với Hàn Quốc do những bất bình lịch sử chưa được giải quyết và các tranh chấp lãnh thổ, sự phẫn nộ về việc Triều Tiên bắt cóc công dân Nhật Bản, và những lo ngại do chương trình tên lửa và vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng gây ra.

Thứ hai, có một sự trỗi dậy ngoạn mục của chủ nghĩa xét lại trong chính trị và truyền thông chính thống. Sự gia tăng nhanh chóng các bài báo thù hận trên các phương tiện truyền thông bảo thủ trực tiếp được kích hoạt bởi các báo cáo năm 1996 rằng tất cả sách giáo khoa lịch sử do Bộ Giáo dục phê duyệt để sử dụng trong các trường trung học cơ sở từ năm 1997 đều đưa vấn đề “phụ nữ giải khuây” vào chương trình. Phản ứng dữ dội trước diễn biến này, những người theo chủ nghĩa dân tộc xét lại trong giới chính trị và truyền thông đã tung ra một cuộc phản công có tổ chức. Họ ủng hộ một câu chuyện mang tính bào chữa và tôn vinh các hành động của Nhật Bản thời chiến, đồng thời tìm cách sửa đổi sự đồng thuận phổ biến vốn có mà họ lên án là mang tính “tự nhục” (masochistic) vì quá chỉ trích hành vi của Nhật Bản.

Vì vậy, vào tháng 1/1997, hội Tsukurukai (tên viết tắt của Atarashii Rekishi Kyōkasho o Tsukurukai, Hiệp hội Cải cách Sách giáo khoa Lịch sử Nhật Bản) được thành lập bởi các nhân vật truyền thông và học giả cánh hữu. Tiếp đó vào tháng 2/1997, các chính trị gia như Nakagawa Shoichi và Abe Shinzo đã lãnh đạo một nhóm nghị sĩ trẻ thành lập Hiệp hội Nghị sĩ trẻ cùng quan tâm đến tương lai của Nhật Bản và giáo dục lịch sử. Tháng 5 cùng năm, Hội nghị Nhật Bản (Nippon Kaigi) được thành lập như một nhóm vận động hành lang quyền lực kết nối các trí thức theo chủ nghĩa dân tộc mới, các lãnh đạo doanh nghiệp và cánh hữu tôn giáo (các nhóm Thần đạo cũng như các tôn giáo mới). Nippon Kaigi cũng có một chi nhánh nghị sĩ với hầu hết thành viên đến từ Đảng Dân chủ Tự do (LDP), đảng đã thống trị chính trường Nhật Bản kể từ khi thành lập năm 1955. Sự nở rộ của phong trào xét lại này đã đạt đỉnh điểm vào năm 1997. Ngay từ đầu, các tập đoàn truyền thông bảo thủ như tập đoàn Fuji-Sankei (xuất bản Seiron cũng như báo Sankei) và Bungei Shunju (từng xuất bản Shokun! và một số ấn phẩm khác) đã cung cấp nền tảng truyền thông cho những nỗ lực phối hợp này.

Mặc dù các học giả uyên bác vào cuối những năm 1990 đã bác bỏ những tuyên bố xét lại lịch sử là vô căn cứ và mâu thuẫn với bằng chứng hiện có, nhưng đến khi Abe kế nhiệm Koizumi làm Thủ tướng vào năm 2006, mọi đề cập đến “phụ nữ giải khuây” đã biến mất khỏi các sách giáo khoa chính thức được chính phủ phê duyệt.

Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở thời điểm này là hai hiện tượng chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa xét lại về bản chất là những quá trình do giới tinh hoa chi phối chứ không phản ánh tình cảm của người dân hay dư luận. Giới tinh hoa chính trị và truyền thông đã đi đầu trong việc thổi phồng tình cảm tiêu cực đối với các nước láng giềng của Nhật Bản, thường là để đáp trả những gì họ coi là khiêu khích từ phía Trung Quốc và Hàn Quốc. Tuy nhiên, khi nhìn vào diễn biến theo thời gian, rõ ràng là chủ nghĩa bài ngoại trong dân chúng Nhật Bản đã bị kích động bởi giới tinh hoa chính trị và truyền thông.

Mặc dù hoàn toàn hợp lý khi đặt câu hỏi về ý nghĩa của chủ nghĩa bài ngoại “từ trên xuống” (đặc biệt là tình cảm chống Trung Quốc và chống Hàn Quốc) và chủ nghĩa xét lại lịch sử được thảo luận ở đây cấu thành “chủ nghĩa dân tộc”, nhưng rõ ràng đây là những xu hướng đáng lo ngại khi chúng làm gia tăng căng thẳng giữa Nhật Bản và các nước láng giềng Đông Á, nơi mà thái độ chống Nhật Bản là một tiêu chí quan trọng để định nghĩa “chủ nghĩa dân tộc”.

Con đường Tân tự do và con đường Tự do tới Chủ nghĩa Dân tộc

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc đương đại kể từ cuối những năm 1990 càng trở nên kỳ lạ hơn khi ta xem xét nguồn gốc của nó. Xét cho cùng, Nhật Bản dường như đã đi theo con đường chủ nghĩa quốc tế tân tự do (neoliberal internationalism) kể từ những năm 1980.

Khi Hiệp ước về quan hệ cơ bản với Hàn Quốc được ký kết vào năm 1965, Thông cáo chung đã ghi nhận sự “tiếc nuối” (ikan) và “hối lỗi sâu sắc” (fukaku hansei) từ phía Nhật Bản. Và tương tự, khi Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm 1972, Thông cáo chung tuyên bố rằng, “Phía Nhật Bản nhận thức sâu sắc trách nhiệm về những thiệt hại nghiêm trọng mà Nhật Bản đã gây ra cho nhân dân Trung Hoa trong quá khứ thông qua chiến tranh, và tự trách mình sâu sắc” (sekinin wo tsukanshi, fukaku hansei suru).

Các nhà lãnh đạo vào thời điểm đó coi những biểu hiện này là đủ và thích hợp. Tuy nhiên, vấn đề ký ức chiến tranh bắt đầu trở nên gay gắt hơn và biến thành một vấn đề ngoại giao dưới hình thức tranh cãi về sách giáo khoa lịch sử nổ ra năm 1982 về những thay đổi được cho là trong cách diễn đạt các mô tả của Nhật Bản về cuộc xâm lược Trung Quốc (mà sau đó được chứng minh là không chính xác). Để đáp lại, Nhật Bản đã ban hành Tuyên bố Miyazawa năm 1982 về sách giáo khoa lịch sử do Chánh Văn phòng Nội các Miyazawa Kiichi soạn thảo, trong đó lưu ý rằng “tinh thần trong Tuyên bố chung Nhật Bản-Hàn Quốc và Tuyên bố chung Nhật Bản-Trung Quốc đương nhiên cũng cần được tôn trọng trong giáo dục trường học và việc phê duyệt sách giáo khoa của chính phủ Nhật Bản. Tuy nhiên, gần đây, Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước khác đã chỉ trích một số mô tả trong sách giáo khoa của Nhật Bản. Từ góc độ xây dựng tình hữu nghị và thiện chí với các nước láng giềng, Nhật Bản sẽ chú ý đúng mức đến những lời chỉ trích này và thực hiện các chỉnh sửa với trách nhiệm của Chính phủ”.

Điều này dẫn tới việc đưa vào điều khoản “các quốc gia lân cận” trong tiêu chuẩn phê duyệt sách giáo khoa của Bộ Giáo dục, quy định rằng “cần có sự cân nhắc thích đáng từ góc độ hiểu biết quốc tế và hợp tác quốc tế khi đề cập đến các vấn đề lịch sử hiện đại có liên quan đến các nước láng giềng châu Á”. Những cải tiến trong các sách giáo khoa lịch sử đã được thực hiện sau đó, nhưng trong chính trường Nhật Bản đương đại, điều khoản này đang bị cánh hữu xét lại phản đối dữ dội; và đến năm 2015, Thủ tướng Abe gần như đã từ bỏ nó.

[…] Nhật Bản trong thời đại của Thủ tướng Nakasone (thập niên 1980) cũng đang đẩy mạnh các cải cách tân tự do với tham vọng đóng vai trò lãnh đạo mạnh mẽ hơn trong trật tự kinh tế tự do toàn cầu. […] Trong bối cảnh này, các nhà lãnh đạo chính trị Nhật Bản khi đó hiểu rằng việc hòa giải với các quốc gia từng là nạn nhân của quá khứ quân phiệt (Trung Quốc, Hàn Quốc) là tiền đề bắt buộc để hiện thực hóa các tham vọng đó. […]

Bước ngoặt Phản tự do và Xét lại

Quá trình mở cửa tự do (liberal) của các xã hội trên toàn thế giới vẫn tiếp diễn trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh, và dường như những vấn đề lịch sử nan giải nảy sinh sẽ được giải quyết bởi chính giới tinh hoa chính trị tự do đó. […]

Tại Nhật Bản, vào cuối những năm 1990, đã có một sự chuyển giao thế hệ nhanh chóng trong giới tinh hoa chính trị. Những người có kinh nghiệm trực tiếp về chiến tranh đã được thay thế bằng những chính trị gia trẻ tuổi không có trải nghiệm đó. Họ sinh ra và lớn lên trong đặc quyền, là “con ông cháu cha” (hereditary scions) của các gia tộc chính trị. Những nhân vật mới này thường phản đối việc bày tỏ sự tội lỗi hay hối hận về chiến tranh. […]

Đáng chú ý, xu hướng chính trị hữu khuynh tại Nhật Bản trong thế kỷ 21 diễn ra đồng thời với sự suy thoái kinh tế. […] Nhật Bản đối mặt với sự đình trệ kéo dài, nợ công tăng vọt và sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn. […] Tình trạng bấp bênh (precarity) đánh vào các tầng lớp dưới của xã hội và giới trẻ. Trong cuộc khủng hoảng xã hội cấp tính này, các nhà lãnh đạo chính trị đã tìm cách đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận vào “kẻ thù bên ngoài”. […] Chủ nghĩa dân tộc hay các chiến dịch bài ngoại đã cung cấp một lựa chọn “không tốn kém” (no-cost) thay thế cho việc cung cấp an sinh xã hội đầy đủ, cho phép giới cầm quyền trốn tránh trách nhiệm và tạo ra một cảm giác đoàn kết dân tộc giả tạo. […] Đúng như Tiến sĩ Samuel Johnson từng nhận xét: “Chủ nghĩa yêu nước là nơi nương náu cuối cùng của những kẻ vô lại”; trong khi ở Nhật Bản đương đại, nó lại là liều thuốc an thần của phe bảo thủ trước những những gì mà quốc gia đang gặp phải. […]

Chủ nghĩa Bài ngoại, Xét lại và Độc đoán dưới thời Koizumi và Abe

[…] Thủ tướng Koizumi Junichiro đã khôn khéo sử dụng các biểu tượng dân tộc chủ nghĩa để tỏ ra là một nhà lãnh đạo kiên quyết và thúc đẩy chương trình kinh tế của mình. Các cuộc viếng thăm đền Yasukuni hàng năm của ông là một ví dụ điển hình. [….] Thủ tướng Abe Shinzo còn tiến xa hơn khi dùng các cải cách kinh tế để đánh lạc hướng dư luận khỏi chương trình xét lại lịch sử chiến tranh và việc sửa đổi hiến pháp, cùng với việc nâng cao hồ sơ an ninh của Nhật Bản. […]

Để củng cố quyền lực, Thủ tướng Abe đã thắt chặt quyền kiểm soát đối với truyền thông, đặc biệt là NHK, […] và tiến hành các cuộc tấn công có tổ chức vào tờ báo có thiên hướng tự do như Asahi sau khi tờ này đính chính một số bài viết về “phụ nữ giải khuây” từ thập niên 1990. […] Chiến dịch của phe xét lại nhằm truyền bá ấn tượng sai lệch rằng toàn bộ hệ thống nô lệ tình dục chỉ là sự bịa đặt, và tìm cách viết lại lịch sử chung của Nhật Bản với châu Á theo hướng gây nguy hại đến lợi ích khu vực của Nhật Bản.

Hơn nữa, Abe còn theo đuổi chương trình xét lại này trên bình diện quốc tế. Các nhà ngoại giao Nhật Bản tại New York đã nỗ lực (nhưng không thành công) yêu cầu nhà xuất bản McGraw-Hill sửa đổi phần mô tả về phụ nữ giải khuây trong một cuốn sách giáo khoa lịch sử của Mỹ. Điều này đã gây ra một thảm họa quan hệ công chúng cho Nhật Bản, dẫn đến việc các học giả lịch sử hàng đầu tại Mỹ bày tỏ sự thất vọng về nỗ lực của chính phủ Nhật Bản trong việc đàn áp các tuyên bố lịch sử. […]

Chủ nghĩa dân tộc mang tính tự tôn của Abe và thiên hướng xét lại mạnh mẽ đã khiến các quốc gia láng giềng xa lánh và Mỹ ngày càng lúng túng. Ngay cả khi Washington coi Abe là đồng minh vì ông đáp ứng được các yêu cầu an ninh lâu dài […], ông cũng đang tự biến mình thành một đối tác khó xử vì hành động cứng rắn và phản tác dụng đối với mục tiêu chung của khu vực.

Lý Hoàng Đức hiện đang là sinh viên năm 2 khoa Nhật Bản học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn: Nakano Koichi, “Contemporary Political Dynamics Of Japanese Nationalism,” The Asia-Pacific Journal, Vol. 14, No. 6, 2016.

Lược dịch: Lý Hoàng Đức

Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.

Nakano Koichi là Giáo sư Chính trị học tại Khoa Nghệ thuật Tự do, Đại học Sophia (Tokyo). Các nghiên cứu của ông tập trung vào chính trường Nhật Bản, bảo thủ học và bộ máy hành chính nhà nước. Ông đã công bố nhiều bài nghiên cứu trên các tạp chí học thuật danh tiếng như The Journal of Japanese Studies, Asian Survey, The Pacific Review, West European Politics, Governance; đồng thời là tác giả của cuốn sách “Party Politics and Decentralization in Japan and France: When the Opposition Governs (Routledge, 2010)” cùng nhiều công trình khác.

Bài luận này xem xét lý do tại sao chủ nghĩa dân tộc dường như đang trỗi dậy ở châu Á và xa hơn nữa, ngay tại thời điểm mà quá trình toàn cầu hóa cũng trở nên rõ nét hơn. Bài viết tập trung vào các động thái chính trị đã thúc đẩy cả hai sự thay đổi này tại Nhật Bản trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh. Loại hình chủ nghĩa dân tộc cởi mở và tự do xuất hiện ở Nhật Bản từ những năm 1980 đến giữa thập niên 1990 đã bị thay thế bởi một làn sóng phản kháng mạnh mẽ của chủ nghĩa xét lại (revisionism) bắt đầu từ cuối những năm 1990. Bước ngoặt phản tự do và độc đoán này trong chủ nghĩa dân tộc đương đại đã được khẳng định và đẩy nhanh dưới thời Thủ tướng Koizumi Junichiro (2001-2006), khi các cải cách tân tự do (neoliberal) sâu rộng được triển khai đồng thời. Tôi lập luận rằng sự chuyển đổi “Cánh hữu mới” (New Right) của chính trường Nhật Bản - sự kết hợp giữa ưu thế của chủ nghĩa tự do kinh tế và tính chất phản tự do về chính trị - chính là động lực thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc đương đại tại Nhật Bản.

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Chủ nghĩa Xét lại

Theo các cuộc khảo sát hằng năm của Văn phòng Nội các Nhật Bản, trong những năm gần đây, thái độ tiêu cực đối với Trung Quốc và Hàn Quốc đã gia tăng mạnh mẽ tại Nhật Bản. Cuộc khảo sát năm 2014 cho thấy 93% người Nhật tham gia khảo sát có tình cảm tiêu cực đối với Trung Quốc, vốn được xem là một mối đe dọa ngày càng lớn đối với Nhật Bản. Sự gia tăng này diễn ra theo hai giai đoạn: đầu tiên là vào giữa thập niên 2000 dưới chính phủ Koizumi, khi ông thực hiện các cuộc viếng thăm hằng năm tới Đền Yasukuni, và việc này khiến quan hệ Nhật - Trung xấu đi; và sau đó là vào đầu thập niên 2010 khi căng thẳng leo thang xoay quanh tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.

Về quan điểm của người Nhật đối với Hàn Quốc, quan điểm tích cực đã sụt giảm nghiêm trọng vào năm 2012 khi quan hệ song phương xấu đi sau chuyến thăm của Tổng thống Lee Myung-bak tới đảo Takeshima/Dokdo (nơi cũng đang chịu các yêu sách chủ quyền chồng chéo tương tự như với Trung Quốc). Chuyến thăm này được cho là do sự thất vọng về việc thiếu tiến triển trong việc giải quyết vấn đề “phụ nữ giải khuây” (comfort women – những phụ nữ bị cưỡng bức làm nô lệ tình dục trong các nhà chứa quân đội thời chiến theo lệnh của chính quyền quân sự Nhật Bản). Cuộc khảo sát tương tự vào năm 2014 của Văn phòng Nội các chỉ ra rằng 66,4% người dân Nhật Bản có ác cảm với Hàn Quốc.

Thực tế là cảm xúc tiêu cực đối với Trung Quốc luôn duy trì ổn định ở mức khoảng 20% cho đến sự kiện Thiên An Môn ngày 4/6/1989, trong khi ác cảm với Hàn Quốc chỉ dưới mức 40% cho mãi tới gần đây như năm 2011. Do đó, đây là những diễn biến đáng lo ngại đối với tương lai của Đông Bắc Á.

Hơn nữa, một nghiên cứu về các tạp chí hàng tháng có ảnh hưởng lớn của phe bảo thủ như Shokun! và Seiron cũng xác nhận xu hướng bài ngoại ngày càng tăng trong giới truyền thông. Các bài báo với tiêu đề chứa các cụm từ như han-nichi (phản Nhật) liên quan đến Trung Quốc và Hàn Quốc đã gia tăng đột biến vào cuối những năm 1990 và tiếp tục tăng mạnh suốt thập niên 2000. Tác phẩm manga phổ biến Ken Kanryu (Ghét làn sóng Hàn Quốc) xuất bản năm 2005 đã phá bỏ rào cản cấm kỵ về phát ngôn thù hận, kéo theo vô số các ấn phẩm tương tự với thông điệp chính là thù ghét Hàn Quốc và Trung Quốc. Ngày nay, những cuốn sách và tạp chí giật gân kích động tâm lý bài trừ Trung Quốc hoặc/và Hàn Quốc đã trở thành một hiện tượng phổ biến đáng báo động tại các hiệu sách Nhật Bản và trên cả các chuyến tàu đi làm của nhân viên công sở, nơi các tuần báo mang tính dân túy liên tục thể hiện những thông điệp thù hận nhắm vào hai quốc gia này.

Các cuộc biểu tình của tổ chức Zaitokukai nhắm vào người gốc Triều Tiên tại Nhật Bản

Mặc dù không có bạo lực hay bạo loạn chống lại người Trung Quốc hay Hàn Quốc ở Nhật Bản trong những năm gần đây, nhưng các cuộc biểu tình thù hận chống lại cộng đồng người gốc Triều Tiên cư trú tại Nhật (Zainichi) đã trở thành một vấn đề xã hội nổi bật. Điều này đặc biệt từ khi tổ chức Zaitokukai (viết tắt của Zainichi Tokken o Yurusanai Shimin no Kai, Nhóm Công dân Chống lại Quyền lợi Đặc biệt cho Người Hàn Quốc tại Nhật Bản) được thành lập năm 2007. Những người Nhật “bình thường”, vốn trước đây chỉ tiêu thụ các ấn phẩm kích động thù hận và lan truyền thông điệp chủ nghĩa dân tộc cực đoan trên mạng Internet, sau đó đã xuống đường và thét ra những lời chửi bới, khủng bố cư dân gốc Triều Tiên thường trú tại Nhật Bản. Cộng đồng Zainichi bị nhắm tới dựa trên những niềm tin vô căn cứ rằng họ được hưởng các đặc quyền đặc lợi, cũng như là “thiệt hại đi kèm” (collateral damage) của mối quan hệ ngày càng tồi tệ giữa Nhật Bản với Hàn Quốc do những bất bình lịch sử chưa được giải quyết và các tranh chấp lãnh thổ, sự phẫn nộ về việc Triều Tiên bắt cóc công dân Nhật Bản, và những lo ngại do chương trình tên lửa và vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng gây ra.

Thứ hai, có một sự trỗi dậy ngoạn mục của chủ nghĩa xét lại trong chính trị và truyền thông chính thống. Sự gia tăng nhanh chóng các bài báo thù hận trên các phương tiện truyền thông bảo thủ trực tiếp được kích hoạt bởi các báo cáo năm 1996 rằng tất cả sách giáo khoa lịch sử do Bộ Giáo dục phê duyệt để sử dụng trong các trường trung học cơ sở từ năm 1997 đều đưa vấn đề “phụ nữ giải khuây” vào chương trình. Phản ứng dữ dội trước diễn biến này, những người theo chủ nghĩa dân tộc xét lại trong giới chính trị và truyền thông đã tung ra một cuộc phản công có tổ chức. Họ ủng hộ một câu chuyện mang tính bào chữa và tôn vinh các hành động của Nhật Bản thời chiến, đồng thời tìm cách sửa đổi sự đồng thuận phổ biến vốn có mà họ lên án là mang tính “tự nhục” (masochistic) vì quá chỉ trích hành vi của Nhật Bản.

Vì vậy, vào tháng 1/1997, hội Tsukurukai (tên viết tắt của Atarashii Rekishi Kyōkasho o Tsukurukai, Hiệp hội Cải cách Sách giáo khoa Lịch sử Nhật Bản) được thành lập bởi các nhân vật truyền thông và học giả cánh hữu. Tiếp đó vào tháng 2/1997, các chính trị gia như Nakagawa Shoichi và Abe Shinzo đã lãnh đạo một nhóm nghị sĩ trẻ thành lập Hiệp hội Nghị sĩ trẻ cùng quan tâm đến tương lai của Nhật Bản và giáo dục lịch sử. Tháng 5 cùng năm, Hội nghị Nhật Bản (Nippon Kaigi) được thành lập như một nhóm vận động hành lang quyền lực kết nối các trí thức theo chủ nghĩa dân tộc mới, các lãnh đạo doanh nghiệp và cánh hữu tôn giáo (các nhóm Thần đạo cũng như các tôn giáo mới). Nippon Kaigi cũng có một chi nhánh nghị sĩ với hầu hết thành viên đến từ Đảng Dân chủ Tự do (LDP), đảng đã thống trị chính trường Nhật Bản kể từ khi thành lập năm 1955. Sự nở rộ của phong trào xét lại này đã đạt đỉnh điểm vào năm 1997. Ngay từ đầu, các tập đoàn truyền thông bảo thủ như tập đoàn Fuji-Sankei (xuất bản Seiron cũng như báo Sankei) và Bungei Shunju (từng xuất bản Shokun! và một số ấn phẩm khác) đã cung cấp nền tảng truyền thông cho những nỗ lực phối hợp này.

Mặc dù các học giả uyên bác vào cuối những năm 1990 đã bác bỏ những tuyên bố xét lại lịch sử là vô căn cứ và mâu thuẫn với bằng chứng hiện có, nhưng đến khi Abe kế nhiệm Koizumi làm Thủ tướng vào năm 2006, mọi đề cập đến “phụ nữ giải khuây” đã biến mất khỏi các sách giáo khoa chính thức được chính phủ phê duyệt.

Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở thời điểm này là hai hiện tượng chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa xét lại về bản chất là những quá trình do giới tinh hoa chi phối chứ không phản ánh tình cảm của người dân hay dư luận. Giới tinh hoa chính trị và truyền thông đã đi đầu trong việc thổi phồng tình cảm tiêu cực đối với các nước láng giềng của Nhật Bản, thường là để đáp trả những gì họ coi là khiêu khích từ phía Trung Quốc và Hàn Quốc. Tuy nhiên, khi nhìn vào diễn biến theo thời gian, rõ ràng là chủ nghĩa bài ngoại trong dân chúng Nhật Bản đã bị kích động bởi giới tinh hoa chính trị và truyền thông.

Mặc dù hoàn toàn hợp lý khi đặt câu hỏi về ý nghĩa của chủ nghĩa bài ngoại “từ trên xuống” (đặc biệt là tình cảm chống Trung Quốc và chống Hàn Quốc) và chủ nghĩa xét lại lịch sử được thảo luận ở đây cấu thành “chủ nghĩa dân tộc”, nhưng rõ ràng đây là những xu hướng đáng lo ngại khi chúng làm gia tăng căng thẳng giữa Nhật Bản và các nước láng giềng Đông Á, nơi mà thái độ chống Nhật Bản là một tiêu chí quan trọng để định nghĩa “chủ nghĩa dân tộc”.

Con đường Tân tự do và con đường Tự do tới Chủ nghĩa Dân tộc

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc đương đại kể từ cuối những năm 1990 càng trở nên kỳ lạ hơn khi ta xem xét nguồn gốc của nó. Xét cho cùng, Nhật Bản dường như đã đi theo con đường chủ nghĩa quốc tế tân tự do (neoliberal internationalism) kể từ những năm 1980.

Khi Hiệp ước về quan hệ cơ bản với Hàn Quốc được ký kết vào năm 1965, Thông cáo chung đã ghi nhận sự “tiếc nuối” (ikan) và “hối lỗi sâu sắc” (fukaku hansei) từ phía Nhật Bản. Và tương tự, khi Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm 1972, Thông cáo chung tuyên bố rằng, “Phía Nhật Bản nhận thức sâu sắc trách nhiệm về những thiệt hại nghiêm trọng mà Nhật Bản đã gây ra cho nhân dân Trung Hoa trong quá khứ thông qua chiến tranh, và tự trách mình sâu sắc” (sekinin wo tsukanshi, fukaku hansei suru).

Các nhà lãnh đạo vào thời điểm đó coi những biểu hiện này là đủ và thích hợp. Tuy nhiên, vấn đề ký ức chiến tranh bắt đầu trở nên gay gắt hơn và biến thành một vấn đề ngoại giao dưới hình thức tranh cãi về sách giáo khoa lịch sử nổ ra năm 1982 về những thay đổi được cho là trong cách diễn đạt các mô tả của Nhật Bản về cuộc xâm lược Trung Quốc (mà sau đó được chứng minh là không chính xác). Để đáp lại, Nhật Bản đã ban hành Tuyên bố Miyazawa năm 1982 về sách giáo khoa lịch sử do Chánh Văn phòng Nội các Miyazawa Kiichi soạn thảo, trong đó lưu ý rằng “tinh thần trong Tuyên bố chung Nhật Bản-Hàn Quốc và Tuyên bố chung Nhật Bản-Trung Quốc đương nhiên cũng cần được tôn trọng trong giáo dục trường học và việc phê duyệt sách giáo khoa của chính phủ Nhật Bản. Tuy nhiên, gần đây, Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước khác đã chỉ trích một số mô tả trong sách giáo khoa của Nhật Bản. Từ góc độ xây dựng tình hữu nghị và thiện chí với các nước láng giềng, Nhật Bản sẽ chú ý đúng mức đến những lời chỉ trích này và thực hiện các chỉnh sửa với trách nhiệm của Chính phủ”.

Điều này dẫn tới việc đưa vào điều khoản “các quốc gia lân cận” trong tiêu chuẩn phê duyệt sách giáo khoa của Bộ Giáo dục, quy định rằng “cần có sự cân nhắc thích đáng từ góc độ hiểu biết quốc tế và hợp tác quốc tế khi đề cập đến các vấn đề lịch sử hiện đại có liên quan đến các nước láng giềng châu Á”. Những cải tiến trong các sách giáo khoa lịch sử đã được thực hiện sau đó, nhưng trong chính trường Nhật Bản đương đại, điều khoản này đang bị cánh hữu xét lại phản đối dữ dội; và đến năm 2015, Thủ tướng Abe gần như đã từ bỏ nó.

[…] Nhật Bản trong thời đại của Thủ tướng Nakasone (thập niên 1980) cũng đang đẩy mạnh các cải cách tân tự do với tham vọng đóng vai trò lãnh đạo mạnh mẽ hơn trong trật tự kinh tế tự do toàn cầu. […] Trong bối cảnh này, các nhà lãnh đạo chính trị Nhật Bản khi đó hiểu rằng việc hòa giải với các quốc gia từng là nạn nhân của quá khứ quân phiệt (Trung Quốc, Hàn Quốc) là tiền đề bắt buộc để hiện thực hóa các tham vọng đó. […]

Bước ngoặt Phản tự do và Xét lại

Quá trình mở cửa tự do (liberal) của các xã hội trên toàn thế giới vẫn tiếp diễn trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh, và dường như những vấn đề lịch sử nan giải nảy sinh sẽ được giải quyết bởi chính giới tinh hoa chính trị tự do đó. […]

Tại Nhật Bản, vào cuối những năm 1990, đã có một sự chuyển giao thế hệ nhanh chóng trong giới tinh hoa chính trị. Những người có kinh nghiệm trực tiếp về chiến tranh đã được thay thế bằng những chính trị gia trẻ tuổi không có trải nghiệm đó. Họ sinh ra và lớn lên trong đặc quyền, là “con ông cháu cha” (hereditary scions) của các gia tộc chính trị. Những nhân vật mới này thường phản đối việc bày tỏ sự tội lỗi hay hối hận về chiến tranh. […]

Đáng chú ý, xu hướng chính trị hữu khuynh tại Nhật Bản trong thế kỷ 21 diễn ra đồng thời với sự suy thoái kinh tế. […] Nhật Bản đối mặt với sự đình trệ kéo dài, nợ công tăng vọt và sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn. […] Tình trạng bấp bênh (precarity) đánh vào các tầng lớp dưới của xã hội và giới trẻ. Trong cuộc khủng hoảng xã hội cấp tính này, các nhà lãnh đạo chính trị đã tìm cách đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận vào “kẻ thù bên ngoài”. […] Chủ nghĩa dân tộc hay các chiến dịch bài ngoại đã cung cấp một lựa chọn “không tốn kém” (no-cost) thay thế cho việc cung cấp an sinh xã hội đầy đủ, cho phép giới cầm quyền trốn tránh trách nhiệm và tạo ra một cảm giác đoàn kết dân tộc giả tạo. […] Đúng như Tiến sĩ Samuel Johnson từng nhận xét: “Chủ nghĩa yêu nước là nơi nương náu cuối cùng của những kẻ vô lại”; trong khi ở Nhật Bản đương đại, nó lại là liều thuốc an thần của phe bảo thủ trước những những gì mà quốc gia đang gặp phải. […]

Chủ nghĩa Bài ngoại, Xét lại và Độc đoán dưới thời Koizumi và Abe

[…] Thủ tướng Koizumi Junichiro đã khôn khéo sử dụng các biểu tượng dân tộc chủ nghĩa để tỏ ra là một nhà lãnh đạo kiên quyết và thúc đẩy chương trình kinh tế của mình. Các cuộc viếng thăm đền Yasukuni hàng năm của ông là một ví dụ điển hình. [….] Thủ tướng Abe Shinzo còn tiến xa hơn khi dùng các cải cách kinh tế để đánh lạc hướng dư luận khỏi chương trình xét lại lịch sử chiến tranh và việc sửa đổi hiến pháp, cùng với việc nâng cao hồ sơ an ninh của Nhật Bản. […]

Để củng cố quyền lực, Thủ tướng Abe đã thắt chặt quyền kiểm soát đối với truyền thông, đặc biệt là NHK, […] và tiến hành các cuộc tấn công có tổ chức vào tờ báo có thiên hướng tự do như Asahi sau khi tờ này đính chính một số bài viết về “phụ nữ giải khuây” từ thập niên 1990. […] Chiến dịch của phe xét lại nhằm truyền bá ấn tượng sai lệch rằng toàn bộ hệ thống nô lệ tình dục chỉ là sự bịa đặt, và tìm cách viết lại lịch sử chung của Nhật Bản với châu Á theo hướng gây nguy hại đến lợi ích khu vực của Nhật Bản.

Hơn nữa, Abe còn theo đuổi chương trình xét lại này trên bình diện quốc tế. Các nhà ngoại giao Nhật Bản tại New York đã nỗ lực (nhưng không thành công) yêu cầu nhà xuất bản McGraw-Hill sửa đổi phần mô tả về phụ nữ giải khuây trong một cuốn sách giáo khoa lịch sử của Mỹ. Điều này đã gây ra một thảm họa quan hệ công chúng cho Nhật Bản, dẫn đến việc các học giả lịch sử hàng đầu tại Mỹ bày tỏ sự thất vọng về nỗ lực của chính phủ Nhật Bản trong việc đàn áp các tuyên bố lịch sử. […]

Chủ nghĩa dân tộc mang tính tự tôn của Abe và thiên hướng xét lại mạnh mẽ đã khiến các quốc gia láng giềng xa lánh và Mỹ ngày càng lúng túng. Ngay cả khi Washington coi Abe là đồng minh vì ông đáp ứng được các yêu cầu an ninh lâu dài […], ông cũng đang tự biến mình thành một đối tác khó xử vì hành động cứng rắn và phản tác dụng đối với mục tiêu chung của khu vực.

Lý Hoàng Đức hiện đang là sinh viên năm 2 khoa Nhật Bản học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ khoá: Nhật Bản chủ nghĩa dân tộc revisionism neoliberal

BÀI LIÊN QUAN