Mỹ thoái lui, Trung Quốc dẫn đầu cuộc đua chuyển đổi xanh
Khi Washington quay lưng với công cuộc ứng phó biến đổi khí hậu, Bắc Kinh tranh thủ cơ hội xây dựng hình ảnh cường quốc có trách nhiệm và lãnh đạo công cuộc chuyển đổi xanh.
Dưới thời Tổng thống Donald Trump, nước Mỹ tuyên bố không tham gia và không đóng góp vào các cơ chế ứng phó biến đổi khí hậu. Sự rút lui của Mỹ trong các cơ chế đa phương về khí hậu đã tạo nên khoảng trống quyền lực (power vacuum); và Trung Quốc đã nhanh chóng can dự nhằm xây dựng vị thế cường quốc năng lượng mới và gia tăng ảnh hưởng trong mạng lưới hợp tác về chuyển đổi năng lượng.
Quá trình chuyển đổi xanh của Trung Quốc
Từ bị động đến định hình luật chơi
Sau cải cách và mở cửa từ cuối thập niên 1970, Trung Quốc nhanh chóng trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (năm 2010), đồng thời đến năm 2006 đã vượt Mỹ để trở thành quốc gia phát thải CO₂ lớn nhất toàn cầu. Vị thế mới này khiến Bắc Kinh khó có thể vin vào vị thế quốc gia đang phát triển để tiếp tục né tránh trách nhiệm khí hậu, đặc biệt sau thất bại ngoại giao tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về chống biến đổi khí hậu (COP15) ở Copenhagen (Đan Mạch) vào năm 2009, nơi các tranh cãi xoay quanh trách nhiệm phát thải và mức độ cam kết cắt giảm trở nên gay gắt.
Đồng thời, suy thoái sinh thái, ô nhiễm môi trường và mức tiêu thụ năng lượng quy mô lớn đã bộc lộ những hệ lụy cấu trúc của mô hình tăng trưởng dựa vào công nghiệp nặng và năng lượng hóa thạch, buộc Trung Quốc phải điều chỉnh nhận thức và cách tiếp cận đối với phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu.
Bước ngoặt này mở đường cho quá trình thể chế hóa chuyển đổi xanh, khởi đầu từ Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010), khi các chỉ tiêu môi trường và cường độ năng lượng lần đầu tiên được lồng ghép vào đánh giá tăng trưởng. Giai đoạn này đánh dấu bước khởi đầu cho quá trình thể chế hóa chính sách môi trường trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc triển khai chủ yếu dựa vào các biện pháp mệnh lệnh - kiểm soát như đóng cửa các cơ sở sản xuất kém hiệu quả, qua đó giúp đạt được mục tiêu ngắn hạn nhưng đồng thời làm gia tăng chi phí kinh tế - xã hội và rủi ro về ổn định việc làm.
Đến Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015), tư duy khí hậu đã được nâng lên tầm cấp độ chiến lược. Lần đầu tiên một chương riêng về biến đổi khí hậu và phát triển xanh, ít carbon (low carbon) xuất hiện trong kế hoạch quốc gia với mục tiêu cắt giảm 17% cường độ CO₂/GDP và 16% tiêu thụ năng lượng/GDP. Kế hoạch này đánh dấu bước chuyển quan trọng từ cách tiếp cận quản lý môi trường mang tính mệnh lệnh - kiểm soát sang tư duy chiến lược về phát triển carbon thấp gắn với tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Việc đưa ra các mục tiêu bắt buộc về cường độ năng lượng và carbon không chỉ nhằm giảm áp lực môi trường trong nước mà còn phản ánh nỗ lực dung hòa giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và trách nhiệm khí hậu dài hạn, qua đó tác động trực tiếp đến tiến trình giảm phát thải của Trung Quốc.
Chính sự chuẩn bị đó giúp Trung Quốc bước vào COP21 Paris (Pháp) năm 2015 trong tâm thế tự tin hơn, khi không còn là một quốc gia né tránh trách nhiệm mà trở thành trung tâm kiến tạo thỏa thuận khí hậu, sử dụng công nghệ năng lượng sạch, thị trường carbon và tài chính xanh như đòn bẩy quyền lực mềm. Việc tăng gấp đôi vốn cho Quỹ Hợp tác Khí hậu Nam – Nam (South-South Climate Cooperation Fund - SSCCF) và cam kết 20 tỷ nhân dân tệ hỗ trợ quốc gia đang phát triển cho thấy Trung Quốc đã chuyển hẳn từ vai trò người bị yêu cầu hành động sang người định hình luật chơi, và từ đó bước gần hơn đến vai trò của một nhà lãnh đạo có trách nhiệm.
Kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 năm 2012, dưới định hướng của Tư tưởng Tập Cận Bình về Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong kỷ nguyên mới, nước này đã kiên định giữ vững niềm tin rằng “sông nước trong xanh, núi non xanh tươi là những tài sản vô giá” và xác định phát triển xanh và bảo vệ sinh thái là trụ cột chiến lược. Trên cơ sở đó, Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (2016-2020) đánh dấu bước chuyển quan trọng khi Trung Quốc không chỉ xác lập các mục tiêu phát triển xanh tham vọng mà còn trực tiếp thiết kế các cơ chế thực thi, giám sát và điều phối ở nhiều cấp độ nhằm bảo đảm hiệu quả chính sách. So với các kế hoạch trước, trọng tâm của kế hoạch lần này nằm ở việc tăng cường năng lực quản trị môi trường của nhà nước, từ áp đặt các chỉ tiêu ràng buộc, cải cách quản lý địa phương đến huy động công cụ thị trường và đầu tư công quy mô lớn.
Sang Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 (2021-2025), chuyển đổi xanh trở thành trục chiến lược khi Trung Quốc đặt mục tiêu đạt đỉnh phát thải trước năm 2030 và trung hòa carbon vào năm 2060, tối ưu hóa cơ cấu năng lượng, giảm phụ thuộc than, mở rộng điện gió - mặt trời - truyền tải siêu cao áp. Đồng thời, Trung Quốc cũng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tín chỉ carbon, và đẩy mạnh xuất khẩu công nghệ sạch như xe điện (EV), pin, hydrogen, tuabin gió. Đây là giai đoạn Trung Quốc chuyển từ nội địa hóa giảm phát thải sang mô hình mở rộng ảnh hưởng xanh ra toàn cầu.
Thành tựu
Với tiến trình thể chế hóa chuyển đổi xanh liên tục và nhất quán qua các “Kế hoạch 5 năm”, Trung Quốc đã chuyển hóa định hướng chính sách thành những hành động và kết quả thiết thực.
Trong lĩnh vực xe điện, các nhà sản xuất Trung Quốc chiếm tới 60% thị phần pin xe điện toàn cầu và 75% tổng số các trang trại điện gió được xây dựng mới trên toàn thế giới vào năm 2023, cho thấy quy mô triển khai và năng lực sản xuất vượt trội. Đặc biệt, trong giai đoạn 2023 - 2024, Trung Quốc đã lắp đặt công suất điện mặt trời nhiều hơn tổng công suất được lắp đặt tại tất cả các quốc gia khác cộng lại, đồng thời trở thành nhà cung ứng chủ đạo của thị trường toàn cầu. Bên cạnh đó, đến năm 2024, Trung Quốc vận hành khoảng 40% tổng số trạm tiếp nhiên liệu hydro trên toàn cầu, qua đó củng cố vai trò trung tâm trong việc hình thành hệ sinh thái năng lượng bền vững mới.
Không chỉ dẫn đầu về quy mô đầu tư và sản xuất, Trung Quốc còn đạt được những tiến bộ đáng kể về hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm phát thải. Trong giai đoạn 2012 - 2021, nước này duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 6,6%/năm, trong khi mức tăng tiêu thụ năng lượng chỉ ở khoảng 3%/năm. Cùng thời kỳ, lượng phát thải carbon trên mỗi đơn vị GDP giảm khoảng 34,4%, còn cường độ tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị GDP giảm 26,4%, đưa Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia có tốc độ cải thiện hiệu quả năng lượng nhanh nhất thế giới.
Nhà lãnh đạo khí hậu
Sự rút lui của Mỹ
Dưới thời chính quyền Trump, Mỹ thể hiện lập trường rõ ràng, đó là rút lui khỏi trách nhiệm chung toàn cầu trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu dù là nước gây ô nhiễm carbon lớn thứ hai thế giới và là nước thải ra nhiều lượng khí thải CO₂ nhất trong lịch sử. Đồng thời, các đóng góp tài chính mà Mỹ từng cam kết cũng bị huỷ bỏ. Sự “quay lưng” của nước Mỹ dưới thời Trump gây lo ngại về việc các quốc gia phát triển khác cũng có khả năng giảm mức độ tham gia vào nỗ lực chống biến đổi khí hậu chung.
Trong quá khứ, Mỹ từng ủng hộ việc chuyển đổi năng lượng khi thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh thông qua Đạo luật Giảm lạm phát (IRA) năm 2022. IRA có những điểm tương đồng với các chính sách của Trung Quốc, đó là khuyến khích sản xuất và phát triển năng lượng xanh, như đầu tư vào công nghệ năng lượng tái tạo, phát triển cơ sở hạ tầng, đưa ra các ưu đãi về thuế... Vào thời điểm đó, chính quyền tiền nhiệm dự kiến sẽ chi trực tiếp 145 tỷ USD cho các chương trình năng lượng và khí hậu trong IRA.
Tuy nhiên, dưới thời Trump, tình hình đã chuyển biến theo hướng ngược lại. Nước Mỹ đã rút lại các chính sách và chương trình do chính phủ tài trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển của năng lượng tái tạo, đồng thời cho biết sẽ lấy lại số tiền IRA chưa sử dụng. Thay vào đó, Mỹ sẽ chi 625 triệu USD để hồi sinh ngành công nghiệp than.
Washington cũng đe doạ áp dụng các biện pháp trả đũa như hạn chế thị thực, tăng phí cảng, áp dụng các biện pháp thương mại hoặc các hình thức trừng phạt khác nếu các quốc gia khác ủng hộ hoặc bỏ phiếu thông qua đề xuất áp “thuế carbon toàn cầu” (global carbon tax) trong khuôn khổ Net-Zero Framework của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO). Là quốc gia có lợi ích kinh tế gắn bó mật thiết với dầu mỏ, chính quyền Trump lập luận rằng thuế carbon toàn cầu sẽ làm tăng chi phí cho người dân, doanh nghiệp năng lượng, vận tải và du lịch của Mỹ, đồng thời có khả năng đẩy chi phí vận chuyển toàn cầu tăng khoảng 10% hoặc hơn.
Vào ngày 12/08/2025, các quan chức cấp cao của Mỹ đã đưa ra một tuyên bố chung liên quan đến thuế carbon toàn cầu, nội dung chính nhấn mạnh thuế của IMO sẽ mang đến lợi thế cạnh tranh cho các công ty Trung Quốc khi yêu cầu sử dụng các loại nhiên liệu hoặc công nghệ sạch hơn (ZNZs - Zero or near-zero emission sources) chẳng hạn như nhiên liệu điện tử có nguồn gốc từ hydro (hydrogen derived e-fuels), động cơ đẩy bằng năng lượng gió (wind propulsion), cái mà Bắc Kinh đang dẫn đầu trong việc phát triển và lắp đặt trên toàn cầu. Trước những áp lực từ Washington, các quốc gia thành viên IMO đã quyết định lùi kế hoạch bỏ phiếu trong vòng một năm. Tính đến thời điểm hiện tại, chính quyền Trump vẫn chưa có bất kỳ phản hồi cụ thể nào trước động thái trên.
Cách tiếp cận đơn phương và mang tính đối đầu này xuất phát đến từ việc Tổng thống Trump cho rằng: “Khái niệm về hiện tượng nóng lên toàn cầu được tạo ra bởi Trung Quốc nhằm làm cho ngành sản xuất của Mỹ trở nên kém cạnh tranh”, và việc không ủng hộ chuyển đổi năng lượng cũng là cách mà Mỹ bảo vệ ngành công nghiệp vốn giúp nước này đảm bảo an ninh quốc gia và lợi ích kinh tế trong lịch sử. Lần thứ hai (lần thứ nhất là vào ngày 01/06/2017) tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris (vào ngày 20/01/2025) đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ chấm dứt các nghĩa vụ của mình đối với các khoản đóng góp được xác định bởi quốc gia (NDC). Ngoài ra, Mỹ cũng đã ngừng tài trợ cho Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) của Liên Hợp Quốc, khiến 4 trong tổng số 6 tỷ USD mà nước này từng cam kết đóng góp cho quỹ bị hủy bỏ. Bên cạnh đó, việc tuyên bố chấm dứt tư cách thành viên trong Nhóm Đối tác Quốc tế (IPG) đối với các khuôn khổ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP) tại Nam Phi, Indonesia và Việt Nam sẽ kéo theo hệ quả là các nước nhận tài trợ sẽ mất đi số tiền mà Mỹ từng cam kết. Điển hình là Nam Phi sẽ mất hơn 1 tỷ USD trong các cam kết đầu tư, và hơn 3 tỷ USD dành cho Việt Nam và Indonesia chủ yếu dưới hình thức các khoản vay thương mại cũng sẽ không được triển khai.
Sự vắng mặt này cũng kéo theo lo ngại về việc các đồng minh của Mỹ, đơn cử là Nhật Bản, sẽ giảm mức độ cam kết trong các cơ chế khí hậu. Khi nhậm chức, Tân Thủ tướng Nhật Bản, bà Takaichi Sanae, đã không tham dự Hội nghị lần thứ 30 (COP30) các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) vào tháng 11/2025. Đồng thời, bà Takaichi đã cam kết thúc đẩy mục tiêu Nhật Bản sẽ tự chủ 100% năng lượng và ưu tiên năng lượng hạt nhân hơn so với năng lượng tái tạo. Định hướng này đang vấp phải sự phản đối từ dư luận trong nước bắt nguồn từ thảm họa Fukushima năm 2011, yếu tố khiến Tokyo có thể gặp khó khăn trong việc hoàn thành mục tiêu giảm 60% lượng phát thải vào năm 2035 và 73% vào năm 2040 so với mức năm 2013 theo như cam kết trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris.
Diễn biến này phản ánh hiệu ứng lan tỏa tiêu cực từ việc Mỹ rút lui, khi các đồng minh có xu hướng ưu tiên cho an ninh năng lượng quốc gia, thay vì phối hợp hành động chung vì nền khí hậu toàn cầu.
Sự đảo chiều chính sách của Mỹ cũng cho thấy chiến lược chuyển đổi xanh của siêu cường thiếu ổn định và dễ bị chính trị hóa, từ đó làm suy giảm niềm tin của thị trường và các đối tác quốc tế vào cam kết dài hạn của Washington. Chính điều này cũng đã làm suy yếu vị thế lãnh đạo của Mỹ trên trường quốc tế, khi xu hướng chuyển đổi năng lượng đang gia tăng, đồng thời cũng tạo nên khoảng trống quyền lực trong quản trị khí hậu toàn cầu.
Cường quốc có trách nhiệm
Trong khi đối thủ lớn nhất rút lui khỏi các cơ chế khí hậu, Trung Quốc vẫn duy trì cam kết với nguyên tắc trách nhiệm chung, tuy có phần khác biệt. Nước này tuyên bố sẽ cung cấp hỗ trợ chuyển đổi năng lượng cho các quốc gia đang phát triển bằng cơ chế riêng. Qua đó, Bắc Kinh vừa thể hiện được vai trò của một cường quốc có trách nhiệm vừa xây dựng được ảnh hưởng chính trị ở các quốc gia và khu vực có lợi ích chiến lược.
Cụ thể, Trung Quốc thúc đẩy hợp tác Nam - Nam về khí hậu khi cung cấp hỗ trợ tài chính, công nghệ và xây dựng năng lực cho các quốc gia Nam Bán cầu. Đến cuối tháng 10/2025, Trung Quốc đã ký 55 biên bản ghi nhớ về hợp tác Nam - Nam để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu với 43 quốc gia đang phát triển. Theo báo cáo từ Trung tâm Phát triển và Tài chính Xanh tại Trường Tài chính Quốc tế Fanhai, Đại học Phúc Đán (FISF), Trung Quốc đầu tư cho các nước tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) trong lĩnh vực năng lượng đạt kỷ lục mới với 42 tỷ USD trong sáu tháng đầu năm 2025, tăng 100% so với cùng kỳ năm trước. Con số này có thể được chia nhỏ thành 9,7 tỷ USD trong các lĩnh vực xanh như gió, mặt trời và năng lượng từ chất thải và cũng là con số nửa năm cao nhất kể từ khi BRI được thành lập vào năm 2013. Ngoài ra, 23,2 tỷ USD cũng được Trung Quốc phân bổ để đầu tư chủ yếu cho pin xe điện và sản xuất xe điện cho các nước nằm trong BRI, nhiều hơn gấp đôi con số trong cùng kỳ năm ngoái.
Với các quốc gia đang đối mặt với sự gián đoạn nguồn tài trợ vì Mỹ rút lui, Trung Quốc nổi lên như một nhà đầu tư tiềm năng. Ở Đông Nam Á, Indonesia là một minh chứng tiêu biểu cho xu hướng này. Là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á cùng với trữ lượng niken chiếm khoảng 22% trữ lượng toàn cầu, Indonesia là một nút (node) quan trọng trong chuỗi cung ứng xe điện và là nhân tố quan trọng trong các cuộc đàm phán khí hậu toàn cầu với tiềm năng năng lượng tái tạo khổng lồ từ năng lượng mặt trời, thủy điện đến địa nhiệt.
Năm 2022, nước này được cam kết gói tài chính 20 tỷ USD từ các thành viên trong Nhóm các Đối tác Quốc tế (IPG) khi nằm trong nhóm Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP). Nhưng tính đến tháng 9/2025, không có dự án lớn nào nhận được các khoản hỗ trợ tài chính như cam kết. Bên cạnh đó, việc mất đi 1 tỷ USD từ Mỹ khi nước này huỷ bỏ tư cách thành viên IPG đã khiến cho các dự án chuyển đổi năng lượng ở Indonesia gặp khó khăn khi thiếu nguồn tài trợ.
Khi đó, các cơ chế khí hậu do Trung Quốc dẫn dắt đang nổi lên như một kênh bổ trợ và thay thế cho tài chính khí hậu truyền thống. Đáng chú ý, các dự án năng lượng tái tạo do các Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) tài trợ đang tiến triển nhanh hơn do các cơ chế cho vay đơn giản. Trước đó, vào năm 2024, Trung Quốc và Indonesia đã ký kết thoả thuận hỗ trợ tài chính trị giá 10 tỷ USD tại Diễn đàn Kinh doanh Indonesia - Trung Quốc và 11 thỏa thuận trị giá 12,6 tỷ USD vào năm 2023, chủ yếu hướng đến các dự án năng lượng tái tạo và pin EV.
Trường hợp Indonesia cho thấy, khi Mỹ không còn đóng vai trò như một “nhà đầu tư khí hậu”, Trung Quốc có thể trở thành đối tác tiềm năng và lấp đầy khoảng trống tài chính do Mỹ để lại thông qua một chiến lược có tính toán. Và tất nhiên, hỗ trợ chuyển đổi năng lượng không đơn thuần mang tính phát triển, mà được gắn chặt với mục tiêu kiểm soát các mắt xích then chốt của chuỗi cung ứng khoáng sản và công nghiệp xanh. Khi đồng ý nhận các khoản đầu tư từ Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ tận dụng trữ lượng niken dồi dào của Indonesia để duy trì chuỗi cung ứng pin EV toàn cầu. Đồng thời, việc hợp tác với Indonesia giúp Trung Quốc mở rộng quyền lực mềm và ảnh hưởng địa chính trị tại Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao ở khu vực chiến lược. Chỉ vài tháng sau khi Mỹ tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Khí hậu Paris vào tháng 1/2025, Trung Quốc đã tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc - Các Quốc đảo Thái Bình Dương lần thứ III (28-29/05/2025). Các Quốc đảo Thái Bình Dương nằm trong không gian chiến lược quan trọng đối với cả Trung Quốc và Mỹ khi cả hai đều muốn tăng cường sự hiện diện ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc tổ chức hội nghị cùng các tuyên bố hợp tác tạo điều kiện để Bắc Kinh xây dựng hình ảnh một đối tác thiện chí và thể hiện cách tiếp cận tương phản với động thái tạm dừng viện trợ nước ngoài và áp dụng thuế quan diện rộng của Washington dưới thời Tổng thống Donald Trump. Thông qua Hội nghị, Trung Quốc tuyên bố kế hoạch triển khai 100 dự án tập trung vào ứng phó biến đổi khí hậu và phân bổ 2 triệu USD để mở rộng hợp tác các “dự án nhỏ nhưng hiệu quả” trong lĩnh vực như năng lượng sạch, cơ sở hạ tầng ở khu vực.
Liên hiệp châu Âu (EU) cũng là đối tác quan trọng mà Trung Quốc tăng cường trao đổi để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm năng lượng sạch, nhất là khi EU và Mỹ đang đi ngược hướng trong việc chuyển đổi năng lượng. Hợp tác Trung Quốc - EU về biến đổi khí hậu mang đến cơ hội cho cả hai bên kể từ khi Washington rút khỏi Thỏa thuận Khí hậu Paris. Một mặt, rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng năng lượng do chiến tranh Nga - Ukraine gây ra, châu Âu tăng cường hợp tác với Trung Quốc và qua đó đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và giảm mức độ phụ thuộc vào các nhà cung cấp truyền thống. Đồng thời, Bắc Kinh có thêm cơ hội sử dụng hợp tác khí hậu như một kênh đối thoại trong đàm phán về các rào cản thuế quan mà EU áp dụng đối với xe điện và các cuộc điều tra chống trợ cấp đối với các tấm pin mặt trời của nước này. Mặt khác, thông qua các tuyên bố chung về khí hậu, EU vừa phát đi tín hiệu với Mỹ về nhu cầu “tự chủ chiến lược”, vừa duy trì được nguồn nhập khẩu giá rẻ. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục duy trì kết nối với các nền kinh tế phát triển và mở rộng chuỗi cung ứng các sản phẩm công nghệ xanh giá rẻ như tấm pin mặt trời và xe điện.
***
Việc Mỹ rút khỏi các cơ chế khí hậu quốc tế đã tạo điều kiện để Trung Quốc tái định vị vai trò của mình. Thay vì chỉ là một quốc gia đang phát triển chịu sức ép cắt giảm phát thải, Bắc Kinh chủ động chuyển sang vai trò tác nhân kiến tạo, sử dụng chuyển đổi xanh như công cụ chiến lược nhằm gia tăng ảnh hưởng kinh tế và chính trị. Thông qua việc thể chế hóa mục tiêu khí hậu trong các kế hoạch 5 năm, mở rộng năng lực công nghiệp công nghệ sạch và đẩy mạnh đầu tư xanh ra nước ngoài, Bắc Kinh từng bước lấp đầy khoảng trống lãnh đạo mà Washington để lại.
Sự rút lui của Mỹ khỏi các cơ chế đa phương không chỉ làm suy yếu nỗ lực khí hậu toàn cầu mà còn mở ra không gian để Trung Quốc định hình các chuẩn mực mới thông qua hợp tác song phương và Nam - Nam, từ tài chính khí hậu đến chuyển giao công nghệ và hạ tầng năng lượng. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang phát triển thiếu hụt nguồn lực cho chuyển đổi xanh, mô hình hỗ trợ nhanh, quy mô lớn và gắn với chuỗi cung ứng công nghệ của Trung Quốc trở thành lựa chọn hấp dẫn, qua đó giúp củng cố vị thế trung tâm của Bắc Kinh trong hệ sinh thái năng lượng xanh toàn cầu.
Trâm Anh và Tường Duy là cựu sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Dưới thời Tổng thống Donald Trump, nước Mỹ tuyên bố không tham gia và không đóng góp vào các cơ chế ứng phó biến đổi khí hậu. Sự rút lui của Mỹ trong các cơ chế đa phương về khí hậu đã tạo nên khoảng trống quyền lực (power vacuum); và Trung Quốc đã nhanh chóng can dự nhằm xây dựng vị thế cường quốc năng lượng mới và gia tăng ảnh hưởng trong mạng lưới hợp tác về chuyển đổi năng lượng.
Quá trình chuyển đổi xanh của Trung Quốc
Từ bị động đến định hình luật chơi
Sau cải cách và mở cửa từ cuối thập niên 1970, Trung Quốc nhanh chóng trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (năm 2010), đồng thời đến năm 2006 đã vượt Mỹ để trở thành quốc gia phát thải CO₂ lớn nhất toàn cầu. Vị thế mới này khiến Bắc Kinh khó có thể vin vào vị thế quốc gia đang phát triển để tiếp tục né tránh trách nhiệm khí hậu, đặc biệt sau thất bại ngoại giao tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về chống biến đổi khí hậu (COP15) ở Copenhagen (Đan Mạch) vào năm 2009, nơi các tranh cãi xoay quanh trách nhiệm phát thải và mức độ cam kết cắt giảm trở nên gay gắt.
Đồng thời, suy thoái sinh thái, ô nhiễm môi trường và mức tiêu thụ năng lượng quy mô lớn đã bộc lộ những hệ lụy cấu trúc của mô hình tăng trưởng dựa vào công nghiệp nặng và năng lượng hóa thạch, buộc Trung Quốc phải điều chỉnh nhận thức và cách tiếp cận đối với phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu.
Bước ngoặt này mở đường cho quá trình thể chế hóa chuyển đổi xanh, khởi đầu từ Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010), khi các chỉ tiêu môi trường và cường độ năng lượng lần đầu tiên được lồng ghép vào đánh giá tăng trưởng. Giai đoạn này đánh dấu bước khởi đầu cho quá trình thể chế hóa chính sách môi trường trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc triển khai chủ yếu dựa vào các biện pháp mệnh lệnh - kiểm soát như đóng cửa các cơ sở sản xuất kém hiệu quả, qua đó giúp đạt được mục tiêu ngắn hạn nhưng đồng thời làm gia tăng chi phí kinh tế - xã hội và rủi ro về ổn định việc làm.
Đến Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015), tư duy khí hậu đã được nâng lên tầm cấp độ chiến lược. Lần đầu tiên một chương riêng về biến đổi khí hậu và phát triển xanh, ít carbon (low carbon) xuất hiện trong kế hoạch quốc gia với mục tiêu cắt giảm 17% cường độ CO₂/GDP và 16% tiêu thụ năng lượng/GDP. Kế hoạch này đánh dấu bước chuyển quan trọng từ cách tiếp cận quản lý môi trường mang tính mệnh lệnh - kiểm soát sang tư duy chiến lược về phát triển carbon thấp gắn với tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Việc đưa ra các mục tiêu bắt buộc về cường độ năng lượng và carbon không chỉ nhằm giảm áp lực môi trường trong nước mà còn phản ánh nỗ lực dung hòa giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và trách nhiệm khí hậu dài hạn, qua đó tác động trực tiếp đến tiến trình giảm phát thải của Trung Quốc.
Chính sự chuẩn bị đó giúp Trung Quốc bước vào COP21 Paris (Pháp) năm 2015 trong tâm thế tự tin hơn, khi không còn là một quốc gia né tránh trách nhiệm mà trở thành trung tâm kiến tạo thỏa thuận khí hậu, sử dụng công nghệ năng lượng sạch, thị trường carbon và tài chính xanh như đòn bẩy quyền lực mềm. Việc tăng gấp đôi vốn cho Quỹ Hợp tác Khí hậu Nam – Nam (South-South Climate Cooperation Fund - SSCCF) và cam kết 20 tỷ nhân dân tệ hỗ trợ quốc gia đang phát triển cho thấy Trung Quốc đã chuyển hẳn từ vai trò người bị yêu cầu hành động sang người định hình luật chơi, và từ đó bước gần hơn đến vai trò của một nhà lãnh đạo có trách nhiệm.
Kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 năm 2012, dưới định hướng của Tư tưởng Tập Cận Bình về Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong kỷ nguyên mới, nước này đã kiên định giữ vững niềm tin rằng “sông nước trong xanh, núi non xanh tươi là những tài sản vô giá” và xác định phát triển xanh và bảo vệ sinh thái là trụ cột chiến lược. Trên cơ sở đó, Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (2016-2020) đánh dấu bước chuyển quan trọng khi Trung Quốc không chỉ xác lập các mục tiêu phát triển xanh tham vọng mà còn trực tiếp thiết kế các cơ chế thực thi, giám sát và điều phối ở nhiều cấp độ nhằm bảo đảm hiệu quả chính sách. So với các kế hoạch trước, trọng tâm của kế hoạch lần này nằm ở việc tăng cường năng lực quản trị môi trường của nhà nước, từ áp đặt các chỉ tiêu ràng buộc, cải cách quản lý địa phương đến huy động công cụ thị trường và đầu tư công quy mô lớn.
Sang Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 (2021-2025), chuyển đổi xanh trở thành trục chiến lược khi Trung Quốc đặt mục tiêu đạt đỉnh phát thải trước năm 2030 và trung hòa carbon vào năm 2060, tối ưu hóa cơ cấu năng lượng, giảm phụ thuộc than, mở rộng điện gió - mặt trời - truyền tải siêu cao áp. Đồng thời, Trung Quốc cũng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tín chỉ carbon, và đẩy mạnh xuất khẩu công nghệ sạch như xe điện (EV), pin, hydrogen, tuabin gió. Đây là giai đoạn Trung Quốc chuyển từ nội địa hóa giảm phát thải sang mô hình mở rộng ảnh hưởng xanh ra toàn cầu.
Thành tựu
Với tiến trình thể chế hóa chuyển đổi xanh liên tục và nhất quán qua các “Kế hoạch 5 năm”, Trung Quốc đã chuyển hóa định hướng chính sách thành những hành động và kết quả thiết thực.
Trong lĩnh vực xe điện, các nhà sản xuất Trung Quốc chiếm tới 60% thị phần pin xe điện toàn cầu và 75% tổng số các trang trại điện gió được xây dựng mới trên toàn thế giới vào năm 2023, cho thấy quy mô triển khai và năng lực sản xuất vượt trội. Đặc biệt, trong giai đoạn 2023 - 2024, Trung Quốc đã lắp đặt công suất điện mặt trời nhiều hơn tổng công suất được lắp đặt tại tất cả các quốc gia khác cộng lại, đồng thời trở thành nhà cung ứng chủ đạo của thị trường toàn cầu. Bên cạnh đó, đến năm 2024, Trung Quốc vận hành khoảng 40% tổng số trạm tiếp nhiên liệu hydro trên toàn cầu, qua đó củng cố vai trò trung tâm trong việc hình thành hệ sinh thái năng lượng bền vững mới.
Không chỉ dẫn đầu về quy mô đầu tư và sản xuất, Trung Quốc còn đạt được những tiến bộ đáng kể về hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm phát thải. Trong giai đoạn 2012 - 2021, nước này duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 6,6%/năm, trong khi mức tăng tiêu thụ năng lượng chỉ ở khoảng 3%/năm. Cùng thời kỳ, lượng phát thải carbon trên mỗi đơn vị GDP giảm khoảng 34,4%, còn cường độ tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị GDP giảm 26,4%, đưa Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia có tốc độ cải thiện hiệu quả năng lượng nhanh nhất thế giới.
Nhà lãnh đạo khí hậu
Sự rút lui của Mỹ
Dưới thời chính quyền Trump, Mỹ thể hiện lập trường rõ ràng, đó là rút lui khỏi trách nhiệm chung toàn cầu trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu dù là nước gây ô nhiễm carbon lớn thứ hai thế giới và là nước thải ra nhiều lượng khí thải CO₂ nhất trong lịch sử. Đồng thời, các đóng góp tài chính mà Mỹ từng cam kết cũng bị huỷ bỏ. Sự “quay lưng” của nước Mỹ dưới thời Trump gây lo ngại về việc các quốc gia phát triển khác cũng có khả năng giảm mức độ tham gia vào nỗ lực chống biến đổi khí hậu chung.
Trong quá khứ, Mỹ từng ủng hộ việc chuyển đổi năng lượng khi thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh thông qua Đạo luật Giảm lạm phát (IRA) năm 2022. IRA có những điểm tương đồng với các chính sách của Trung Quốc, đó là khuyến khích sản xuất và phát triển năng lượng xanh, như đầu tư vào công nghệ năng lượng tái tạo, phát triển cơ sở hạ tầng, đưa ra các ưu đãi về thuế... Vào thời điểm đó, chính quyền tiền nhiệm dự kiến sẽ chi trực tiếp 145 tỷ USD cho các chương trình năng lượng và khí hậu trong IRA.
Tuy nhiên, dưới thời Trump, tình hình đã chuyển biến theo hướng ngược lại. Nước Mỹ đã rút lại các chính sách và chương trình do chính phủ tài trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển của năng lượng tái tạo, đồng thời cho biết sẽ lấy lại số tiền IRA chưa sử dụng. Thay vào đó, Mỹ sẽ chi 625 triệu USD để hồi sinh ngành công nghiệp than.
Washington cũng đe doạ áp dụng các biện pháp trả đũa như hạn chế thị thực, tăng phí cảng, áp dụng các biện pháp thương mại hoặc các hình thức trừng phạt khác nếu các quốc gia khác ủng hộ hoặc bỏ phiếu thông qua đề xuất áp “thuế carbon toàn cầu” (global carbon tax) trong khuôn khổ Net-Zero Framework của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO). Là quốc gia có lợi ích kinh tế gắn bó mật thiết với dầu mỏ, chính quyền Trump lập luận rằng thuế carbon toàn cầu sẽ làm tăng chi phí cho người dân, doanh nghiệp năng lượng, vận tải và du lịch của Mỹ, đồng thời có khả năng đẩy chi phí vận chuyển toàn cầu tăng khoảng 10% hoặc hơn.
Vào ngày 12/08/2025, các quan chức cấp cao của Mỹ đã đưa ra một tuyên bố chung liên quan đến thuế carbon toàn cầu, nội dung chính nhấn mạnh thuế của IMO sẽ mang đến lợi thế cạnh tranh cho các công ty Trung Quốc khi yêu cầu sử dụng các loại nhiên liệu hoặc công nghệ sạch hơn (ZNZs - Zero or near-zero emission sources) chẳng hạn như nhiên liệu điện tử có nguồn gốc từ hydro (hydrogen derived e-fuels), động cơ đẩy bằng năng lượng gió (wind propulsion), cái mà Bắc Kinh đang dẫn đầu trong việc phát triển và lắp đặt trên toàn cầu. Trước những áp lực từ Washington, các quốc gia thành viên IMO đã quyết định lùi kế hoạch bỏ phiếu trong vòng một năm. Tính đến thời điểm hiện tại, chính quyền Trump vẫn chưa có bất kỳ phản hồi cụ thể nào trước động thái trên.
Cách tiếp cận đơn phương và mang tính đối đầu này xuất phát đến từ việc Tổng thống Trump cho rằng: “Khái niệm về hiện tượng nóng lên toàn cầu được tạo ra bởi Trung Quốc nhằm làm cho ngành sản xuất của Mỹ trở nên kém cạnh tranh”, và việc không ủng hộ chuyển đổi năng lượng cũng là cách mà Mỹ bảo vệ ngành công nghiệp vốn giúp nước này đảm bảo an ninh quốc gia và lợi ích kinh tế trong lịch sử. Lần thứ hai (lần thứ nhất là vào ngày 01/06/2017) tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris (vào ngày 20/01/2025) đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ chấm dứt các nghĩa vụ của mình đối với các khoản đóng góp được xác định bởi quốc gia (NDC). Ngoài ra, Mỹ cũng đã ngừng tài trợ cho Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) của Liên Hợp Quốc, khiến 4 trong tổng số 6 tỷ USD mà nước này từng cam kết đóng góp cho quỹ bị hủy bỏ. Bên cạnh đó, việc tuyên bố chấm dứt tư cách thành viên trong Nhóm Đối tác Quốc tế (IPG) đối với các khuôn khổ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP) tại Nam Phi, Indonesia và Việt Nam sẽ kéo theo hệ quả là các nước nhận tài trợ sẽ mất đi số tiền mà Mỹ từng cam kết. Điển hình là Nam Phi sẽ mất hơn 1 tỷ USD trong các cam kết đầu tư, và hơn 3 tỷ USD dành cho Việt Nam và Indonesia chủ yếu dưới hình thức các khoản vay thương mại cũng sẽ không được triển khai.
Sự vắng mặt này cũng kéo theo lo ngại về việc các đồng minh của Mỹ, đơn cử là Nhật Bản, sẽ giảm mức độ cam kết trong các cơ chế khí hậu. Khi nhậm chức, Tân Thủ tướng Nhật Bản, bà Takaichi Sanae, đã không tham dự Hội nghị lần thứ 30 (COP30) các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) vào tháng 11/2025. Đồng thời, bà Takaichi đã cam kết thúc đẩy mục tiêu Nhật Bản sẽ tự chủ 100% năng lượng và ưu tiên năng lượng hạt nhân hơn so với năng lượng tái tạo. Định hướng này đang vấp phải sự phản đối từ dư luận trong nước bắt nguồn từ thảm họa Fukushima năm 2011, yếu tố khiến Tokyo có thể gặp khó khăn trong việc hoàn thành mục tiêu giảm 60% lượng phát thải vào năm 2035 và 73% vào năm 2040 so với mức năm 2013 theo như cam kết trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris.
Diễn biến này phản ánh hiệu ứng lan tỏa tiêu cực từ việc Mỹ rút lui, khi các đồng minh có xu hướng ưu tiên cho an ninh năng lượng quốc gia, thay vì phối hợp hành động chung vì nền khí hậu toàn cầu.
Sự đảo chiều chính sách của Mỹ cũng cho thấy chiến lược chuyển đổi xanh của siêu cường thiếu ổn định và dễ bị chính trị hóa, từ đó làm suy giảm niềm tin của thị trường và các đối tác quốc tế vào cam kết dài hạn của Washington. Chính điều này cũng đã làm suy yếu vị thế lãnh đạo của Mỹ trên trường quốc tế, khi xu hướng chuyển đổi năng lượng đang gia tăng, đồng thời cũng tạo nên khoảng trống quyền lực trong quản trị khí hậu toàn cầu.
Cường quốc có trách nhiệm
Trong khi đối thủ lớn nhất rút lui khỏi các cơ chế khí hậu, Trung Quốc vẫn duy trì cam kết với nguyên tắc trách nhiệm chung, tuy có phần khác biệt. Nước này tuyên bố sẽ cung cấp hỗ trợ chuyển đổi năng lượng cho các quốc gia đang phát triển bằng cơ chế riêng. Qua đó, Bắc Kinh vừa thể hiện được vai trò của một cường quốc có trách nhiệm vừa xây dựng được ảnh hưởng chính trị ở các quốc gia và khu vực có lợi ích chiến lược.
Cụ thể, Trung Quốc thúc đẩy hợp tác Nam - Nam về khí hậu khi cung cấp hỗ trợ tài chính, công nghệ và xây dựng năng lực cho các quốc gia Nam Bán cầu. Đến cuối tháng 10/2025, Trung Quốc đã ký 55 biên bản ghi nhớ về hợp tác Nam - Nam để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu với 43 quốc gia đang phát triển. Theo báo cáo từ Trung tâm Phát triển và Tài chính Xanh tại Trường Tài chính Quốc tế Fanhai, Đại học Phúc Đán (FISF), Trung Quốc đầu tư cho các nước tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) trong lĩnh vực năng lượng đạt kỷ lục mới với 42 tỷ USD trong sáu tháng đầu năm 2025, tăng 100% so với cùng kỳ năm trước. Con số này có thể được chia nhỏ thành 9,7 tỷ USD trong các lĩnh vực xanh như gió, mặt trời và năng lượng từ chất thải và cũng là con số nửa năm cao nhất kể từ khi BRI được thành lập vào năm 2013. Ngoài ra, 23,2 tỷ USD cũng được Trung Quốc phân bổ để đầu tư chủ yếu cho pin xe điện và sản xuất xe điện cho các nước nằm trong BRI, nhiều hơn gấp đôi con số trong cùng kỳ năm ngoái.
Với các quốc gia đang đối mặt với sự gián đoạn nguồn tài trợ vì Mỹ rút lui, Trung Quốc nổi lên như một nhà đầu tư tiềm năng. Ở Đông Nam Á, Indonesia là một minh chứng tiêu biểu cho xu hướng này. Là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á cùng với trữ lượng niken chiếm khoảng 22% trữ lượng toàn cầu, Indonesia là một nút (node) quan trọng trong chuỗi cung ứng xe điện và là nhân tố quan trọng trong các cuộc đàm phán khí hậu toàn cầu với tiềm năng năng lượng tái tạo khổng lồ từ năng lượng mặt trời, thủy điện đến địa nhiệt.
Năm 2022, nước này được cam kết gói tài chính 20 tỷ USD từ các thành viên trong Nhóm các Đối tác Quốc tế (IPG) khi nằm trong nhóm Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP). Nhưng tính đến tháng 9/2025, không có dự án lớn nào nhận được các khoản hỗ trợ tài chính như cam kết. Bên cạnh đó, việc mất đi 1 tỷ USD từ Mỹ khi nước này huỷ bỏ tư cách thành viên IPG đã khiến cho các dự án chuyển đổi năng lượng ở Indonesia gặp khó khăn khi thiếu nguồn tài trợ.
Khi đó, các cơ chế khí hậu do Trung Quốc dẫn dắt đang nổi lên như một kênh bổ trợ và thay thế cho tài chính khí hậu truyền thống. Đáng chú ý, các dự án năng lượng tái tạo do các Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) tài trợ đang tiến triển nhanh hơn do các cơ chế cho vay đơn giản. Trước đó, vào năm 2024, Trung Quốc và Indonesia đã ký kết thoả thuận hỗ trợ tài chính trị giá 10 tỷ USD tại Diễn đàn Kinh doanh Indonesia - Trung Quốc và 11 thỏa thuận trị giá 12,6 tỷ USD vào năm 2023, chủ yếu hướng đến các dự án năng lượng tái tạo và pin EV.
Trường hợp Indonesia cho thấy, khi Mỹ không còn đóng vai trò như một “nhà đầu tư khí hậu”, Trung Quốc có thể trở thành đối tác tiềm năng và lấp đầy khoảng trống tài chính do Mỹ để lại thông qua một chiến lược có tính toán. Và tất nhiên, hỗ trợ chuyển đổi năng lượng không đơn thuần mang tính phát triển, mà được gắn chặt với mục tiêu kiểm soát các mắt xích then chốt của chuỗi cung ứng khoáng sản và công nghiệp xanh. Khi đồng ý nhận các khoản đầu tư từ Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ tận dụng trữ lượng niken dồi dào của Indonesia để duy trì chuỗi cung ứng pin EV toàn cầu. Đồng thời, việc hợp tác với Indonesia giúp Trung Quốc mở rộng quyền lực mềm và ảnh hưởng địa chính trị tại Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao ở khu vực chiến lược. Chỉ vài tháng sau khi Mỹ tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Khí hậu Paris vào tháng 1/2025, Trung Quốc đã tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc - Các Quốc đảo Thái Bình Dương lần thứ III (28-29/05/2025). Các Quốc đảo Thái Bình Dương nằm trong không gian chiến lược quan trọng đối với cả Trung Quốc và Mỹ khi cả hai đều muốn tăng cường sự hiện diện ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc tổ chức hội nghị cùng các tuyên bố hợp tác tạo điều kiện để Bắc Kinh xây dựng hình ảnh một đối tác thiện chí và thể hiện cách tiếp cận tương phản với động thái tạm dừng viện trợ nước ngoài và áp dụng thuế quan diện rộng của Washington dưới thời Tổng thống Donald Trump. Thông qua Hội nghị, Trung Quốc tuyên bố kế hoạch triển khai 100 dự án tập trung vào ứng phó biến đổi khí hậu và phân bổ 2 triệu USD để mở rộng hợp tác các “dự án nhỏ nhưng hiệu quả” trong lĩnh vực như năng lượng sạch, cơ sở hạ tầng ở khu vực.
Liên hiệp châu Âu (EU) cũng là đối tác quan trọng mà Trung Quốc tăng cường trao đổi để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm năng lượng sạch, nhất là khi EU và Mỹ đang đi ngược hướng trong việc chuyển đổi năng lượng. Hợp tác Trung Quốc - EU về biến đổi khí hậu mang đến cơ hội cho cả hai bên kể từ khi Washington rút khỏi Thỏa thuận Khí hậu Paris. Một mặt, rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng năng lượng do chiến tranh Nga - Ukraine gây ra, châu Âu tăng cường hợp tác với Trung Quốc và qua đó đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và giảm mức độ phụ thuộc vào các nhà cung cấp truyền thống. Đồng thời, Bắc Kinh có thêm cơ hội sử dụng hợp tác khí hậu như một kênh đối thoại trong đàm phán về các rào cản thuế quan mà EU áp dụng đối với xe điện và các cuộc điều tra chống trợ cấp đối với các tấm pin mặt trời của nước này. Mặt khác, thông qua các tuyên bố chung về khí hậu, EU vừa phát đi tín hiệu với Mỹ về nhu cầu “tự chủ chiến lược”, vừa duy trì được nguồn nhập khẩu giá rẻ. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục duy trì kết nối với các nền kinh tế phát triển và mở rộng chuỗi cung ứng các sản phẩm công nghệ xanh giá rẻ như tấm pin mặt trời và xe điện.
***
Việc Mỹ rút khỏi các cơ chế khí hậu quốc tế đã tạo điều kiện để Trung Quốc tái định vị vai trò của mình. Thay vì chỉ là một quốc gia đang phát triển chịu sức ép cắt giảm phát thải, Bắc Kinh chủ động chuyển sang vai trò tác nhân kiến tạo, sử dụng chuyển đổi xanh như công cụ chiến lược nhằm gia tăng ảnh hưởng kinh tế và chính trị. Thông qua việc thể chế hóa mục tiêu khí hậu trong các kế hoạch 5 năm, mở rộng năng lực công nghiệp công nghệ sạch và đẩy mạnh đầu tư xanh ra nước ngoài, Bắc Kinh từng bước lấp đầy khoảng trống lãnh đạo mà Washington để lại.
Sự rút lui của Mỹ khỏi các cơ chế đa phương không chỉ làm suy yếu nỗ lực khí hậu toàn cầu mà còn mở ra không gian để Trung Quốc định hình các chuẩn mực mới thông qua hợp tác song phương và Nam - Nam, từ tài chính khí hậu đến chuyển giao công nghệ và hạ tầng năng lượng. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang phát triển thiếu hụt nguồn lực cho chuyển đổi xanh, mô hình hỗ trợ nhanh, quy mô lớn và gắn với chuỗi cung ứng công nghệ của Trung Quốc trở thành lựa chọn hấp dẫn, qua đó giúp củng cố vị thế trung tâm của Bắc Kinh trong hệ sinh thái năng lượng xanh toàn cầu.
Trâm Anh và Tường Duy là cựu sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Từ khoá: chuyển đổi xanh Trung Quốc Mỹ biến đổi khí hậu