Thương mại hóa tự vẫn: Bi hài kịch và suy ngẫm về trợ tử

Tâm thế cá nhân và năng lực tự quyết có tồn tại độc lập với bối cảnh xã hội, hay chúng luôn bị định hình bởi ngoại cảnh – một nền văn hóa chán sống, một hệ thống phúc lợi thiếu hụt, một gia đình không mấy trân trọng ta? Liệu xã hội có lợi dụng “cái chết tốt” như quyền của mọi người để lấp liếm sự thất bại khi đã để mặc “cuộc sống tốt” là đặc quyền của số ít?

Thái Bảo Ngọc 08/04/2026
Image
Hình ảnh từ phim hoạt hình The suicide shop

“Quý khách đã thất bại trong cuộc sống? Đến với chúng tôi, quý khách sẽ thành công trong cái chết”

Trong Cửa hiệu tự sát (NXB Hội Nhà văn, 2021), Jean Teulé dựng lên một thế giới nơi một gia đình kinh doanh dụng cụ tự tử qua nhiều thế hệ. Gia đình dòng họ Tuvache không đặt câu hỏi đạo đức, cũng không yêu cầu khách hàng trình giấy tờ xác nhận đã kiểm tra y khoa nghiêm ngặt về sự cùng đường của thể chất hay tinh thần. Nhà Tuvache chỉ lo phục vụ đàng hoàng, và tin rằng mình đang giúp đỡ những người tuyệt vọng. Nhân mệnh khó tránh phải trải qua nhiều biến thiên vượt ngoài khả năng quản quyết rồi, vậy hãy để đại sự cuối cùng của đời người được như ý nguyện. Gọn gàng, và nhanh chóng.

Trời cứ thích phụ lòng người sống, giờ chỉ còn mong người đừng phụ lòng người muốn chết.

Cửa hiệu ấy vận hành như một doanh nghiệp rất đỗi bình thường, như một cửa hàng tạp hóa bất kỳ, một lựa chọn tiêu dùng tiện tay mà ta có thể đường hoàng ghé vào chỉ trỏ vài món hàng rồi rước về, tự nhiên như đi mua các mặt hàng gia dụng. Một cửa hàng có sản phẩm, có dịch vụ khách hàng, có truyền thống gia đình, thậm chí có cả triết lý kinh doanh: “Không được nói tạm biệt khi khách về mà là vĩnh việt vì họ không bao giờ quay lại nữa”; “Không được xin chào buổi sáng tốt lành mà phải chúc bà buổi sáng đen đủi”; “Trong số 150 nghìn người có ý định tự sát, có 138 người tự sát hụt. Họ phải sống quãng đời còn lại tàn tật trên xe lăn, thân thể huỷ hoại mãi mãi, trong khi đó nhờ chúng tôi (…) Những món tự sát của chúng tôi được bảo hành. Hoặc chết hoặc trả tiền lại!”. Thậm chí là, “chúng ta chỉ chết một lần trong đời, vậy tại sao không làm một lần để đời”.

Chưa bàn đến ý nghĩa đạo đức hay giá trị thực tiễn của mô hình này thì ta vẫn có thể nhận ra sự tương thích nhất định của cửa hiệu tự sát trong xã hội hiện đại – một xã hội thị trường (market society), nơi hầu như mọi vấn đề đều có “giải pháp” thông qua các dịch vụ mua-bán. Khía cạnh này cũng tương tự với chủ nghĩa giải pháp công nghệ, khi giới pháp lý -hành chính hoặc phường bán buôn dễ sa đà vào giả định bản chất vấn đề thay vì nghiên cứu chúng, vội vã tìm lời giải trước khi đặt ra những câu hỏi đúng, và đơn giản hóa các vấn đề phức tạp thành những bài toán kỹ thuật thuần tuý.

Tại sao xã hội lại tạo ra đủ nhu cầu để nuôi sống một cửa tiệm như thế suốt nhiều thế hệ? Phương diện nào trong cách con người nơi đây tổ chức cuộc sống khiến cái chết trở thành một lựa chọn hấp dẫn với ngày càng nhiều người? Với thể loại phản địa đàng (dystopia), thế giới trong Cửa hiệu tự sát là nơi thiên nhiên bị bức tử đến cùng hạn và phản kháng bằng sự độc hại ngập ngụa, là nơi tràn lan niềm chán chường và bi quan cùng cực trước những bi kịch lẻ tẻ mang tính cá nhân hoặc cấu trúc (tội ác chiến tranh cực độ, thời sự toàn phát những tin tức về tai hoạ và thảm nạn), nơi mà con người ta khát cầu cái chết và quyết tâm chết, thay vì lưỡng lự bám víu sự sống tàn hơi.

Các vị khách đến tiệm với những nhu cầu tự vẫn khác nhau và được tư vấn với các phương thức đa dạng. Nào là sợi dây thừng treo cổ với thòng lọng được buộc sẵn và chỉ việc bỏ đầu vô, lưỡi dao cạo để rạch mạch máu, một số dao rỉ sét của nhãn hiệu nào đó ghi rõ uy tín chết chóc rằng dù khách không chết vì mất máu thì cũng chết vì uốn ván. Nào là bộ dụng cụ cho kiểu seppuku (nghi thức mổ bụng tự sát của võ sĩ đạo Nhật) dành cho người sức lực tốt, cả xăng và napan để tự thiêu. Ở cách seppuku, chủ tiệm còn chu đáo đến mức định may lên chiếc áo kimono võ sĩ đạo một chữ thập bằng lụa đỏ để chỉ rõ vị trí đâm cho thanh kiếm nhật tanto, “vì đôi khi họ đâm quá cao, đụng xương ức, vậy sẽ không vô được, hoặc qua thấp thì vào bụng, vậy chỉ trúng ruột thừa”. Kiểu chết mang vẻ quý tộc này tuy tốn kém hơn thùng napan, nhưng theo lời ông Mishima chủ tiệm, “dù sao cũng là lần tốn tiền cuối cùng”.

Vẫn còn muôn màu muôn vẻ những thuốc độc, có loại đụng vô là chết, hoặc hít, uống và thoa bằng axit lươn xanh, độc tố cóc vàng, độc tố cá trê, v.v. Biết cách chết bằng chất thạch tín sẽ gây khô miệng và khó chịu, cửa hiệu cũng rất chăm chút khách khi bỏ thêm chút bạc hà để làm mát họng. Hay đối với những vị muốn chết mà không có tiền, ông chủ tặng luôn cho họ những túi đựng hàng để họ tự làm chết ngạt mình: “Chúng rất chắc chắn. Có cả một dây ruy băng để cột kín xung quanh cổ họng mình”.

Một điểm đặc biệt trong cách kinh doanh của cửa hiệu này chính là, khi có khách sợ không đủ can đảm tự kết liễu và hỏi dịch vụ hỗ trợ tại gia, ông chủ đã khẳng định đạo đức nghề nghiệp: “Chúng tôi không phải quân giết người. Đó là điều cấm. Chúng tôi chỉ cung cấp những dụng cụ cần thiết và khách hàng phải tự xoay xở”. “Điều cấm” ở đây chứng tỏ cái nghiệp kiếm lời từ nhu cầu bỏ mạng này được nhà nước kiểm soát với các giới hạn thương mại nhất định. Có thể vì nhà nước muốn để người tìm chết được tự do do dự hoặc quyết tâm tự tận, đồng thời bảo vệ sự vô can của người bán trước đại sự nhạy cảm của khách hàng. Bạn có thể cực kỳ chán đời và đời cũng cùng cực chán bạn, nhưng chúng tôi chỉ hỗ trợ “cần câu” thôi, còn “thành phẩm” ly đời biệt kiếp phải tuỳ thuộc vào ý chí cá nhân của bạn lẫn tiếng gọi từ cõi hư vô. Nhỡ đâu bạn đổi ý, nhỡ đâu địa phủ chưa muốn chứa chấp bạn, nhỡ đâu cuộc đời bạn bỗng trở nên hanh thông.

Khía cạnh “chừa lại đường lùi” trong nguyên tắc hành nghề của cửa hiệu cũng được thể hiện ở chi tiết bà chủ Lucrèce thấy có khách nhỏ tuổi hỏi mua những viên kẹo tẩm độc. Bà khẳng định: “Chỉ có thể lấy một viên duy nhất trong các viên kẹo chết người của bổn tiệm. Sẽ không có chuyện cháu đi phân phát chúng cho các cô bạn cùng lớp. Cửa hiệu cô chú không phải để tiêu diệt cả trường cấp 2 hoặc cấp 3! (...) Giống như bán đạn, cô chú chỉ bán theo viên. Ai bắn một viên vô đầu sẽ không cần viên thứ hai. Nếu ai đó muốn mua nguyên hộp đạn hẳn có một ý đồ khác trong đầu. Cô chú không bán cho những kẻ giết người. Thôi, cháu chọn một viên đi. Nhưng cháu nhớ chọn cho kĩ, vì trong hũ kẹo này, chỉ có phân nửa là kẹo chết người. Luật quy định phải cho trẻ em một cơ hội”.

Ở góc nhìn khác, độc giả có thể băn khoăn rằng “cơ hội” lẽ ra phải là cơ hội được ngăn lại, được lắng nghe, được dẫn dắt để người muốn chết quay về với cuộc sống. Nhưng theo logic của cửa hiệu (và có thể cả luật pháp), cơ hội chỉ là xác suất may rủi trong một hũ kẹo. Một giá trị nhân văn lớn lao như thế lại chỉ có thể được thực thi như một thủ tục kỹ thuật ngẫu nhiên, tuỳ vận. “Hên” thì được hoá kiếp, “xui” thì phải sống tiếp. Có vẻ như tác giả vừa muốn tán thưởng ranh giới kinh doanh, vừa chế nhạo kiểu xã hội chỉ giữ lại lòng-nhân-đạo-lấy-lệ.

Trước cõi đời trái khoáy, sự nổi loạn lớn nhất của con người đơn giản là: còn muốn sống!

Cho đến khi Alan – thằng con út nhà Tuvache ra đời với nụ cười thường trực không quản bi hoan, nó đã quyết tâm làm lung lay cái trật tự đau thương ấy bằng thứ vũ khí duy nhất mà nó có: sự lạc quan. Alan như một biểu tượng của sức sống đối nghịch với nền văn hóa chết chóc và cái gien buồn đời hằn trong nghiệp buôn tang tóc của gia đình, khiến mẹ Lucrèce cảm thấy quái gở và không chấp nhận nổi: “Không thể có chuyện đó, trong gia đình dòng họ Tuvache không ai biết cười!”; “Đừng cười nữa, con muốn khách bỏ đi hết sao”.

Alan chính là một phản đề của cuốn sách. Nếu đọc bằng lăng kính Camus, Alan là “con người nổi loạn” (the rebel) với thái độ “thách thức sự phi lý” (defiance of absurdity) – người đồng tình rằng thế giới có thể vô nghĩa và bất hạnh, nhưng vẫn quyết định sống tiếp bằng cách luôn luôn khinh miệt sự vô nghĩa của cuộc đời nói chung hoặc số phận mình nói riêng, nhất định không trao cho cái nếp phi lý rành rành ấy quyền định đoạt. Một số chi tiết phản ánh tâm thế này của Alan, chẳng hạn, “nếu một chiếc máy bay chở 250 hành khách bị tai nạn và có 247 người bị tử nạn, nó chỉ nhớ số người thoát chết”. Hoặc bất chấp ô nhiễm dày đặc, những con chim di cư gieo rắc các mầm bệnh từ nhiều quốc gia xa xôi, những tia phóng xạ và các vụ khủng bố đầy rẫy trên thế giới, Alan vẫn điềm nhiên vẽ cửa sổ rộng mở dưới bầu trời trong xanh và mặt trời toả sáng trong bức tranh phong cảnh của mình, mặc kệ mẹ nó chất vấn sự khuyết thiếu của tai hoạ hiện thực trong bức tranh.

Qua tâm thái và cách cư xử của bà Lucrèce, độc giả có thể lờ mờ nhận ra rằng những đứa con khác của nhà Tuvache không hẳn vừa chào đời đã tiêu cực. Chẳng hạn với chị gái Marilyn, cô luôn mặc cảm với ngoại hình bản thân và cũng luôn bị người thân chê bai khuyết điểm đó, được lột tả qua chi tiết bà Lucrèce trách Alan: “Sao con lại vẽ chị con năng động và xinh đẹp như thế này? Con biết rõ chị ấy luôn cảm thấy mình vô dụng và xấu xí”. Bà còn bắt Alan xem thời sự trên tivi để cố làm nó xuống tinh thần. Rõ ràng, ngoài đặc thù tinh thần và ý niệm cá nhân ra, nỗi thê lương của kiếp người chịu ảnh hưởng rất lớn từ ngoại cảnh. Chưa kể những tai ương to tát ở đẩu đâu, ngay những người kề cạnh đã là chất xúc tác thường nhật cho thái độ u uẩn trước cuộc đời. Dòng máu tự sát, nếu có, chỉ chiếm tí tẹo phần trăm cận 0 trong một sinh vật vốn được lập trình bản năng sinh tồn.

Một chi tiết đắt giá khác về sự thiếu hụt mặt hàng của cửa hiệu tự sát đã làm bật lên một nguyên nhân nổi trội dẫn đến bi kịch của sinh vật xã hội Homo Sapiens – sự cô đơn, cô độc. Khi có khách hỏi vì sao tiệm không có nhiều động vật, ông chủ Mishima trả lời: “Vấn đề ở chỗ khách hàng họ cô độc lắm nên họ sẽ rất quý những loài thú độc bán ở đây. Kì lạ thay, chúng cảm nhận được điều này và không cắn chủ. Có một lần (...), một quý bà đã quay lại cửa hiệu với con nhện Mygale (loại nhện độc khổng lồ sống ở Nam Mỹ) đã mua trước đó. Tôi ngạc nhiên lắm và bà ấy hỏi mua những cây kim. Tôi cứ tưởng bà ấy muốn dùng kim đâm vào mắt. Nhưng hoàn toàn không phải thế, bà ấy mua kim để đan những đôi ủng nhỏ tí ti bằng những sợi len mềm mại cho con nhện bà ấy đặt tên Denise. Họ đã thành bạn bè (...) Bà ấy còn đùa: ‘Denisse đã làm tôi yêu đời trở lại’”.

Nỗi e ngại của chủ tiệm trước sự hồi sinh ấy của bà khách có lẽ chỉ vì trong xã hội hiểm hoạ và tăm tối này, cái chết đã nghiễm nhiên trở thành sự cứu rỗi thích đáng trong tâm thức con người ta. Khơi lại nơi họ ý muốn sống tiếp chưa chắc đã là phước lành, có khi “ý tốt” này còn kéo lê bi kịch tiềm năng của họ. Có kẻ vỗ về niềm đơn côi là mấy con thú độc cũng chỉ là chút ủi an tạm bợ trước khi lại bị hiện thực đả kích. Tuy nhiên, nếu cô đơn mới là nỗi sợ hãi lớn nhất đối với người đó, vượt trên tất thảy những đen đủi mà cõi đời có thể mang lại, vậy ắt bà khách ấy đã đủ thoả nguyện để tự tin đương đầu với các biến cố sắp tới. Nhưng tại sao bà ấy lại cô đơn đến nỗi háo hức bầu bạn với thú độc thì chỉ có bà và xã hội nơi bà sống biết rõ.

Giữa trần gian ngập tràn tuyệt lộ, chỉ cần một vài người nỗ lực từ chối sầu não, kiên tâm tin vào mặt tích cực và kỳ vọng vào những tiềm năng sáng sủa, mọi thứ sẽ bắt đầu thay đổi.

Khổ đau có thể nhân tạo, và sự thật là đang thừa mứa khổ đau nhân tạo ở cả những bi kịch tưởng chừng tự nhiên nhất. Nguyên cớ tại nhân, vậy thì cứ dùng chính nhân để can thiệp.

Alan, với mỗi hành động nhỏ nhưng bướng bỉnh trước logic của bi quan, đã dần cứu vớt được chị mình, và cả những người xa lạ. Chẳng hạn, khi Alan tặng miếng vải vuông lụa trắng cho Marilyn vào hôm sinh nhật chị, khi cả nhà nghĩ nó dùng để treo cổ, cậu bé đã ân cần dặn dò: “Đừng buộc chặt quá, phải để nó thanh thoáng như vậy. Như một dải mây mềm mại vuốt ve cổ, vai và ngực chị”. Cậu còn vứt mất viên kẹo tẩm độc của một cô bé để giữ cô lại trần gian, hay lén “động tay động chân” với vài sản phẩm ở cửa hiệu. Nào là mài mòn các lưỡi dao lam đến khi chúng cùn trơ và vô hại, soi tìm các viên kẹo tẩm độc để quẳng bỏ chúng, cắt cụt đám dây treo cổ, hoặc thay mấy quả táo độc thành táo lành, v.v..

Alan rất nhẫn nại vực dậy tinh thần các vị khách bằng cách thuyết phục họ yêu thương bản thân hơn, quay trở về, rồi lấy đó làm điểm tựa để mở lòng giúp đỡ những người xung quanh: “Cô nhìn xem con người này đang đứng trước mặt cô. Hãy nhìn người này! Đừng xấu hổ! Nếu cô gặp người như vậy trên đường, cô có muốn giết không? Người này đã làm gì để bị căm ghét đến vậy? Người này đã phạm tội gì? Tại sao lại không yêu thương người này? Trước tiên cô hãy kết bạn với cô gái ấy và những người khác sẽ làm theo như vậy”.

Dường như trong chính sự ủng hộ ngầm ẩn của tác giả dành cho quyền quyên sinh, vẫn lờ mờ niềm mong mỏi một thế giới hạn chế nhu cầu về những cửa hiệu tự sát nhất có thể.

Đáng tiếc, khi cả gia đình cuối cùng cũng vỡ vạc và thông suốt về sự đáng quý của sinh mệnh lẫn giá trị của sự tích cực và yêu đời, Alan lại yên tâm tự sát. Một bất ngờ không tưởng, một kết cục ngỡ ngàng dành cho cậu nhóc thiên sứ. Chẳng lẽ vẻ ngoài tươi tắn và hân hoan của Alan chỉ là lớp vỏ hoàn mỹ che giấu phần tâm hồn đã tơi tả mục ruỗng bấy lâu? Cũng phải nhỉ, cậu đã bị chì chiết, phủ nhận trong suốt cuộc đời mình, bị đối xử như một kẻ bên lề dị biệt, một nỗi thất vọng làm mất mặt dòng họ, thậm chí còn từng bị bố mình gửi tới Monaco để tham gia khóa huấn luyện đặc công tự sát – một nơi toàn “những thằng điên, những đứa thù hận và tàn bạo” nhằm ngăn nó tiếp tục đảo lộn việc kinh doanh và uy tín cửa hiệu.

Như vậy, người hay thường trực nụ cười cũng có thể đang âm thầm lún sâu vào khổ đau. Không ai hay biết, chẳng ai quan tâm, chỉ đến khi nạn nhân buông tay, ta mới muộn màng ân hận.

Thế giới làm gì trước nhu cầu an tử và trợ tử?

An tử (euthanasia) hay “cái chết êm ái”, trước đây ngụ ý việc chết một cách thanh thản, vì người ra đi sẽ để lại các mối quan hệ và mọi việc trần thế trong sự hài hòa. Trong thời đại ngày nay, cái chết êm ái nghĩa là có quyền lựa chọn và kiểm soát thời điểm lẫn cách thức mình chết. Yêu cầu an tử hay trợ tử (physician-assisted suicide/PAS) đòi hỏi người khác (thường là bác sĩ), phải cung cấp phương tiện để chấm dứt cuộc sống, dưới dạng một liều thuốc gây chết người, và người yêu cầu phải tự mình sử dụng thuốc đó. Tiêm thuốc giãn cơ (neuromuscular relaxant) hoặc uống barbiturat (thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương, có thể tạo ra một phổ tác dụng rộng từ an thần nhẹ đến tử vong), là một số ví dụ.

Cho đến nay, an tử là hợp pháp ở Colombia, Canada, các bang Victoria và Tây Australia của Australia, New Zealand, Áo, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và 10 tiểu bang ở Mỹ (California, Colorado, quận Columbia, Hawaii, Maine, Montana, New Jersey, Oregon, Vermont, Washington). Nổi bật có Thuỵ Sĩ tạo điều kiện trợ tử cho cả những công dân ngoại quốc, do vậy mà quốc gia này còn gắn liền với thương hiệu “du lịch tự sát” (suicide/death tourism). Các lập luận ủng hộ an tử thường viện dẫn quyền tự quyết, quyền tự chủ và ý chí tự do. Ở tất cả các quốc gia, sự đau khổ không thể chịu đựng được của bệnh nhân phải thuộc loại không thể giảm nhẹ bằng thuốc hoặc các liệu pháp thay thế khác.

Hơn nữa, an tử thường chỉ giới hạn trong các trường hợp tự nguyện, tức những bệnh nhân có năng lực tinh thần, yêu cầu an tử một cách rõ ràng, đã cân nhắc kỹ lưỡng, và không có người vụ lợi đứng sau. Độ tuổi được phép an tử/trợ tử là khác nhau. Ví dụ, ở Mỹ, Canada và Luxembourg, bệnh nhân phải ít nhất 18 tuổi; còn Hà Lan cho phép bệnh nhân từ 12 tuổi trở lên.

Cần phân biệt an tử với thuật ngữ “an tử thụ động” (passive euthanasia) vì nó đề cập đến việc chấm dứt các phương pháp điều trị có khả năng duy trì sự sống với sự đồng ý của bệnh nhân hoặc người đại diện – tức bệnh nhân chuyển sang chết “tự nhiên” với chăm sóc giảm nhẹ (palliative care), chứ không phải là việc thực hiện một can thiệp y tế để kết thúc cuộc sống của bệnh nhân. Đây là một dạng quyền từ chối kéo dài sự sống hợp pháp.

Hầu hết các quốc gia hợp pháp hoá trợ tử y tế đều quy định rằng sự đau khổ không thể chịu đựng được phải do một căn bệnh nan y gây ra. Tuy nhiên, Hiến pháp của Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg cho phép cả yêu cầu trợ tử y tế khi nỗi đau vô phương chịu đựng và không có triển vọng cải thiện do một căn bệnh không nan y tạo nên. Căn bệnh đó có thể thuộc về thể chất và/hoặc tinh thần. Ngoài ra, việc làm rõ năng lực của bệnh nhân rất phức tạp vì mong muốn chết có thể là một phần của bệnh lý tâm thần. Không phải lúc nào yêu cầu cũng được chấp thuận bất chấp tính hợp pháp của nó.

Có nhiều tranh luận liên quan đến việc thực hiện an tử/trợ tử đối với trẻ vị thành niên, những người chỉ “đơn giản” là “mệt mỏi với cuộc sống” hoặc những người dễ bị tổn thương về kinh tế xã hội (socioeconomically vulnerable). Tại Oregon và Washington, các trường hợp này sẽ là bất hợp pháp và không có dữ liệu về các trường hợp như vậy.

Tóm lại, khác với sự rộng mở vừa tuỳ tiện vừa “công bằng” đến mọi lứa, thể trạng và cớ sự của dịch vụ trợ tử trong Cửa hiệu tự sát, người cần trợ tử trong thực tế buộc phải có bệnh dù nan y hay không, phải đau đớn và thống khổ tột cùng thì mới được xem xét. Quyền cầu tử vẫn được y tế chính thống quản lý chứ không thuộc về thị trường hay do cá nhân tự quyết. Mà xem xét cũng chưa chắc được duyệt, vì kết quả đánh giá y khoa có thể cho thấy thể xác này còn hy vọng, tinh thần này không thực sự minh mẫn, hay lo ngại người yêu cầu chỉ đang xốc nổi nhất thời. Thận trọng cực độ với “có đau” và “có bệnh” đến mức ấy, thì việc chấp nhận trợ tử trong trường hợp “chỉ đơn thuần” muốn buông xuôi cuộc đời, “chỉ” vì những lý do lặt vặt trong đời hay chán sống vì mất ý nghĩa (existential suffering), vẫn còn khá viễn tưởng.

Tuy nhiên, điểm hay của sự thận trọng hiện tại trước cái chết nhân đạo có thể thấy ở các tiểu bang của Mỹ cho phép PAS, trong đó luật quy định tối thiểu 15 ngày giữa hai lần yêu cầu bằng lời nói, và thêm 48 giờ giữa yêu cầu bằng văn bản cuối cùng với thời điểm cấp đơn thuốc. Tương tư, Canada quy định thời gian chờ 10 ngày giữa yêu cầu bằng văn bản và việc cung cấp PAS. Đối với bệnh nhân không mắc bệnh nan y, Bỉ yêu cầu thời gian chờ 1 tháng.

Suy cho cùng, con người vẫn là sinh vật không nhất quán, mà các biến số lại thường chầu chực nhiều hơn hằng số. Việc không nhanh chóng giúp họ toại nguyện tuy khắt khe nhưng lại thể hiện tấm lòng vị tha trước mạng sống. Chúng tôi ở đây, với chuyên môn, trang thiết bị cần thiết cùng sự sẵn lòng phục vụ, vẫn hy vọng bạn có thêm thời gian đối mặt với khốn khổ và tiến lên vài nấc phục hồi. Biết đâu nhờ khoảng thời gian ấy mà bạn nghĩ lại, nhờ khoảng lặng tự vấn ấy mà bạn quyết định cho mình và cuộc đời thêm một cơ hội thương nhau. Dẫu cuối cùng bạn vẫn quyết chết, vẫn mong lựa chọn đó đến từ sự thông suốt đã được giũa mài cẩn thận.

An tử và trợ tử trong bối cảnh Việt Nam

Việt Nam chưa hợp pháp hoá quyền được chết. Bệnh nhân dù đang trong giai đoạn không thể cứu chữa, hay bị bệnh tật dày vò đau khổ thì cũng không có bất kỳ ai được quyền hỗ trợ chết cho bệnh nhân kể cả khi đó là mong muốn của bệnh nhân lẫn thân nhân. Như vậy, dù là bác sĩ hay người nhà bệnh nhân thực hiện hành vi trợ tử cho bệnh nhân thì đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội Giết người (Điều 123), và Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 131) theo Bộ luật Hình sự 2015. Giai đoạn 2004-2005, Quốc hội đã thảo luận về việc đưa quyền được chết vào Bộ luật Dân sự nhưng bị bác vì vấn đề này quá mới, nhạy cảm, không phù hợp văn hóa và giá trị đạo đức của người Việt.

Nhìn chung, pháp luật cấm nhưng chưa thực sự luận bàn kỹ lưỡng và chính thức về các căn nguyên cấm cùng những hướng đi thay thế. Để hiểu vì sao pháp luật nước ta e ngại quyền chết như thế, có thể tham khảo một số khía cạnh ảnh hưởng đến tâm thức người Việt về cái chết.

Đầu tiên là Phật giáo (nghiệp và vòng luân hồi). Phật giáo nhìn cái chết như một mắt xích trong vòng luân hồi sinh tử. Giúp ai đó kết thúc sự sống sớm, dù vì đau khổ, có thể can thiệp vào nghiệp của người đó theo cách bất lợi: nghiệp chưa trả hết, duyên chưa đủ, sự chuyển sinh có thể xấu hơn nếu cái chết không “đúng thời”. Hơn nữa, việc giúp đỡ người ta tự sát vẫn bị cho là điều bất thiện và tạo nghiệp xấu (bad karma).

Tất nhiên, Phật giáo không nhất thiết phản đối an tử hoàn toàn. Lòng từ bi (karuna) – một trong những giá trị trung tâm của Phật giáo có thể biện minh cho nỗ lực tiết giảm đau khổ, chẳng hạn như ngưng các phương pháp điều trị vô nghĩa và chuyển qua chăm sóc giảm nhẹ. Nhưng karuna hay động cơ thương xót không đủ để biện hộ cho hành vi chủ động chấm dứt sự sống của người khác, vì điều này vẫn vi phạm Giới luật thứ nhất (không sát sinh) trong Ngũ giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) của Phật giáo.

Ngoài ra, có lo ngại về việc quyền được chết có thể bị lạm dụng để thực hiện các vụ ép buộc an tử nhằm trục lợi từ người được an tử, chẳng hạn như tiền bảo hiểm hoặc tài sản thừa kế. Mối lo này liên quan đến thuyết trượt dốc (slippery slope), được đề cập trong nhiều tranh luận về hợp pháp hoá an tử. Cụ thể, quyết định đúng đắn về mặt đạo đức ở trên cùng làm thay đổi bối cảnh xã hội và lập luận của quyết định tiếp theo, khiến cho các lựa chọn đáng phản đối hơn ở phía dưới trở nên có nhiều khả năng xảy ra hơn.

Chưa kể, việc ký vào văn bản cho phép giết hại chính người thân mình có thể là một trải nghiệm ám ảnh, đặc biệt là ở Việt Nam, nơi tình cảm gia đình và các giá trị đạo đức liên quan rất được coi trọng. Sự giằng xé giữa “tôn trọng lựa chọn của người thân” và “tôi có trách nhiệm gì để giữ họ lại” sẽ đặt gánh nặng đạo đức lên người trong cuộc.

Tôi nghĩ gì khi nghĩ về cái chết tự nguyện?

Tôi từng vô vàn lần muốn biến mất khỏi cuộc đời rù quến lẫn tội lỗi, nhưng vẫn cho phép thời gian bật lại được cái mầm khát khao dời đổi của bản thân, cái tiềm thức tích cực nhỏ nhoi mà bản năng sinh tồn không thể phủi sạch. Tôi có thể vừa mong mỏi giã sinh biệt kiếp, vừa cố sống bò lết thêm một bữa vì “biết đâu ngày mai sẽ khác”. Đồng thời, sau tất cả những niềm tin lẫn trải nghiệm xác thực vào cầu vồng sau mưa, tôi vẫn tin rằng mình có quyền dứt tiệt mọi sự thiết tha dành cho bản thân ở thời điểm nào đó trong tương lai. Không phải vì tôi không còn lạc quan nữa, cũng không phải tại thế giới quá tệ bạc, chỉ đơn thuần là thấy đủ rồi, mọi ý nghĩa đến đây thôi.

Tôi muốn khi sẵn sàng chết, các dịch vụ liên quan sẽ vô tư hỗ trợ thay vì bị bác bỏ do không đủ tiêu chí, hoặc bị phán xét bởi các lời khuyên, đại loại như “hãy vào khoa hồi sức cấp cứu của bệnh viện nào đó để thấy mình còn may mắn nhường nào”. Tôi muốn kể cả khi vẫn còn vài cứu cánh có thể vớt vát nỗ lực hiện sinh của mình thêm dăm năm vài bữa, tôi vẫn được quyền chối từ và tự do sải bước về miền cực lạc.

Tôi muốn khi cần chết sẽ được chết nhẹ tênh, không bị dày vò thể xác, tan tác ngoại hình và gánh chấn thương của chết hụt chết dở.

Song, tôi hiểu rằng, nếu dịch vụ trợ tử quá tiện lợi, chết được là đi chết luôn, thì ta có nguy cơ bỏ lỡ nhiều cơ hội và đoạn đường tốt đẹp hơn nếu lựa chọn kiên trì cầm cự đến ngày chiến thắng thời đoạn địa ngục. Dĩ nhiên nếu đã nhất quyết không cần, không luyến tiếc thì các cơ hội ấy cũng chỉ như cát bụi để ta vô tư lướt qua và bỏ mặc. Nhưng đời vốn dâu bể, số lần cùng quẫn và muốn giải thoát có thể nhiều chẳng kém những lúc yêu chiều bản thân và tích cực trước cuộc đời. Giả sử đời ta có 1000 lần tuyệt vọng và sau mỗi lần chạm đáy sẽ lại là một tiến triển hoặc sớm hoặc muộn, vậy thì việc ta từ bỏ mình ở lần 900 thay vì 100 vẫn có thể xứng đáng hơn đúng không?

Ý tôi là, nếu điều kiện tự sát quá phổ cập, thuận tiện và ta quá dễ dàng tìm đến nó khi mới vấp váp những cú đau đời ban đầu, cơ hội để ta tôi luyện nội lực và gầy dựng bản lĩnh sau những vật vờ sinh mệnh sẽ bị chủ động cắt tiệt. Tất nhiên mỗi người là mỗi cuộc đời với những ê chề khác nhau và ngưỡng chịu đựng riêng biệt, nhưng với cá nhân tôi, nếu đời này tôi có tổng cộng 1000 lần muốn tự sát (cả đã, đang và sẽ), tôi vẫn biết ơn những khả năng cùng tình cảnh tốt đẹp mình gặt được sau khi đã vì muốn-chết-nhưng-không-dễ-để-chết nên quyết định không chết ở lần muốn tự sát thứ 100. Dẫu sẽ thực sự tự vẫn ở lần muốn chết 102, thì đời tôi cũng đã mãn nguyện và vẹn tròn hơn vài phần.

Đi chết mà đơn giản như đi ăn phở thì e là tôi đã khó lòng cưỡng lại sự nuông chiều bản thân mà dừng lại ở những mốc rất sớm rồi. Chính vì đi chết không “dễ ợt”, tôi thực sự đã có thể trổ bông sau những lần oằn mình gượng sống.

Do đó, với tư cách sẵn sàng vĩnh biệt sinh mệnh ở một điểm đời nhất định, tôi tin rằng dịch vụ an tử/trợ tử chuyên nghiệp rất cần thiết để giúp ta nhẹ nhõm ra đi, cả về cách chết lẫn việc dàn xếp ổn thoả những điều ở lại. Thậm chí, tôi cho rằng tuỳ trường hợp mà có thể chỉ cần chữ ký của riêng ta và cá nhân/đội ngũ y tế liên quan là đủ để quyết định dấu chấm hết, chứ không nhất thiết cần người thân đồng thuận. Tuy nhiên, nói vậy không đồng nghĩa rằng việc nắm bắt tình trạng gia đình và xã hội của người muốn khuất không đáng để cân nhắc.

Và để quyền tự diệt ấy không trở thành cái bẫy để ta dễ dãi nương theo các giải pháp gọn lẹ cho mỗi lần quẫn bách, rất cần sự phổ cập chuyên nghiệp hơn nữa của các dịch vụ tâm lý, tinh thần và kết nối. Rõ ràng, những người tìm chết thường không hẳn muốn chết, mà vì cuộc sống của họ rơi vào bế tắc. Ranh giới giữa “muốn chết” và “muốn được ai đó giữ lại” nhiều khi rất mong manh. Vì thế, dù dịch vụ trợ tử cần thiết đến mấy, tôi tin đó vẫn nên là lựa chọn sau kế, thậm chí sau rốt trong “to-do-list khi thèm chết”. Ngoài ra, để những người ở bất kỳ vị thế kinh tế-xã hội nào cũng có thể tiếp cận bình đẳng các dịch vụ trên, Nhà nước nên phát triển các chính sách ưu đãi hay trợ giá phù hợp.

Biết đâu các lựa chọn trước tiên có thể giải cứu phần nào và đủ sức níu ta lại với thế gian, và biết đâu nhờ tận dụng trọn vẹn các giải pháp đầu bảng ấy mà đời ta dần “ưa nhìn” thêm nhiều năm nữa. Biết đâu đến lúc nào đó khi ta quyết tâm vĩnh biệt, thì khi ấy ta cũng đã tương đối mãn nguyện với quãng đời đã đi qua, đồng thời cảm thấy an lòng với những điều mình sẽ để lại nhân gian.

Tôi kịch liệt ủng hộ sự nhân rộng bài bản của các dịch vụ an tử, nhưng với sức mạnh là lựa chọn cuối cùng.

Thái Bảo Ngọc hiện là sinh viên ngành Kinh doanh và Công nghệ tại Đại học RMIT Việt Nam. Mối quan tâm của Ngọc là Blockchain, trí tuệ nhân tạo, văn hoá-xã hội và văn học. Độc giả có thể trao đổi với tác giả qua email: [email protected]. 

“Quý khách đã thất bại trong cuộc sống? Đến với chúng tôi, quý khách sẽ thành công trong cái chết”

Trong Cửa hiệu tự sát (NXB Hội Nhà văn, 2021), Jean Teulé dựng lên một thế giới nơi một gia đình kinh doanh dụng cụ tự tử qua nhiều thế hệ. Gia đình dòng họ Tuvache không đặt câu hỏi đạo đức, cũng không yêu cầu khách hàng trình giấy tờ xác nhận đã kiểm tra y khoa nghiêm ngặt về sự cùng đường của thể chất hay tinh thần. Nhà Tuvache chỉ lo phục vụ đàng hoàng, và tin rằng mình đang giúp đỡ những người tuyệt vọng. Nhân mệnh khó tránh phải trải qua nhiều biến thiên vượt ngoài khả năng quản quyết rồi, vậy hãy để đại sự cuối cùng của đời người được như ý nguyện. Gọn gàng, và nhanh chóng.

Trời cứ thích phụ lòng người sống, giờ chỉ còn mong người đừng phụ lòng người muốn chết.

Cửa hiệu ấy vận hành như một doanh nghiệp rất đỗi bình thường, như một cửa hàng tạp hóa bất kỳ, một lựa chọn tiêu dùng tiện tay mà ta có thể đường hoàng ghé vào chỉ trỏ vài món hàng rồi rước về, tự nhiên như đi mua các mặt hàng gia dụng. Một cửa hàng có sản phẩm, có dịch vụ khách hàng, có truyền thống gia đình, thậm chí có cả triết lý kinh doanh: “Không được nói tạm biệt khi khách về mà là vĩnh việt vì họ không bao giờ quay lại nữa”; “Không được xin chào buổi sáng tốt lành mà phải chúc bà buổi sáng đen đủi”; “Trong số 150 nghìn người có ý định tự sát, có 138 người tự sát hụt. Họ phải sống quãng đời còn lại tàn tật trên xe lăn, thân thể huỷ hoại mãi mãi, trong khi đó nhờ chúng tôi (…) Những món tự sát của chúng tôi được bảo hành. Hoặc chết hoặc trả tiền lại!”. Thậm chí là, “chúng ta chỉ chết một lần trong đời, vậy tại sao không làm một lần để đời”.

Chưa bàn đến ý nghĩa đạo đức hay giá trị thực tiễn của mô hình này thì ta vẫn có thể nhận ra sự tương thích nhất định của cửa hiệu tự sát trong xã hội hiện đại – một xã hội thị trường (market society), nơi hầu như mọi vấn đề đều có “giải pháp” thông qua các dịch vụ mua-bán. Khía cạnh này cũng tương tự với chủ nghĩa giải pháp công nghệ, khi giới pháp lý -hành chính hoặc phường bán buôn dễ sa đà vào giả định bản chất vấn đề thay vì nghiên cứu chúng, vội vã tìm lời giải trước khi đặt ra những câu hỏi đúng, và đơn giản hóa các vấn đề phức tạp thành những bài toán kỹ thuật thuần tuý.

Tại sao xã hội lại tạo ra đủ nhu cầu để nuôi sống một cửa tiệm như thế suốt nhiều thế hệ? Phương diện nào trong cách con người nơi đây tổ chức cuộc sống khiến cái chết trở thành một lựa chọn hấp dẫn với ngày càng nhiều người? Với thể loại phản địa đàng (dystopia), thế giới trong Cửa hiệu tự sát là nơi thiên nhiên bị bức tử đến cùng hạn và phản kháng bằng sự độc hại ngập ngụa, là nơi tràn lan niềm chán chường và bi quan cùng cực trước những bi kịch lẻ tẻ mang tính cá nhân hoặc cấu trúc (tội ác chiến tranh cực độ, thời sự toàn phát những tin tức về tai hoạ và thảm nạn), nơi mà con người ta khát cầu cái chết và quyết tâm chết, thay vì lưỡng lự bám víu sự sống tàn hơi.

Các vị khách đến tiệm với những nhu cầu tự vẫn khác nhau và được tư vấn với các phương thức đa dạng. Nào là sợi dây thừng treo cổ với thòng lọng được buộc sẵn và chỉ việc bỏ đầu vô, lưỡi dao cạo để rạch mạch máu, một số dao rỉ sét của nhãn hiệu nào đó ghi rõ uy tín chết chóc rằng dù khách không chết vì mất máu thì cũng chết vì uốn ván. Nào là bộ dụng cụ cho kiểu seppuku (nghi thức mổ bụng tự sát của võ sĩ đạo Nhật) dành cho người sức lực tốt, cả xăng và napan để tự thiêu. Ở cách seppuku, chủ tiệm còn chu đáo đến mức định may lên chiếc áo kimono võ sĩ đạo một chữ thập bằng lụa đỏ để chỉ rõ vị trí đâm cho thanh kiếm nhật tanto, “vì đôi khi họ đâm quá cao, đụng xương ức, vậy sẽ không vô được, hoặc qua thấp thì vào bụng, vậy chỉ trúng ruột thừa”. Kiểu chết mang vẻ quý tộc này tuy tốn kém hơn thùng napan, nhưng theo lời ông Mishima chủ tiệm, “dù sao cũng là lần tốn tiền cuối cùng”.

Vẫn còn muôn màu muôn vẻ những thuốc độc, có loại đụng vô là chết, hoặc hít, uống và thoa bằng axit lươn xanh, độc tố cóc vàng, độc tố cá trê, v.v. Biết cách chết bằng chất thạch tín sẽ gây khô miệng và khó chịu, cửa hiệu cũng rất chăm chút khách khi bỏ thêm chút bạc hà để làm mát họng. Hay đối với những vị muốn chết mà không có tiền, ông chủ tặng luôn cho họ những túi đựng hàng để họ tự làm chết ngạt mình: “Chúng rất chắc chắn. Có cả một dây ruy băng để cột kín xung quanh cổ họng mình”.

Một điểm đặc biệt trong cách kinh doanh của cửa hiệu này chính là, khi có khách sợ không đủ can đảm tự kết liễu và hỏi dịch vụ hỗ trợ tại gia, ông chủ đã khẳng định đạo đức nghề nghiệp: “Chúng tôi không phải quân giết người. Đó là điều cấm. Chúng tôi chỉ cung cấp những dụng cụ cần thiết và khách hàng phải tự xoay xở”. “Điều cấm” ở đây chứng tỏ cái nghiệp kiếm lời từ nhu cầu bỏ mạng này được nhà nước kiểm soát với các giới hạn thương mại nhất định. Có thể vì nhà nước muốn để người tìm chết được tự do do dự hoặc quyết tâm tự tận, đồng thời bảo vệ sự vô can của người bán trước đại sự nhạy cảm của khách hàng. Bạn có thể cực kỳ chán đời và đời cũng cùng cực chán bạn, nhưng chúng tôi chỉ hỗ trợ “cần câu” thôi, còn “thành phẩm” ly đời biệt kiếp phải tuỳ thuộc vào ý chí cá nhân của bạn lẫn tiếng gọi từ cõi hư vô. Nhỡ đâu bạn đổi ý, nhỡ đâu địa phủ chưa muốn chứa chấp bạn, nhỡ đâu cuộc đời bạn bỗng trở nên hanh thông.

Khía cạnh “chừa lại đường lùi” trong nguyên tắc hành nghề của cửa hiệu cũng được thể hiện ở chi tiết bà chủ Lucrèce thấy có khách nhỏ tuổi hỏi mua những viên kẹo tẩm độc. Bà khẳng định: “Chỉ có thể lấy một viên duy nhất trong các viên kẹo chết người của bổn tiệm. Sẽ không có chuyện cháu đi phân phát chúng cho các cô bạn cùng lớp. Cửa hiệu cô chú không phải để tiêu diệt cả trường cấp 2 hoặc cấp 3! (...) Giống như bán đạn, cô chú chỉ bán theo viên. Ai bắn một viên vô đầu sẽ không cần viên thứ hai. Nếu ai đó muốn mua nguyên hộp đạn hẳn có một ý đồ khác trong đầu. Cô chú không bán cho những kẻ giết người. Thôi, cháu chọn một viên đi. Nhưng cháu nhớ chọn cho kĩ, vì trong hũ kẹo này, chỉ có phân nửa là kẹo chết người. Luật quy định phải cho trẻ em một cơ hội”.

Ở góc nhìn khác, độc giả có thể băn khoăn rằng “cơ hội” lẽ ra phải là cơ hội được ngăn lại, được lắng nghe, được dẫn dắt để người muốn chết quay về với cuộc sống. Nhưng theo logic của cửa hiệu (và có thể cả luật pháp), cơ hội chỉ là xác suất may rủi trong một hũ kẹo. Một giá trị nhân văn lớn lao như thế lại chỉ có thể được thực thi như một thủ tục kỹ thuật ngẫu nhiên, tuỳ vận. “Hên” thì được hoá kiếp, “xui” thì phải sống tiếp. Có vẻ như tác giả vừa muốn tán thưởng ranh giới kinh doanh, vừa chế nhạo kiểu xã hội chỉ giữ lại lòng-nhân-đạo-lấy-lệ.

Trước cõi đời trái khoáy, sự nổi loạn lớn nhất của con người đơn giản là: còn muốn sống!

Cho đến khi Alan – thằng con út nhà Tuvache ra đời với nụ cười thường trực không quản bi hoan, nó đã quyết tâm làm lung lay cái trật tự đau thương ấy bằng thứ vũ khí duy nhất mà nó có: sự lạc quan. Alan như một biểu tượng của sức sống đối nghịch với nền văn hóa chết chóc và cái gien buồn đời hằn trong nghiệp buôn tang tóc của gia đình, khiến mẹ Lucrèce cảm thấy quái gở và không chấp nhận nổi: “Không thể có chuyện đó, trong gia đình dòng họ Tuvache không ai biết cười!”; “Đừng cười nữa, con muốn khách bỏ đi hết sao”.

Alan chính là một phản đề của cuốn sách. Nếu đọc bằng lăng kính Camus, Alan là “con người nổi loạn” (the rebel) với thái độ “thách thức sự phi lý” (defiance of absurdity) – người đồng tình rằng thế giới có thể vô nghĩa và bất hạnh, nhưng vẫn quyết định sống tiếp bằng cách luôn luôn khinh miệt sự vô nghĩa của cuộc đời nói chung hoặc số phận mình nói riêng, nhất định không trao cho cái nếp phi lý rành rành ấy quyền định đoạt. Một số chi tiết phản ánh tâm thế này của Alan, chẳng hạn, “nếu một chiếc máy bay chở 250 hành khách bị tai nạn và có 247 người bị tử nạn, nó chỉ nhớ số người thoát chết”. Hoặc bất chấp ô nhiễm dày đặc, những con chim di cư gieo rắc các mầm bệnh từ nhiều quốc gia xa xôi, những tia phóng xạ và các vụ khủng bố đầy rẫy trên thế giới, Alan vẫn điềm nhiên vẽ cửa sổ rộng mở dưới bầu trời trong xanh và mặt trời toả sáng trong bức tranh phong cảnh của mình, mặc kệ mẹ nó chất vấn sự khuyết thiếu của tai hoạ hiện thực trong bức tranh.

Qua tâm thái và cách cư xử của bà Lucrèce, độc giả có thể lờ mờ nhận ra rằng những đứa con khác của nhà Tuvache không hẳn vừa chào đời đã tiêu cực. Chẳng hạn với chị gái Marilyn, cô luôn mặc cảm với ngoại hình bản thân và cũng luôn bị người thân chê bai khuyết điểm đó, được lột tả qua chi tiết bà Lucrèce trách Alan: “Sao con lại vẽ chị con năng động và xinh đẹp như thế này? Con biết rõ chị ấy luôn cảm thấy mình vô dụng và xấu xí”. Bà còn bắt Alan xem thời sự trên tivi để cố làm nó xuống tinh thần. Rõ ràng, ngoài đặc thù tinh thần và ý niệm cá nhân ra, nỗi thê lương của kiếp người chịu ảnh hưởng rất lớn từ ngoại cảnh. Chưa kể những tai ương to tát ở đẩu đâu, ngay những người kề cạnh đã là chất xúc tác thường nhật cho thái độ u uẩn trước cuộc đời. Dòng máu tự sát, nếu có, chỉ chiếm tí tẹo phần trăm cận 0 trong một sinh vật vốn được lập trình bản năng sinh tồn.

Một chi tiết đắt giá khác về sự thiếu hụt mặt hàng của cửa hiệu tự sát đã làm bật lên một nguyên nhân nổi trội dẫn đến bi kịch của sinh vật xã hội Homo Sapiens – sự cô đơn, cô độc. Khi có khách hỏi vì sao tiệm không có nhiều động vật, ông chủ Mishima trả lời: “Vấn đề ở chỗ khách hàng họ cô độc lắm nên họ sẽ rất quý những loài thú độc bán ở đây. Kì lạ thay, chúng cảm nhận được điều này và không cắn chủ. Có một lần (...), một quý bà đã quay lại cửa hiệu với con nhện Mygale (loại nhện độc khổng lồ sống ở Nam Mỹ) đã mua trước đó. Tôi ngạc nhiên lắm và bà ấy hỏi mua những cây kim. Tôi cứ tưởng bà ấy muốn dùng kim đâm vào mắt. Nhưng hoàn toàn không phải thế, bà ấy mua kim để đan những đôi ủng nhỏ tí ti bằng những sợi len mềm mại cho con nhện bà ấy đặt tên Denise. Họ đã thành bạn bè (...) Bà ấy còn đùa: ‘Denisse đã làm tôi yêu đời trở lại’”.

Nỗi e ngại của chủ tiệm trước sự hồi sinh ấy của bà khách có lẽ chỉ vì trong xã hội hiểm hoạ và tăm tối này, cái chết đã nghiễm nhiên trở thành sự cứu rỗi thích đáng trong tâm thức con người ta. Khơi lại nơi họ ý muốn sống tiếp chưa chắc đã là phước lành, có khi “ý tốt” này còn kéo lê bi kịch tiềm năng của họ. Có kẻ vỗ về niềm đơn côi là mấy con thú độc cũng chỉ là chút ủi an tạm bợ trước khi lại bị hiện thực đả kích. Tuy nhiên, nếu cô đơn mới là nỗi sợ hãi lớn nhất đối với người đó, vượt trên tất thảy những đen đủi mà cõi đời có thể mang lại, vậy ắt bà khách ấy đã đủ thoả nguyện để tự tin đương đầu với các biến cố sắp tới. Nhưng tại sao bà ấy lại cô đơn đến nỗi háo hức bầu bạn với thú độc thì chỉ có bà và xã hội nơi bà sống biết rõ.

Giữa trần gian ngập tràn tuyệt lộ, chỉ cần một vài người nỗ lực từ chối sầu não, kiên tâm tin vào mặt tích cực và kỳ vọng vào những tiềm năng sáng sủa, mọi thứ sẽ bắt đầu thay đổi.

Khổ đau có thể nhân tạo, và sự thật là đang thừa mứa khổ đau nhân tạo ở cả những bi kịch tưởng chừng tự nhiên nhất. Nguyên cớ tại nhân, vậy thì cứ dùng chính nhân để can thiệp.

Alan, với mỗi hành động nhỏ nhưng bướng bỉnh trước logic của bi quan, đã dần cứu vớt được chị mình, và cả những người xa lạ. Chẳng hạn, khi Alan tặng miếng vải vuông lụa trắng cho Marilyn vào hôm sinh nhật chị, khi cả nhà nghĩ nó dùng để treo cổ, cậu bé đã ân cần dặn dò: “Đừng buộc chặt quá, phải để nó thanh thoáng như vậy. Như một dải mây mềm mại vuốt ve cổ, vai và ngực chị”. Cậu còn vứt mất viên kẹo tẩm độc của một cô bé để giữ cô lại trần gian, hay lén “động tay động chân” với vài sản phẩm ở cửa hiệu. Nào là mài mòn các lưỡi dao lam đến khi chúng cùn trơ và vô hại, soi tìm các viên kẹo tẩm độc để quẳng bỏ chúng, cắt cụt đám dây treo cổ, hoặc thay mấy quả táo độc thành táo lành, v.v..

Alan rất nhẫn nại vực dậy tinh thần các vị khách bằng cách thuyết phục họ yêu thương bản thân hơn, quay trở về, rồi lấy đó làm điểm tựa để mở lòng giúp đỡ những người xung quanh: “Cô nhìn xem con người này đang đứng trước mặt cô. Hãy nhìn người này! Đừng xấu hổ! Nếu cô gặp người như vậy trên đường, cô có muốn giết không? Người này đã làm gì để bị căm ghét đến vậy? Người này đã phạm tội gì? Tại sao lại không yêu thương người này? Trước tiên cô hãy kết bạn với cô gái ấy và những người khác sẽ làm theo như vậy”.

Dường như trong chính sự ủng hộ ngầm ẩn của tác giả dành cho quyền quyên sinh, vẫn lờ mờ niềm mong mỏi một thế giới hạn chế nhu cầu về những cửa hiệu tự sát nhất có thể.

Đáng tiếc, khi cả gia đình cuối cùng cũng vỡ vạc và thông suốt về sự đáng quý của sinh mệnh lẫn giá trị của sự tích cực và yêu đời, Alan lại yên tâm tự sát. Một bất ngờ không tưởng, một kết cục ngỡ ngàng dành cho cậu nhóc thiên sứ. Chẳng lẽ vẻ ngoài tươi tắn và hân hoan của Alan chỉ là lớp vỏ hoàn mỹ che giấu phần tâm hồn đã tơi tả mục ruỗng bấy lâu? Cũng phải nhỉ, cậu đã bị chì chiết, phủ nhận trong suốt cuộc đời mình, bị đối xử như một kẻ bên lề dị biệt, một nỗi thất vọng làm mất mặt dòng họ, thậm chí còn từng bị bố mình gửi tới Monaco để tham gia khóa huấn luyện đặc công tự sát – một nơi toàn “những thằng điên, những đứa thù hận và tàn bạo” nhằm ngăn nó tiếp tục đảo lộn việc kinh doanh và uy tín cửa hiệu.

Như vậy, người hay thường trực nụ cười cũng có thể đang âm thầm lún sâu vào khổ đau. Không ai hay biết, chẳng ai quan tâm, chỉ đến khi nạn nhân buông tay, ta mới muộn màng ân hận.

Thế giới làm gì trước nhu cầu an tử và trợ tử?

An tử (euthanasia) hay “cái chết êm ái”, trước đây ngụ ý việc chết một cách thanh thản, vì người ra đi sẽ để lại các mối quan hệ và mọi việc trần thế trong sự hài hòa. Trong thời đại ngày nay, cái chết êm ái nghĩa là có quyền lựa chọn và kiểm soát thời điểm lẫn cách thức mình chết. Yêu cầu an tử hay trợ tử (physician-assisted suicide/PAS) đòi hỏi người khác (thường là bác sĩ), phải cung cấp phương tiện để chấm dứt cuộc sống, dưới dạng một liều thuốc gây chết người, và người yêu cầu phải tự mình sử dụng thuốc đó. Tiêm thuốc giãn cơ (neuromuscular relaxant) hoặc uống barbiturat (thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương, có thể tạo ra một phổ tác dụng rộng từ an thần nhẹ đến tử vong), là một số ví dụ.

Cho đến nay, an tử là hợp pháp ở Colombia, Canada, các bang Victoria và Tây Australia của Australia, New Zealand, Áo, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và 10 tiểu bang ở Mỹ (California, Colorado, quận Columbia, Hawaii, Maine, Montana, New Jersey, Oregon, Vermont, Washington). Nổi bật có Thuỵ Sĩ tạo điều kiện trợ tử cho cả những công dân ngoại quốc, do vậy mà quốc gia này còn gắn liền với thương hiệu “du lịch tự sát” (suicide/death tourism). Các lập luận ủng hộ an tử thường viện dẫn quyền tự quyết, quyền tự chủ và ý chí tự do. Ở tất cả các quốc gia, sự đau khổ không thể chịu đựng được của bệnh nhân phải thuộc loại không thể giảm nhẹ bằng thuốc hoặc các liệu pháp thay thế khác.

Hơn nữa, an tử thường chỉ giới hạn trong các trường hợp tự nguyện, tức những bệnh nhân có năng lực tinh thần, yêu cầu an tử một cách rõ ràng, đã cân nhắc kỹ lưỡng, và không có người vụ lợi đứng sau. Độ tuổi được phép an tử/trợ tử là khác nhau. Ví dụ, ở Mỹ, Canada và Luxembourg, bệnh nhân phải ít nhất 18 tuổi; còn Hà Lan cho phép bệnh nhân từ 12 tuổi trở lên.

Cần phân biệt an tử với thuật ngữ “an tử thụ động” (passive euthanasia) vì nó đề cập đến việc chấm dứt các phương pháp điều trị có khả năng duy trì sự sống với sự đồng ý của bệnh nhân hoặc người đại diện – tức bệnh nhân chuyển sang chết “tự nhiên” với chăm sóc giảm nhẹ (palliative care), chứ không phải là việc thực hiện một can thiệp y tế để kết thúc cuộc sống của bệnh nhân. Đây là một dạng quyền từ chối kéo dài sự sống hợp pháp.

Hầu hết các quốc gia hợp pháp hoá trợ tử y tế đều quy định rằng sự đau khổ không thể chịu đựng được phải do một căn bệnh nan y gây ra. Tuy nhiên, Hiến pháp của Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg cho phép cả yêu cầu trợ tử y tế khi nỗi đau vô phương chịu đựng và không có triển vọng cải thiện do một căn bệnh không nan y tạo nên. Căn bệnh đó có thể thuộc về thể chất và/hoặc tinh thần. Ngoài ra, việc làm rõ năng lực của bệnh nhân rất phức tạp vì mong muốn chết có thể là một phần của bệnh lý tâm thần. Không phải lúc nào yêu cầu cũng được chấp thuận bất chấp tính hợp pháp của nó.

Có nhiều tranh luận liên quan đến việc thực hiện an tử/trợ tử đối với trẻ vị thành niên, những người chỉ “đơn giản” là “mệt mỏi với cuộc sống” hoặc những người dễ bị tổn thương về kinh tế xã hội (socioeconomically vulnerable). Tại Oregon và Washington, các trường hợp này sẽ là bất hợp pháp và không có dữ liệu về các trường hợp như vậy.

Tóm lại, khác với sự rộng mở vừa tuỳ tiện vừa “công bằng” đến mọi lứa, thể trạng và cớ sự của dịch vụ trợ tử trong Cửa hiệu tự sát, người cần trợ tử trong thực tế buộc phải có bệnh dù nan y hay không, phải đau đớn và thống khổ tột cùng thì mới được xem xét. Quyền cầu tử vẫn được y tế chính thống quản lý chứ không thuộc về thị trường hay do cá nhân tự quyết. Mà xem xét cũng chưa chắc được duyệt, vì kết quả đánh giá y khoa có thể cho thấy thể xác này còn hy vọng, tinh thần này không thực sự minh mẫn, hay lo ngại người yêu cầu chỉ đang xốc nổi nhất thời. Thận trọng cực độ với “có đau” và “có bệnh” đến mức ấy, thì việc chấp nhận trợ tử trong trường hợp “chỉ đơn thuần” muốn buông xuôi cuộc đời, “chỉ” vì những lý do lặt vặt trong đời hay chán sống vì mất ý nghĩa (existential suffering), vẫn còn khá viễn tưởng.

Tuy nhiên, điểm hay của sự thận trọng hiện tại trước cái chết nhân đạo có thể thấy ở các tiểu bang của Mỹ cho phép PAS, trong đó luật quy định tối thiểu 15 ngày giữa hai lần yêu cầu bằng lời nói, và thêm 48 giờ giữa yêu cầu bằng văn bản cuối cùng với thời điểm cấp đơn thuốc. Tương tư, Canada quy định thời gian chờ 10 ngày giữa yêu cầu bằng văn bản và việc cung cấp PAS. Đối với bệnh nhân không mắc bệnh nan y, Bỉ yêu cầu thời gian chờ 1 tháng.

Suy cho cùng, con người vẫn là sinh vật không nhất quán, mà các biến số lại thường chầu chực nhiều hơn hằng số. Việc không nhanh chóng giúp họ toại nguyện tuy khắt khe nhưng lại thể hiện tấm lòng vị tha trước mạng sống. Chúng tôi ở đây, với chuyên môn, trang thiết bị cần thiết cùng sự sẵn lòng phục vụ, vẫn hy vọng bạn có thêm thời gian đối mặt với khốn khổ và tiến lên vài nấc phục hồi. Biết đâu nhờ khoảng thời gian ấy mà bạn nghĩ lại, nhờ khoảng lặng tự vấn ấy mà bạn quyết định cho mình và cuộc đời thêm một cơ hội thương nhau. Dẫu cuối cùng bạn vẫn quyết chết, vẫn mong lựa chọn đó đến từ sự thông suốt đã được giũa mài cẩn thận.

An tử và trợ tử trong bối cảnh Việt Nam

Việt Nam chưa hợp pháp hoá quyền được chết. Bệnh nhân dù đang trong giai đoạn không thể cứu chữa, hay bị bệnh tật dày vò đau khổ thì cũng không có bất kỳ ai được quyền hỗ trợ chết cho bệnh nhân kể cả khi đó là mong muốn của bệnh nhân lẫn thân nhân. Như vậy, dù là bác sĩ hay người nhà bệnh nhân thực hiện hành vi trợ tử cho bệnh nhân thì đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội Giết người (Điều 123), và Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 131) theo Bộ luật Hình sự 2015. Giai đoạn 2004-2005, Quốc hội đã thảo luận về việc đưa quyền được chết vào Bộ luật Dân sự nhưng bị bác vì vấn đề này quá mới, nhạy cảm, không phù hợp văn hóa và giá trị đạo đức của người Việt.

Nhìn chung, pháp luật cấm nhưng chưa thực sự luận bàn kỹ lưỡng và chính thức về các căn nguyên cấm cùng những hướng đi thay thế. Để hiểu vì sao pháp luật nước ta e ngại quyền chết như thế, có thể tham khảo một số khía cạnh ảnh hưởng đến tâm thức người Việt về cái chết.

Đầu tiên là Phật giáo (nghiệp và vòng luân hồi). Phật giáo nhìn cái chết như một mắt xích trong vòng luân hồi sinh tử. Giúp ai đó kết thúc sự sống sớm, dù vì đau khổ, có thể can thiệp vào nghiệp của người đó theo cách bất lợi: nghiệp chưa trả hết, duyên chưa đủ, sự chuyển sinh có thể xấu hơn nếu cái chết không “đúng thời”. Hơn nữa, việc giúp đỡ người ta tự sát vẫn bị cho là điều bất thiện và tạo nghiệp xấu (bad karma).

Tất nhiên, Phật giáo không nhất thiết phản đối an tử hoàn toàn. Lòng từ bi (karuna) – một trong những giá trị trung tâm của Phật giáo có thể biện minh cho nỗ lực tiết giảm đau khổ, chẳng hạn như ngưng các phương pháp điều trị vô nghĩa và chuyển qua chăm sóc giảm nhẹ. Nhưng karuna hay động cơ thương xót không đủ để biện hộ cho hành vi chủ động chấm dứt sự sống của người khác, vì điều này vẫn vi phạm Giới luật thứ nhất (không sát sinh) trong Ngũ giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) của Phật giáo.

Ngoài ra, có lo ngại về việc quyền được chết có thể bị lạm dụng để thực hiện các vụ ép buộc an tử nhằm trục lợi từ người được an tử, chẳng hạn như tiền bảo hiểm hoặc tài sản thừa kế. Mối lo này liên quan đến thuyết trượt dốc (slippery slope), được đề cập trong nhiều tranh luận về hợp pháp hoá an tử. Cụ thể, quyết định đúng đắn về mặt đạo đức ở trên cùng làm thay đổi bối cảnh xã hội và lập luận của quyết định tiếp theo, khiến cho các lựa chọn đáng phản đối hơn ở phía dưới trở nên có nhiều khả năng xảy ra hơn.

Chưa kể, việc ký vào văn bản cho phép giết hại chính người thân mình có thể là một trải nghiệm ám ảnh, đặc biệt là ở Việt Nam, nơi tình cảm gia đình và các giá trị đạo đức liên quan rất được coi trọng. Sự giằng xé giữa “tôn trọng lựa chọn của người thân” và “tôi có trách nhiệm gì để giữ họ lại” sẽ đặt gánh nặng đạo đức lên người trong cuộc.

Tôi nghĩ gì khi nghĩ về cái chết tự nguyện?

Tôi từng vô vàn lần muốn biến mất khỏi cuộc đời rù quến lẫn tội lỗi, nhưng vẫn cho phép thời gian bật lại được cái mầm khát khao dời đổi của bản thân, cái tiềm thức tích cực nhỏ nhoi mà bản năng sinh tồn không thể phủi sạch. Tôi có thể vừa mong mỏi giã sinh biệt kiếp, vừa cố sống bò lết thêm một bữa vì “biết đâu ngày mai sẽ khác”. Đồng thời, sau tất cả những niềm tin lẫn trải nghiệm xác thực vào cầu vồng sau mưa, tôi vẫn tin rằng mình có quyền dứt tiệt mọi sự thiết tha dành cho bản thân ở thời điểm nào đó trong tương lai. Không phải vì tôi không còn lạc quan nữa, cũng không phải tại thế giới quá tệ bạc, chỉ đơn thuần là thấy đủ rồi, mọi ý nghĩa đến đây thôi.

Tôi muốn khi sẵn sàng chết, các dịch vụ liên quan sẽ vô tư hỗ trợ thay vì bị bác bỏ do không đủ tiêu chí, hoặc bị phán xét bởi các lời khuyên, đại loại như “hãy vào khoa hồi sức cấp cứu của bệnh viện nào đó để thấy mình còn may mắn nhường nào”. Tôi muốn kể cả khi vẫn còn vài cứu cánh có thể vớt vát nỗ lực hiện sinh của mình thêm dăm năm vài bữa, tôi vẫn được quyền chối từ và tự do sải bước về miền cực lạc.

Tôi muốn khi cần chết sẽ được chết nhẹ tênh, không bị dày vò thể xác, tan tác ngoại hình và gánh chấn thương của chết hụt chết dở.

Song, tôi hiểu rằng, nếu dịch vụ trợ tử quá tiện lợi, chết được là đi chết luôn, thì ta có nguy cơ bỏ lỡ nhiều cơ hội và đoạn đường tốt đẹp hơn nếu lựa chọn kiên trì cầm cự đến ngày chiến thắng thời đoạn địa ngục. Dĩ nhiên nếu đã nhất quyết không cần, không luyến tiếc thì các cơ hội ấy cũng chỉ như cát bụi để ta vô tư lướt qua và bỏ mặc. Nhưng đời vốn dâu bể, số lần cùng quẫn và muốn giải thoát có thể nhiều chẳng kém những lúc yêu chiều bản thân và tích cực trước cuộc đời. Giả sử đời ta có 1000 lần tuyệt vọng và sau mỗi lần chạm đáy sẽ lại là một tiến triển hoặc sớm hoặc muộn, vậy thì việc ta từ bỏ mình ở lần 900 thay vì 100 vẫn có thể xứng đáng hơn đúng không?

Ý tôi là, nếu điều kiện tự sát quá phổ cập, thuận tiện và ta quá dễ dàng tìm đến nó khi mới vấp váp những cú đau đời ban đầu, cơ hội để ta tôi luyện nội lực và gầy dựng bản lĩnh sau những vật vờ sinh mệnh sẽ bị chủ động cắt tiệt. Tất nhiên mỗi người là mỗi cuộc đời với những ê chề khác nhau và ngưỡng chịu đựng riêng biệt, nhưng với cá nhân tôi, nếu đời này tôi có tổng cộng 1000 lần muốn tự sát (cả đã, đang và sẽ), tôi vẫn biết ơn những khả năng cùng tình cảnh tốt đẹp mình gặt được sau khi đã vì muốn-chết-nhưng-không-dễ-để-chết nên quyết định không chết ở lần muốn tự sát thứ 100. Dẫu sẽ thực sự tự vẫn ở lần muốn chết 102, thì đời tôi cũng đã mãn nguyện và vẹn tròn hơn vài phần.

Đi chết mà đơn giản như đi ăn phở thì e là tôi đã khó lòng cưỡng lại sự nuông chiều bản thân mà dừng lại ở những mốc rất sớm rồi. Chính vì đi chết không “dễ ợt”, tôi thực sự đã có thể trổ bông sau những lần oằn mình gượng sống.

Do đó, với tư cách sẵn sàng vĩnh biệt sinh mệnh ở một điểm đời nhất định, tôi tin rằng dịch vụ an tử/trợ tử chuyên nghiệp rất cần thiết để giúp ta nhẹ nhõm ra đi, cả về cách chết lẫn việc dàn xếp ổn thoả những điều ở lại. Thậm chí, tôi cho rằng tuỳ trường hợp mà có thể chỉ cần chữ ký của riêng ta và cá nhân/đội ngũ y tế liên quan là đủ để quyết định dấu chấm hết, chứ không nhất thiết cần người thân đồng thuận. Tuy nhiên, nói vậy không đồng nghĩa rằng việc nắm bắt tình trạng gia đình và xã hội của người muốn khuất không đáng để cân nhắc.

Và để quyền tự diệt ấy không trở thành cái bẫy để ta dễ dãi nương theo các giải pháp gọn lẹ cho mỗi lần quẫn bách, rất cần sự phổ cập chuyên nghiệp hơn nữa của các dịch vụ tâm lý, tinh thần và kết nối. Rõ ràng, những người tìm chết thường không hẳn muốn chết, mà vì cuộc sống của họ rơi vào bế tắc. Ranh giới giữa “muốn chết” và “muốn được ai đó giữ lại” nhiều khi rất mong manh. Vì thế, dù dịch vụ trợ tử cần thiết đến mấy, tôi tin đó vẫn nên là lựa chọn sau kế, thậm chí sau rốt trong “to-do-list khi thèm chết”. Ngoài ra, để những người ở bất kỳ vị thế kinh tế-xã hội nào cũng có thể tiếp cận bình đẳng các dịch vụ trên, Nhà nước nên phát triển các chính sách ưu đãi hay trợ giá phù hợp.

Biết đâu các lựa chọn trước tiên có thể giải cứu phần nào và đủ sức níu ta lại với thế gian, và biết đâu nhờ tận dụng trọn vẹn các giải pháp đầu bảng ấy mà đời ta dần “ưa nhìn” thêm nhiều năm nữa. Biết đâu đến lúc nào đó khi ta quyết tâm vĩnh biệt, thì khi ấy ta cũng đã tương đối mãn nguyện với quãng đời đã đi qua, đồng thời cảm thấy an lòng với những điều mình sẽ để lại nhân gian.

Tôi kịch liệt ủng hộ sự nhân rộng bài bản của các dịch vụ an tử, nhưng với sức mạnh là lựa chọn cuối cùng.

Thái Bảo Ngọc hiện là sinh viên ngành Kinh doanh và Công nghệ tại Đại học RMIT Việt Nam. Mối quan tâm của Ngọc là Blockchain, trí tuệ nhân tạo, văn hoá-xã hội và văn học. Độc giả có thể trao đổi với tác giả qua email: [email protected]. 

Từ khoá: trợ tử Cửa hiệu tự sát điểm sách book review

BÀI LIÊN QUAN