Từ Việt Nam đến Iran: Ngoại giao thời chiến và những thỏa thuận bí mật
Từ Hiệp định Paris năm 1973 đến thỏa thuận giữa Mỹ và Iran hiện nay, bài viết của sử gia Pierre Asselin - người có lẽ không hề xa lạ với những ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam - chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách Washington tìm lối thoát khỏi những cuộc chiến bên ngoài nước Mỹ.
Nguồn: Pierre Asselin, “From Vietnam to Iran: Wartime Diplomacy and Secret Deals”, War on the Rocks, June 24, 2026.
Người dịch: Trần Tú Trân - Bùi Hải Yến - Lê Huỳnh Thanh Xuân
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Những cuộc chiến tranh hiếm khi kết thúc bằng một văn kiện ngoại giao đơn thuần. Thông thường, tiến trình này thường phải trải qua hàng loạt các thỏa thuận ngừng bắn, khuôn khổ pháp lý, hiểu biết chung, cùng các thỏa thuận tạm thời và thậm chí là bí mật, trước khi các bên liên quan có thể xác định liệu hòa bình có thực sự được xác lập hay không. Bản ghi nhớ giữa nội các Trump và chính quyền Iran cũng là một trường hợp tương tự khi được xét dưới góc độ này. Về hình thức lẫn logic, Bản ghi nhớ gợi nhắc về một nỗ lực ngoại giao của Mỹ cách đây 53 năm nhằm tìm kiếm phương thức kết thúc một cuộc xung đột không được nhân dân ủng hộ: Hiệp định Paris năm 1973.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (còn được gọi là Hiệp định Paris) đã được ký kết bởi bốn chủ thể đồng thời tham chiến tại Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975, gồm Mỹ, chính quyền miền Nam Việt Nam, Bắc Việt, và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (được biết đến rộng rãi với tên gọi “Việt Cộng”). Bản hiệp định là kết quả của một quá trình đàm phán kéo dài hơn bốn năm, với nhiều hình thức đàm phán như bán công khai, riêng tư và những cuộc thương lượng bí mật, được tổ chức tại thủ đô nước Pháp.
Hiệp định không phải là một giải pháp ngoại giao toàn diện hay một tín hiệu về một nền hòa bình vĩnh viễn. Thay vào đó, thực chất đây chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn nhằm chấm dứt sự thù địch của Mỹ (phi Mỹ hóa), đồng thời tạo cơ sở cho việc trao trả tù binh chiến tranh và công dân nước ngoài bị bắt giữ giữa các bên ký kết. Văn kiện ngoại giao này hoàn toàn không giải quyết được những bất đồng giữa Hà Nội và Sài Gòn - vốn là vấn đề trung tâm của xung đột. Ngược lại, các vấn đề này được trao lại cho các bên Việt Nam tự giải quyết thông qua các cuộc đàm phán riêng tư sẽ diễn ra sau đó, dự kiến bắt đầu ngay sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực vào ngày ký. Cụ thể, theo Điều 12 của Hiệp định, các bên liên quan cam kết sẽ “nỗ lực tối đa” để giải quyết các khác biệt chính trị trong vòng 90 ngày.
Bởi Hiệp định Paris thiếu các cơ chế thực thi buộc các bên tuân thủ, Tổng thống Richard Nixon đã đưa ra các cam kết riêng với cả Hà Nội và Sài Gòn nhằm đảm bảo sự ủng hộ và tuân thủ của cả hai phe. Với miền Bắc, ông đã bí mật hứa hẹn với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng Mỹ sẽ viện trợ 3.25 tỷ USD để giúp miền Bắc “tái thiết” đất nước sau chiến tranh. Đồng thời, Nixon cũng hứa hẹn với Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, về việc Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế và tiến hành các biện pháp trả đũa thích đáng nếu miền Bắc vi phạm các điều khoản đã ký kết.
Tuy nhiên, cả hai lời hứa này chỉ có giá trị nếu Nixon vẫn còn tiếp tục giữ chức tổng thống. Nguyên nhân xuất phát từ các xáo trộn trong nội bộ chính trị nước Mỹ lúc bấy giờ, khi Tổng thống Nixon vướng vào vụ bê bối Watergate, khiến ông ta mất đi quyền lực chính trị và phải từ chức năm 1974. Ngoài ra, Quốc hội Mỹ cũng thông qua Tu Chính án Case-Church nhằm cấm hoàn toàn mọi hoạt động quân sự của Mỹ tại Đông Dương (có hiệu lực từ ngày 15/8/1973) và Nghị quyết Quyền lực Chiến tranh (còn gọi là Đạo luật Quyền lực Chiến tranh) (có hiệu lực từ ngày 7/11/1973), quy định Tổng thống Mỹ không được phép tự ý đem quân gây chiến quá 60 ngày nếu không được Quốc hội cho phép. Các thay đổi trên khiến khả năng thực hiện những lời hứa trước đó hoàn toàn là con số không.
Có lẽ vì thế mà Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã không phản ánh đúng bản chất của văn kiện. Thực tế, nó không làm “chấm dứt chiến tranh” ở Việt Nam, bằng chứng là cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc vẫn tiếp tục diễn ra ngay sau khi Hiệp định được ký kết. Đồng thời, bản chất của Hiệp định này chỉ chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ chứ không “lập lại hòa bình” lâu dài ở Việt Nam. Nói một cách khác, đây chỉ là lối thoát để Mỹ rút quân về nước một cách hợp pháp. Xét cả về hình thức lẫn nội dung, Hiệp định Paris là minh chứng rõ nét cho thấy sự thất bại trong chiến dịch quân sự phi nghĩa của Mỹ ở Đông Nam Á.
Thực tế cho thấy, cả Hà Nội và Sài Gòn lúc bấy giờ đều không muốn đình chỉ chiến tranh vô thời hạn và chấp nhận nguyên trạng của năm 1973. Nguyên nhân là vì phía Hà Nội vẫn kiên định với mục tiêu ban đầu suốt hàng thập kỷ qua là thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn coi sự hiện diện quân sự quy mô lớn của đối phương ở miền Nam là mối đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của chế độ. Từ góc độ ngoại giao, việc Tổng thống Nixon có thể thuyết phục được cả hai chính quyền đặt bút ký kết vào một hiệp định còn nhiều khiếm khuyết là một thành tựu đáng chú ý. Chính những thỏa thuận ngầm của Nixon với hai phía chính là nhân tố quyết định.
Có thể nói, ngay từ thời điểm quyết định can dự vào các vấn đề của Việt Nam, Nixon và Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ, đã ý thức rõ về những thách thức mà họ phải đối mặt. Mỹ hiểu rằng sau năm 1969, hy vọng về chiến thắng quân sự nhằm kiềm chế sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản ở miền Nam Việt Nam là điều bất khả, cũng tương tự với việc chấm dứt sự can thiệp quân sự của Mỹ một cách danh dự chắc chắn sẽ là một tiến trình lâu dài và khó khăn. Đối với Nixon, “hòa bình trong danh dự” (peace with honor) là rút quân làm sao cho Mỹ không mang danh là kẻ thất bại và tiếp tục giữ vững được vị thế siêu cường trong Chiến tranh Lạnh với Liên Xô bất chấp thất bại của Mỹ trong cuộc can thiệp vào Đông Dương, mặt khác tạo điều kiện để chính quyền Sài Gòn tự duy trì cuộc chiến chống lại các lực lượng do Cộng sản lãnh đạo trên lãnh thổ của mình, tránh bị đổ lỗi trực tiếp là chối bỏ trách nhiệm.
Nỗ lực giữ vững danh dự cho nước Mỹ của Nixon gợi nhắc về sự kiện nước Pháp rút khỏi Algeria năm 1962. Trong tình huống đó, Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đã chấp nhận từ bỏ một vùng thuộc địa vốn là một phần lãnh thổ hợp pháp, để chấm dứt một cuộc chiến sa lầy quá lâu và gây mâu thuẫn nội bộ chính trị sâu sắc, đồng thời bảo vệ danh dự và một phần uy thế (grandeur) của Pháp trên trường quốc tế. Từ bài học lịch sử ấy, Nixon tin rằng ông cũng có thể đạt được một kết quả tương tự tại Việt Nam.
Trong nỗ lực tìm kiếm một nền “hòa bình trong danh dự”, Nixon và Kissinger đã áp dụng linh hoạt chiến lược “cây gậy và củ cà rốt” (carrots and sticks) với những tính toán kỹ lưỡng cho cả đồng minh lẫn đối thủ. Họ đã thất bại – và thất bại thảm hại – trong việc lập lại hòa bình ở Việt Nam và khắp phần còn lại của Bán đảo Đông Dương. Dù thất bại nhưng không thể phủ nhận rằng họ đã cứu vãn được một chút uy tín quốc gia. Mỹ đã thành công kết thúc cuộc chiến đang sa sút nhưng không thừa nhận mình thất bại một cách chính thức bằng văn bản pháp lý. Chiến lược ngoại giao khôn ngoan này vừa giúp Mỹ nhận được sự nhượng bộ nhất định từ phía Hà Nội, vừa giúp chính quyền Nguyễn Văn Thiệu kéo dài thời gian tham chiến. Sau cùng, những gì chúng ta thấy được là một cặp bài trùng ngoại giao đầy tài năng, nhạy bén, lý trí, nhưng cũng đầy tàn nhẫn, luôn đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu.
Quả thực, Nixon hoàn toàn có thể đạt được một thỏa thuận với Hà Nội ngay trong năm đầu tiên nhậm chức, tuy nhiên, ông phải chấp nhận nhượng bộ - rút quân “vô điều kiện” và cắt đứt quan hệ, hoặc thực chất là bỏ rơi, các đồng minh Việt Nam của mình. Đó vẫn là điều kiện duy nhất mà Hà Nội có thể chấp nhận làm cơ sở cho giải pháp đàm phán đến tháng 10/1972. Tất cả những điều khác chỉ là tiểu tiết.
Những học giả và nhà phân tích Mỹ ít khi xem xét các quyền tự chủ và sự phức tạp của cả hai phía Việt Nam, ngược lại Nixon và Kissinger đã thể hiện rất tốt điều đó trong tiến trình đàm phán hòa bình. Dù những nỗ lực này cuối cùng không đem lại kết quả như kỳ vọng, chúng vẫn có ý nghĩa quan trọng ở phương diện bài học kinh nghiệm. Quả thực, ta có thể học được nhiều từ những tính toán và thực tiễn ngoại giao của hai chính trị gia này.
Trên hết, Nixon và Kissinger hiểu rằng uy tín là một nguồn vốn quan trọng trong quan hệ quốc tế và cần thiết trong các cuộc đàm phán có tính rủi ro cao. Vì vậy, Nixon luôn ưu tiên hành động hơn lời nói. Ông tránh những tuyên bố công khai khoa trương nhằm phục vụ hình ảnh cá nhân, thay vào đó kiên trì triển khai những chính sách được chuẩn bị kỹ lưỡng và cân nhắc thận trọng. Nhận thức rõ tính chất mong manh của các cuộc đàm phán cấp cao, ông chủ yếu tiến hành chúng trong bí mật và kín đáo. Ông can dự với cả Liên Xô và Trung Quốc, trong đó các tiếp xúc ban đầu với Bắc Kinh được giữ tuyệt đối bí mật, không phải để ghi điểm chính trị trong nước mà nhằm từng bước gia tăng sức ép buộc Hà Nội bước vào đàm phán một cách nghiêm túc. Ông không liên tục đe dọa sẽ ném bom dữ dội Bắc Việt rồi rút lui mỗi lần như vậy. Ông chỉ làm điều đó hai lần và cả hai lần đều giữ đúng lời hứa, khiến các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hết sức lo ngại, đồng thời củng cố niềm tin của chính quyền Thiệu. Còn Kissinger cũng chỉ tuyên bố “hòa bình đã ở trong tầm tay” một lần, chứ không phải bốn mươi lần. Một thành viên trong phái đoàn Hà Nội tham gia các cuộc đàm phán bí mật tại Paris từng nói với tôi rằng, các nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam căm ghét Nixon và Kissinger, nhưng họ thực sự tôn trọng hai người.
Những thành quả ngoại giao trên hoàn toàn không xuất hiện dưới thời chính quyền Donald Trump trong cách tiếp cận các cuộc đàm phán với Teran. Trên thực tế, có sự khác nhau rất lớn trong chính sách ngoại giao giữa Nixon và Kissinger với đội ngũ lãnh đạo hiện tại. Trump và đội ngũ của ông ta tin rằng các cuộc không kích và tấn công tên lửa có thể làm tổn thương và khiến chính quyền Iran khuất phục, nhưng nó rõ ràng đã không tạo ra các ưu thế ngoại giao mà họ mong muốn. Điều này trái ngược với chiến dịch Linebacker I và Linebacker II (còn được gọi là Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai và Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không) mà Nixon đã thực hiện vào năm 1972.
Về cơ bản, chính quyền Trump gặp khó khăn trên mặt trận ngoại giao vì đã tự đánh mất phần lớn uy tín của mình bằng những phát ngôn cứng rắn và các động thái mang tính phô trương. Việc liên tục đưa ra các những lời đe dọa đáng sợ như huỷ diệt nền văn minh và các hình thức huỷ diệt khác, nhưng lại không có hành động thực tế đi kèm, đã làm giảm hiệu quả của các tuyên bố. Khi kết hợp những tuyên bố công khai mâu thuẫn với chính sách, thậm chí đôi khi còn trái ngược với thực tế, điều đó sẽ gây tổn hại không thể phục hồi đối với uy tín quốc gia cũng như khả năng ứng phó hiệu quả trong hệ thống quốc tế đầy rủi ro. Thực hành ngoại giao thông qua những kênh bí mật có những hạn chế, tuy nhiên nó vẫn tốt hơn việc tiến hành trên các nền tảng mạng xã hội. Ngoài ra, đối ngoại dựa vào các nhà ngoại giao dày dặn kinh nghiệm cũng tốt hơn là dựa vào những người trung thành nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn.
Bản ghi nhớ 14 điểm được công bố vào ngày 17/6 có những điểm tương đồng đáng kinh ngạc với Hiệp định Paris cả về giọng điệu lẫn nội dung. Nhìn chung, đây là một thỏa thuận ngừng bắn kêu gọi chấm dứt ngay lập tức các hoạt động quân sự của Mỹ và đồng minh (Israel) trong khu vực. Văn kiện này hứa hẹn khoản viện trợ “ít nhất 300 tỷ USD” để “tái thiết” đất nước, mà thực chất là khoản bồi thường chiến tranh, lớn gấp 10 lần khoản tiền mà Nixon từng bí mật cam kết với Hà Nội (nếu tính theo giá trị USD hiện nay). Bản ghi nhớ này đưa ra một khuôn khổ, nhưng chưa thực sự tạo ra một nền hòa bình lâu dài.
Cũng giống như Hiệp định Paris, điểm bất cập lớn nhất của văn kiện này là nó hoàn toàn không giải quyết triệt để những gốc rễ của xung đột. Thay vào đó, bản ghi nhớ yêu cầu một vòng đàm phán mới để đôi bên cùng đi đến “thỏa thuận cuối cùng” về các vấn đề cốt lõi – trong trường hợp này là “cơ chế kiểm soát và vận hành dịch vụ hàng hải trong tương lai ở eo biển Hormuz”, cũng như số phận của chương trình làm giàu hạt nhân của Iran trong vòng 60 ngày (có thể gia hạn) thay vì 90 ngày theo Hiệp định Paris.
Xét trên mọi phương diện, Bản ghi nhớ không thể được xem là một “thắng lợi lớn” cho Mỹ, càng không phải là hành động “đầu hàng vô điều kiện” của Iran. Trái lại, văn kiện này phản ánh những sai lầm của chính quyền Trump trong quá trình hoạch định và kiểm soát cuộc chiến, cũng như sự lúng túng trong nỗ lực ngoại giao nhằm chấm dứt xung đột. Đây chỉ là một giải pháp phù hợp với tình thế nhằm giữ thể diện cho cả đôi bên. Nó giúp tránh phải công khai đầu hàng và che giấu sự bẽ bàng; đồng thời tạo ra một vỏ bọc chính trị cho quá trình rút lui chiến lược. Nói cách khác, nó thực hiện hầu như toàn bộ những chức năng mà Hiệp định Paris từng đảm nhận - văn kiện được sinh ra từ một cuộc chiến thất bại.
Dù sao, việc tìm kiếm một lối thoát khỏi cuộc chiến đang leo thang và ngày càng mất đi sự ủng hộ trong nước vẫn là phương án khả thi hơn so với việc tiếp tục để xung đột kéo dài. Tương tự, việc eo biển Hormuz có được mở lại vô thời hạn hay không thì năng lực quân sự của Iran vẫn bị suy giảm nghiêm trọng, ít nhất cho đến khi Teran khôi phục chúng, tất cả đều có lợi cho Washington. Tuy nhiên, khi nhìn lại, đó chỉ là một lợi ích thu được rất nhỏ, hết sức khiêm tốn so với cái giá mà Mỹ đã phải trả bằng xương máu và tiền bạc, trong khi hầu như không thu được những lợi ích có thể bảo đảm bằng các cơ chế thực thi.
Những cam kết riêng mà Nixon đưa ra để đảm bảo sự tuân thủ từ cả đồng minh và đối thủ của ông ấy rất rõ ràng và rành mạch. Bê bối chính trị trong nước khiến Nixon phải từ chức đã khiến những cam kết ấy cuối cùng lại vô hiệu, tuy nhiên tài liệu lưu trữ đã ghi nhận rằng Nixon có thái độ sẵn sàng thực hiện các cam kết ấy trong một khoảng thời gian nhất định. Quan trọng hơn, những cam kết này hoàn toàn nhất quán với phong cách ngoại giao cũng như đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược hòa bình của Nixon. Đây là những lời hứa của chính ông, những đảm bảo cá nhân được cam kết bằng văn bản, được củng cố bằng lịch sử trọng chữ tín, đảm bảo thực hiện cả lời đe dọa lẫn lời hứa của mình. Hà Nội và Sài Gòn nhận thức rất rõ điều này.
Phó Tổng thống J. D. Vance thừa nhận rằng những thỏa thuận bổ sung với Iran vẫn tồn tại, nhưng chúng lại không được viết thành văn bản. Một bản thỏa thuận mà những vấn đề cốt lõi của nó lại mơ hồ, mang tính tuyên bố và bí mật thực chất chỉ là một khuôn khổ trá hình dưới danh nghĩa một “thỏa thuận”. Điều này trái ngược với những tuyên bố của chính quyền Trump rằng đây là “chính quyền minh bạch nhất trong lịch sử”. Những hạn chế này, kết hợp những điều khoản công khai có lợi cho đối phương, đã cho thấy một khác biệt quan trọng về năng lực và tư duy.
Không giống với Nixon, việc Trump đe dọa tái thực hiện các cuộc ném bom để yêu cầu Iran tuân thủ Bản ghi nhớ hầu như không còn sức thuyết phục. Những lời đe dọa trống rỗng và những lần thất hứa đã làm suy giảm đáng kể uy tín của Trump. Hơn nữa, việc liên tục sử dụng đòn hù dọa đã cho thấy rằng Trump khó có khả năng tái phát động các chiến dịch quân sự, trừ khi Iran vi phạm một cách trắng trợn Bản ghi nhớ mà không có bất kỳ lý do chính đáng nào. Một cách hiển nhiên, vị tổng thống đương nhiệm đang bị giới hạn quyền lực bởi ông ấy thiếu vắng đi sự ủng hộ trong nước đối với cuộc chiến này, thậm chí hơn cả Nixon khi xưa. Những lời phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng dành cho Tổng thống Gerald Ford vào năm 1974, dù có phần cường điệu, vẫn phản ánh khá chính xác tình thế mà Trump đã tự đặt mình vào: “Ông ấy là vị tổng thống tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ… thậm chí nếu bạn có cho ông ấy kẹo, ông ấy cũng chẳng dám can thiệp vào Việt Nam một lần nữa.”
Trên thực tế, Trump đã dùng các cuộc đánh bom để buộc Iran bước vào bàn đàm phán hướng đến một thỏa thuận cuối cùng và toàn diện, tương tự thỏa thuận mà Tổng thống Barack Obama hoàn tất vào năm 2015 thông qua Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA), nhưng sau đó chính Trump lại đơn phương rút khỏi. Điều trớ trêu nhất là Trump từng chỉ trích JCPOA chủ yếu vì cho rằng văn kiện này che giấu những thỏa thuận bí mật với Iran. Thế nhưng đến cuối cùng, ông lại lựa chọn chính phương thức mà mình từng lên án để đạt cùng một mục đích là né tránh sự giám sát và chỉ trích từ công chúng.
Nixon kế thừa từ Chiến tranh Việt Nam, còn Trump chủ động đưa Mỹ vào cuộc xung đột với Iran vì những lý do đến nay vẫn còn mơ hồ và gây nhiều tranh cãi. Theo lập trường chính thức của chính quyền Trump, cuộc chiến mới nhất này nhằm xóa bỏ cả chương trình tên lửa đạn đạo lẫn kế hoạch hạt nhân của Iran. Nếu đó thực sự là mục tiêu, thì Bản ghi nhớ chính là một sự thừa nhận thất bại.
Hiệp định Paris phản ánh sự ngoan cố, kiên nhẫn và nỗi ám ảnh của Nixon trong việc duy trì phần nào uy tín quốc gia trong những hoàn cảnh đặc biệt bất lợi và khó khăn. Ngược lại, Bản ghi nhớ cho thấy những giới hạn trong quyết tâm của Trump cũng như mức độ ông dễ bị tác động bởi sức ép từ dư luận, quốc hội, đồng minh và các yếu tố kinh tế. Trump từ lâu đã bị đem ra so sánh với Nixon, đôi khi chính ông dường như cũng chủ động xây dựng hình ảnh “kẻ điên” trong mắt người khác. Tuy nhiên, hình ảnh đó bắt nguồn từ tính cách thất thường của Trump chứ không phải từ một đại chiến lược nhất quán và hợp lý. Xét về khả năng thể hiện một phong cách lãnh đạo quyết đoán, hiệu quả và kiên định, cũng như tiến hành ngoại giao theo tinh thần ấy, Trump không thể nào sánh được với Nixon. Nếu còn sống, có lẽ chính Nixon, chứ không phải Ronald Reagan mới là người sẽ phẫn nộ trước tình hình hiện nay.
Và sau đó là Israel, cũng giống như chính quyền Nam Việt Nam trong suốt chiến tranh Việt Nam, Israel nắm giữ những con bài quan trọng, có lẽ là quan trọng nhất trong tất cả các quân bài. Trong giai đoạn hiện nay, Jerusalem không hề quan tâm đến một giải pháp thỏa hiệp, cũng giống như Sài Gòn trước đây, bởi họ vẫn coi đối phương là một mối đe dọa hiện hữu lâu dài mà lệnh ngừng bắn không thể xóa bỏ. Việc Nixon loại miền Nam Việt Nam ra khỏi tiến trình thảo luận với Hà Nội – điều này đã thể hiện thất bại ngoại giao lớn nhất của ông – cũng tương tự như cách Trump đã bí mật đàm phán Bản ghi nhớ mà không hề có Israel. Cuối cùng, việc loại trừ này đã tạo điều kiện cho những hành động cản trở tiến trình hòa bình của chính quyền Sài Gòn, góp phần không nhỏ dẫn đến việc chiến sự nhanh chóng bùng phát trở lại ở Việt Nam, đồng thời phơi bày những giới hạn trong khả năng Mỹ chi phối chính các đồng minh của mình. Điều tương tự cũng có thể xảy ra ngày nay, khiến toàn bộ những hành động ngoại giao trở nên vô nghĩa. Cho đến nay, Jerusalem đã nhiều lần tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào các mục tiêu bên trong lãnh thổ Lebanon, điều này đã vi phạm cả về nội dung lẫn tinh thần của Bản ghi nhớ.
Lịch sử hiện đại không mấy ưu ái Mỹ trong các cuộc xung đột vũ trang. Kể từ năm 1945, hầu hết những cuộc chiến lớn mà nước này tiến hành đều không đạt được các mục tiêu và tham vọng do các đời tổng thống đặt ra, đôi khi thất bại còn đặc biệt ê chề. Việc sở hữu và thường xuyên sử dụng lực lượng quân sự đắt đỏ, hiện đại và có sức hủy diệt khủng khiếp nhất thế giới không đồng nghĩa với khả năng dễ dàng buộc các tác nhân quốc tế “xấu” phải thay đổi hành vi. Lịch sử đôi khi dạy cho chúng ta những bài học quý giá, dù chúng có thể rất đau đớn. Đáng tiếc, Trump và đội ngũ của mình đã lựa chọn phớt lờ những bài học ấy.
Pierre Asselin là Giáo sư giữ Ghế Danh dự Dwight E. Stanford về Lịch sử Quan hệ Đối ngoại Mỹ tại Đại học Bang San Diego. Ông nói được tiếng Việt và đã có hơn ba thập kỷ nghiên cứu Chiến tranh Việt Nam dựa trên các tài liệu lưu trữ của Mỹ, Pháp và Việt Nam. Cuốn sách mới nhất của ông là Vietnam’s American War: A New History (Cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam: Một lịch sử mới), xuất bản năm 2024.
Nguồn: Pierre Asselin, “From Vietnam to Iran: Wartime Diplomacy and Secret Deals”, War on the Rocks, June 24, 2026.
Người dịch: Trần Tú Trân - Bùi Hải Yến - Lê Huỳnh Thanh Xuân
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Những cuộc chiến tranh hiếm khi kết thúc bằng một văn kiện ngoại giao đơn thuần. Thông thường, tiến trình này thường phải trải qua hàng loạt các thỏa thuận ngừng bắn, khuôn khổ pháp lý, hiểu biết chung, cùng các thỏa thuận tạm thời và thậm chí là bí mật, trước khi các bên liên quan có thể xác định liệu hòa bình có thực sự được xác lập hay không. Bản ghi nhớ giữa nội các Trump và chính quyền Iran cũng là một trường hợp tương tự khi được xét dưới góc độ này. Về hình thức lẫn logic, Bản ghi nhớ gợi nhắc về một nỗ lực ngoại giao của Mỹ cách đây 53 năm nhằm tìm kiếm phương thức kết thúc một cuộc xung đột không được nhân dân ủng hộ: Hiệp định Paris năm 1973.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (còn được gọi là Hiệp định Paris) đã được ký kết bởi bốn chủ thể đồng thời tham chiến tại Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975, gồm Mỹ, chính quyền miền Nam Việt Nam, Bắc Việt, và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (được biết đến rộng rãi với tên gọi “Việt Cộng”). Bản hiệp định là kết quả của một quá trình đàm phán kéo dài hơn bốn năm, với nhiều hình thức đàm phán như bán công khai, riêng tư và những cuộc thương lượng bí mật, được tổ chức tại thủ đô nước Pháp.
Hiệp định không phải là một giải pháp ngoại giao toàn diện hay một tín hiệu về một nền hòa bình vĩnh viễn. Thay vào đó, thực chất đây chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn nhằm chấm dứt sự thù địch của Mỹ (phi Mỹ hóa), đồng thời tạo cơ sở cho việc trao trả tù binh chiến tranh và công dân nước ngoài bị bắt giữ giữa các bên ký kết. Văn kiện ngoại giao này hoàn toàn không giải quyết được những bất đồng giữa Hà Nội và Sài Gòn - vốn là vấn đề trung tâm của xung đột. Ngược lại, các vấn đề này được trao lại cho các bên Việt Nam tự giải quyết thông qua các cuộc đàm phán riêng tư sẽ diễn ra sau đó, dự kiến bắt đầu ngay sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực vào ngày ký. Cụ thể, theo Điều 12 của Hiệp định, các bên liên quan cam kết sẽ “nỗ lực tối đa” để giải quyết các khác biệt chính trị trong vòng 90 ngày.
Bởi Hiệp định Paris thiếu các cơ chế thực thi buộc các bên tuân thủ, Tổng thống Richard Nixon đã đưa ra các cam kết riêng với cả Hà Nội và Sài Gòn nhằm đảm bảo sự ủng hộ và tuân thủ của cả hai phe. Với miền Bắc, ông đã bí mật hứa hẹn với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng Mỹ sẽ viện trợ 3.25 tỷ USD để giúp miền Bắc “tái thiết” đất nước sau chiến tranh. Đồng thời, Nixon cũng hứa hẹn với Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, về việc Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế và tiến hành các biện pháp trả đũa thích đáng nếu miền Bắc vi phạm các điều khoản đã ký kết.
Tuy nhiên, cả hai lời hứa này chỉ có giá trị nếu Nixon vẫn còn tiếp tục giữ chức tổng thống. Nguyên nhân xuất phát từ các xáo trộn trong nội bộ chính trị nước Mỹ lúc bấy giờ, khi Tổng thống Nixon vướng vào vụ bê bối Watergate, khiến ông ta mất đi quyền lực chính trị và phải từ chức năm 1974. Ngoài ra, Quốc hội Mỹ cũng thông qua Tu Chính án Case-Church nhằm cấm hoàn toàn mọi hoạt động quân sự của Mỹ tại Đông Dương (có hiệu lực từ ngày 15/8/1973) và Nghị quyết Quyền lực Chiến tranh (còn gọi là Đạo luật Quyền lực Chiến tranh) (có hiệu lực từ ngày 7/11/1973), quy định Tổng thống Mỹ không được phép tự ý đem quân gây chiến quá 60 ngày nếu không được Quốc hội cho phép. Các thay đổi trên khiến khả năng thực hiện những lời hứa trước đó hoàn toàn là con số không.
Có lẽ vì thế mà Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã không phản ánh đúng bản chất của văn kiện. Thực tế, nó không làm “chấm dứt chiến tranh” ở Việt Nam, bằng chứng là cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc vẫn tiếp tục diễn ra ngay sau khi Hiệp định được ký kết. Đồng thời, bản chất của Hiệp định này chỉ chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ chứ không “lập lại hòa bình” lâu dài ở Việt Nam. Nói một cách khác, đây chỉ là lối thoát để Mỹ rút quân về nước một cách hợp pháp. Xét cả về hình thức lẫn nội dung, Hiệp định Paris là minh chứng rõ nét cho thấy sự thất bại trong chiến dịch quân sự phi nghĩa của Mỹ ở Đông Nam Á.
Thực tế cho thấy, cả Hà Nội và Sài Gòn lúc bấy giờ đều không muốn đình chỉ chiến tranh vô thời hạn và chấp nhận nguyên trạng của năm 1973. Nguyên nhân là vì phía Hà Nội vẫn kiên định với mục tiêu ban đầu suốt hàng thập kỷ qua là thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn coi sự hiện diện quân sự quy mô lớn của đối phương ở miền Nam là mối đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của chế độ. Từ góc độ ngoại giao, việc Tổng thống Nixon có thể thuyết phục được cả hai chính quyền đặt bút ký kết vào một hiệp định còn nhiều khiếm khuyết là một thành tựu đáng chú ý. Chính những thỏa thuận ngầm của Nixon với hai phía chính là nhân tố quyết định.
Có thể nói, ngay từ thời điểm quyết định can dự vào các vấn đề của Việt Nam, Nixon và Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ, đã ý thức rõ về những thách thức mà họ phải đối mặt. Mỹ hiểu rằng sau năm 1969, hy vọng về chiến thắng quân sự nhằm kiềm chế sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản ở miền Nam Việt Nam là điều bất khả, cũng tương tự với việc chấm dứt sự can thiệp quân sự của Mỹ một cách danh dự chắc chắn sẽ là một tiến trình lâu dài và khó khăn. Đối với Nixon, “hòa bình trong danh dự” (peace with honor) là rút quân làm sao cho Mỹ không mang danh là kẻ thất bại và tiếp tục giữ vững được vị thế siêu cường trong Chiến tranh Lạnh với Liên Xô bất chấp thất bại của Mỹ trong cuộc can thiệp vào Đông Dương, mặt khác tạo điều kiện để chính quyền Sài Gòn tự duy trì cuộc chiến chống lại các lực lượng do Cộng sản lãnh đạo trên lãnh thổ của mình, tránh bị đổ lỗi trực tiếp là chối bỏ trách nhiệm.
Nỗ lực giữ vững danh dự cho nước Mỹ của Nixon gợi nhắc về sự kiện nước Pháp rút khỏi Algeria năm 1962. Trong tình huống đó, Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đã chấp nhận từ bỏ một vùng thuộc địa vốn là một phần lãnh thổ hợp pháp, để chấm dứt một cuộc chiến sa lầy quá lâu và gây mâu thuẫn nội bộ chính trị sâu sắc, đồng thời bảo vệ danh dự và một phần uy thế (grandeur) của Pháp trên trường quốc tế. Từ bài học lịch sử ấy, Nixon tin rằng ông cũng có thể đạt được một kết quả tương tự tại Việt Nam.
Trong nỗ lực tìm kiếm một nền “hòa bình trong danh dự”, Nixon và Kissinger đã áp dụng linh hoạt chiến lược “cây gậy và củ cà rốt” (carrots and sticks) với những tính toán kỹ lưỡng cho cả đồng minh lẫn đối thủ. Họ đã thất bại – và thất bại thảm hại – trong việc lập lại hòa bình ở Việt Nam và khắp phần còn lại của Bán đảo Đông Dương. Dù thất bại nhưng không thể phủ nhận rằng họ đã cứu vãn được một chút uy tín quốc gia. Mỹ đã thành công kết thúc cuộc chiến đang sa sút nhưng không thừa nhận mình thất bại một cách chính thức bằng văn bản pháp lý. Chiến lược ngoại giao khôn ngoan này vừa giúp Mỹ nhận được sự nhượng bộ nhất định từ phía Hà Nội, vừa giúp chính quyền Nguyễn Văn Thiệu kéo dài thời gian tham chiến. Sau cùng, những gì chúng ta thấy được là một cặp bài trùng ngoại giao đầy tài năng, nhạy bén, lý trí, nhưng cũng đầy tàn nhẫn, luôn đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu.
Quả thực, Nixon hoàn toàn có thể đạt được một thỏa thuận với Hà Nội ngay trong năm đầu tiên nhậm chức, tuy nhiên, ông phải chấp nhận nhượng bộ - rút quân “vô điều kiện” và cắt đứt quan hệ, hoặc thực chất là bỏ rơi, các đồng minh Việt Nam của mình. Đó vẫn là điều kiện duy nhất mà Hà Nội có thể chấp nhận làm cơ sở cho giải pháp đàm phán đến tháng 10/1972. Tất cả những điều khác chỉ là tiểu tiết.
Những học giả và nhà phân tích Mỹ ít khi xem xét các quyền tự chủ và sự phức tạp của cả hai phía Việt Nam, ngược lại Nixon và Kissinger đã thể hiện rất tốt điều đó trong tiến trình đàm phán hòa bình. Dù những nỗ lực này cuối cùng không đem lại kết quả như kỳ vọng, chúng vẫn có ý nghĩa quan trọng ở phương diện bài học kinh nghiệm. Quả thực, ta có thể học được nhiều từ những tính toán và thực tiễn ngoại giao của hai chính trị gia này.
Trên hết, Nixon và Kissinger hiểu rằng uy tín là một nguồn vốn quan trọng trong quan hệ quốc tế và cần thiết trong các cuộc đàm phán có tính rủi ro cao. Vì vậy, Nixon luôn ưu tiên hành động hơn lời nói. Ông tránh những tuyên bố công khai khoa trương nhằm phục vụ hình ảnh cá nhân, thay vào đó kiên trì triển khai những chính sách được chuẩn bị kỹ lưỡng và cân nhắc thận trọng. Nhận thức rõ tính chất mong manh của các cuộc đàm phán cấp cao, ông chủ yếu tiến hành chúng trong bí mật và kín đáo. Ông can dự với cả Liên Xô và Trung Quốc, trong đó các tiếp xúc ban đầu với Bắc Kinh được giữ tuyệt đối bí mật, không phải để ghi điểm chính trị trong nước mà nhằm từng bước gia tăng sức ép buộc Hà Nội bước vào đàm phán một cách nghiêm túc. Ông không liên tục đe dọa sẽ ném bom dữ dội Bắc Việt rồi rút lui mỗi lần như vậy. Ông chỉ làm điều đó hai lần và cả hai lần đều giữ đúng lời hứa, khiến các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hết sức lo ngại, đồng thời củng cố niềm tin của chính quyền Thiệu. Còn Kissinger cũng chỉ tuyên bố “hòa bình đã ở trong tầm tay” một lần, chứ không phải bốn mươi lần. Một thành viên trong phái đoàn Hà Nội tham gia các cuộc đàm phán bí mật tại Paris từng nói với tôi rằng, các nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam căm ghét Nixon và Kissinger, nhưng họ thực sự tôn trọng hai người.
Những thành quả ngoại giao trên hoàn toàn không xuất hiện dưới thời chính quyền Donald Trump trong cách tiếp cận các cuộc đàm phán với Teran. Trên thực tế, có sự khác nhau rất lớn trong chính sách ngoại giao giữa Nixon và Kissinger với đội ngũ lãnh đạo hiện tại. Trump và đội ngũ của ông ta tin rằng các cuộc không kích và tấn công tên lửa có thể làm tổn thương và khiến chính quyền Iran khuất phục, nhưng nó rõ ràng đã không tạo ra các ưu thế ngoại giao mà họ mong muốn. Điều này trái ngược với chiến dịch Linebacker I và Linebacker II (còn được gọi là Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai và Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không) mà Nixon đã thực hiện vào năm 1972.
Về cơ bản, chính quyền Trump gặp khó khăn trên mặt trận ngoại giao vì đã tự đánh mất phần lớn uy tín của mình bằng những phát ngôn cứng rắn và các động thái mang tính phô trương. Việc liên tục đưa ra các những lời đe dọa đáng sợ như huỷ diệt nền văn minh và các hình thức huỷ diệt khác, nhưng lại không có hành động thực tế đi kèm, đã làm giảm hiệu quả của các tuyên bố. Khi kết hợp những tuyên bố công khai mâu thuẫn với chính sách, thậm chí đôi khi còn trái ngược với thực tế, điều đó sẽ gây tổn hại không thể phục hồi đối với uy tín quốc gia cũng như khả năng ứng phó hiệu quả trong hệ thống quốc tế đầy rủi ro. Thực hành ngoại giao thông qua những kênh bí mật có những hạn chế, tuy nhiên nó vẫn tốt hơn việc tiến hành trên các nền tảng mạng xã hội. Ngoài ra, đối ngoại dựa vào các nhà ngoại giao dày dặn kinh nghiệm cũng tốt hơn là dựa vào những người trung thành nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn.
Bản ghi nhớ 14 điểm được công bố vào ngày 17/6 có những điểm tương đồng đáng kinh ngạc với Hiệp định Paris cả về giọng điệu lẫn nội dung. Nhìn chung, đây là một thỏa thuận ngừng bắn kêu gọi chấm dứt ngay lập tức các hoạt động quân sự của Mỹ và đồng minh (Israel) trong khu vực. Văn kiện này hứa hẹn khoản viện trợ “ít nhất 300 tỷ USD” để “tái thiết” đất nước, mà thực chất là khoản bồi thường chiến tranh, lớn gấp 10 lần khoản tiền mà Nixon từng bí mật cam kết với Hà Nội (nếu tính theo giá trị USD hiện nay). Bản ghi nhớ này đưa ra một khuôn khổ, nhưng chưa thực sự tạo ra một nền hòa bình lâu dài.
Cũng giống như Hiệp định Paris, điểm bất cập lớn nhất của văn kiện này là nó hoàn toàn không giải quyết triệt để những gốc rễ của xung đột. Thay vào đó, bản ghi nhớ yêu cầu một vòng đàm phán mới để đôi bên cùng đi đến “thỏa thuận cuối cùng” về các vấn đề cốt lõi – trong trường hợp này là “cơ chế kiểm soát và vận hành dịch vụ hàng hải trong tương lai ở eo biển Hormuz”, cũng như số phận của chương trình làm giàu hạt nhân của Iran trong vòng 60 ngày (có thể gia hạn) thay vì 90 ngày theo Hiệp định Paris.
Xét trên mọi phương diện, Bản ghi nhớ không thể được xem là một “thắng lợi lớn” cho Mỹ, càng không phải là hành động “đầu hàng vô điều kiện” của Iran. Trái lại, văn kiện này phản ánh những sai lầm của chính quyền Trump trong quá trình hoạch định và kiểm soát cuộc chiến, cũng như sự lúng túng trong nỗ lực ngoại giao nhằm chấm dứt xung đột. Đây chỉ là một giải pháp phù hợp với tình thế nhằm giữ thể diện cho cả đôi bên. Nó giúp tránh phải công khai đầu hàng và che giấu sự bẽ bàng; đồng thời tạo ra một vỏ bọc chính trị cho quá trình rút lui chiến lược. Nói cách khác, nó thực hiện hầu như toàn bộ những chức năng mà Hiệp định Paris từng đảm nhận - văn kiện được sinh ra từ một cuộc chiến thất bại.
Dù sao, việc tìm kiếm một lối thoát khỏi cuộc chiến đang leo thang và ngày càng mất đi sự ủng hộ trong nước vẫn là phương án khả thi hơn so với việc tiếp tục để xung đột kéo dài. Tương tự, việc eo biển Hormuz có được mở lại vô thời hạn hay không thì năng lực quân sự của Iran vẫn bị suy giảm nghiêm trọng, ít nhất cho đến khi Teran khôi phục chúng, tất cả đều có lợi cho Washington. Tuy nhiên, khi nhìn lại, đó chỉ là một lợi ích thu được rất nhỏ, hết sức khiêm tốn so với cái giá mà Mỹ đã phải trả bằng xương máu và tiền bạc, trong khi hầu như không thu được những lợi ích có thể bảo đảm bằng các cơ chế thực thi.
Những cam kết riêng mà Nixon đưa ra để đảm bảo sự tuân thủ từ cả đồng minh và đối thủ của ông ấy rất rõ ràng và rành mạch. Bê bối chính trị trong nước khiến Nixon phải từ chức đã khiến những cam kết ấy cuối cùng lại vô hiệu, tuy nhiên tài liệu lưu trữ đã ghi nhận rằng Nixon có thái độ sẵn sàng thực hiện các cam kết ấy trong một khoảng thời gian nhất định. Quan trọng hơn, những cam kết này hoàn toàn nhất quán với phong cách ngoại giao cũng như đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược hòa bình của Nixon. Đây là những lời hứa của chính ông, những đảm bảo cá nhân được cam kết bằng văn bản, được củng cố bằng lịch sử trọng chữ tín, đảm bảo thực hiện cả lời đe dọa lẫn lời hứa của mình. Hà Nội và Sài Gòn nhận thức rất rõ điều này.
Phó Tổng thống J. D. Vance thừa nhận rằng những thỏa thuận bổ sung với Iran vẫn tồn tại, nhưng chúng lại không được viết thành văn bản. Một bản thỏa thuận mà những vấn đề cốt lõi của nó lại mơ hồ, mang tính tuyên bố và bí mật thực chất chỉ là một khuôn khổ trá hình dưới danh nghĩa một “thỏa thuận”. Điều này trái ngược với những tuyên bố của chính quyền Trump rằng đây là “chính quyền minh bạch nhất trong lịch sử”. Những hạn chế này, kết hợp những điều khoản công khai có lợi cho đối phương, đã cho thấy một khác biệt quan trọng về năng lực và tư duy.
Không giống với Nixon, việc Trump đe dọa tái thực hiện các cuộc ném bom để yêu cầu Iran tuân thủ Bản ghi nhớ hầu như không còn sức thuyết phục. Những lời đe dọa trống rỗng và những lần thất hứa đã làm suy giảm đáng kể uy tín của Trump. Hơn nữa, việc liên tục sử dụng đòn hù dọa đã cho thấy rằng Trump khó có khả năng tái phát động các chiến dịch quân sự, trừ khi Iran vi phạm một cách trắng trợn Bản ghi nhớ mà không có bất kỳ lý do chính đáng nào. Một cách hiển nhiên, vị tổng thống đương nhiệm đang bị giới hạn quyền lực bởi ông ấy thiếu vắng đi sự ủng hộ trong nước đối với cuộc chiến này, thậm chí hơn cả Nixon khi xưa. Những lời phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng dành cho Tổng thống Gerald Ford vào năm 1974, dù có phần cường điệu, vẫn phản ánh khá chính xác tình thế mà Trump đã tự đặt mình vào: “Ông ấy là vị tổng thống tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ… thậm chí nếu bạn có cho ông ấy kẹo, ông ấy cũng chẳng dám can thiệp vào Việt Nam một lần nữa.”
Trên thực tế, Trump đã dùng các cuộc đánh bom để buộc Iran bước vào bàn đàm phán hướng đến một thỏa thuận cuối cùng và toàn diện, tương tự thỏa thuận mà Tổng thống Barack Obama hoàn tất vào năm 2015 thông qua Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA), nhưng sau đó chính Trump lại đơn phương rút khỏi. Điều trớ trêu nhất là Trump từng chỉ trích JCPOA chủ yếu vì cho rằng văn kiện này che giấu những thỏa thuận bí mật với Iran. Thế nhưng đến cuối cùng, ông lại lựa chọn chính phương thức mà mình từng lên án để đạt cùng một mục đích là né tránh sự giám sát và chỉ trích từ công chúng.
Nixon kế thừa từ Chiến tranh Việt Nam, còn Trump chủ động đưa Mỹ vào cuộc xung đột với Iran vì những lý do đến nay vẫn còn mơ hồ và gây nhiều tranh cãi. Theo lập trường chính thức của chính quyền Trump, cuộc chiến mới nhất này nhằm xóa bỏ cả chương trình tên lửa đạn đạo lẫn kế hoạch hạt nhân của Iran. Nếu đó thực sự là mục tiêu, thì Bản ghi nhớ chính là một sự thừa nhận thất bại.
Hiệp định Paris phản ánh sự ngoan cố, kiên nhẫn và nỗi ám ảnh của Nixon trong việc duy trì phần nào uy tín quốc gia trong những hoàn cảnh đặc biệt bất lợi và khó khăn. Ngược lại, Bản ghi nhớ cho thấy những giới hạn trong quyết tâm của Trump cũng như mức độ ông dễ bị tác động bởi sức ép từ dư luận, quốc hội, đồng minh và các yếu tố kinh tế. Trump từ lâu đã bị đem ra so sánh với Nixon, đôi khi chính ông dường như cũng chủ động xây dựng hình ảnh “kẻ điên” trong mắt người khác. Tuy nhiên, hình ảnh đó bắt nguồn từ tính cách thất thường của Trump chứ không phải từ một đại chiến lược nhất quán và hợp lý. Xét về khả năng thể hiện một phong cách lãnh đạo quyết đoán, hiệu quả và kiên định, cũng như tiến hành ngoại giao theo tinh thần ấy, Trump không thể nào sánh được với Nixon. Nếu còn sống, có lẽ chính Nixon, chứ không phải Ronald Reagan mới là người sẽ phẫn nộ trước tình hình hiện nay.
Và sau đó là Israel, cũng giống như chính quyền Nam Việt Nam trong suốt chiến tranh Việt Nam, Israel nắm giữ những con bài quan trọng, có lẽ là quan trọng nhất trong tất cả các quân bài. Trong giai đoạn hiện nay, Jerusalem không hề quan tâm đến một giải pháp thỏa hiệp, cũng giống như Sài Gòn trước đây, bởi họ vẫn coi đối phương là một mối đe dọa hiện hữu lâu dài mà lệnh ngừng bắn không thể xóa bỏ. Việc Nixon loại miền Nam Việt Nam ra khỏi tiến trình thảo luận với Hà Nội – điều này đã thể hiện thất bại ngoại giao lớn nhất của ông – cũng tương tự như cách Trump đã bí mật đàm phán Bản ghi nhớ mà không hề có Israel. Cuối cùng, việc loại trừ này đã tạo điều kiện cho những hành động cản trở tiến trình hòa bình của chính quyền Sài Gòn, góp phần không nhỏ dẫn đến việc chiến sự nhanh chóng bùng phát trở lại ở Việt Nam, đồng thời phơi bày những giới hạn trong khả năng Mỹ chi phối chính các đồng minh của mình. Điều tương tự cũng có thể xảy ra ngày nay, khiến toàn bộ những hành động ngoại giao trở nên vô nghĩa. Cho đến nay, Jerusalem đã nhiều lần tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào các mục tiêu bên trong lãnh thổ Lebanon, điều này đã vi phạm cả về nội dung lẫn tinh thần của Bản ghi nhớ.
Lịch sử hiện đại không mấy ưu ái Mỹ trong các cuộc xung đột vũ trang. Kể từ năm 1945, hầu hết những cuộc chiến lớn mà nước này tiến hành đều không đạt được các mục tiêu và tham vọng do các đời tổng thống đặt ra, đôi khi thất bại còn đặc biệt ê chề. Việc sở hữu và thường xuyên sử dụng lực lượng quân sự đắt đỏ, hiện đại và có sức hủy diệt khủng khiếp nhất thế giới không đồng nghĩa với khả năng dễ dàng buộc các tác nhân quốc tế “xấu” phải thay đổi hành vi. Lịch sử đôi khi dạy cho chúng ta những bài học quý giá, dù chúng có thể rất đau đớn. Đáng tiếc, Trump và đội ngũ của mình đã lựa chọn phớt lờ những bài học ấy.
Pierre Asselin là Giáo sư giữ Ghế Danh dự Dwight E. Stanford về Lịch sử Quan hệ Đối ngoại Mỹ tại Đại học Bang San Diego. Ông nói được tiếng Việt và đã có hơn ba thập kỷ nghiên cứu Chiến tranh Việt Nam dựa trên các tài liệu lưu trữ của Mỹ, Pháp và Việt Nam. Cuốn sách mới nhất của ông là Vietnam’s American War: A New History (Cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam: Một lịch sử mới), xuất bản năm 2024.
Từ khoá: Iran Việt Nam Mỹ ngoại giao