Góc nhìn
15 PHÚT ĐỌC

Vì sao các đồng minh của Mỹ ở châu Âu công nhận Nhà nước Palestine?

Ngày càng nhiều quốc gia châu Âu là đồng minh của Mỹ công nhận Nhà nước Palestine, quyết định phần lớn bị chi phối bởi tình hình thế giới và bối cảnh trong nước.

Nguyễn Hạnh Lan 01/10/2025
Image
Cuộc biểu tình ủng hộ Palestine tại thủ đô Marid, Tây Ban Nha - (C): AFP

Từ kế hoạch công nhận đến tuyên bố thực chất

Cuối tháng 7, một số quốc gia phương Tây (bao gồm Anh và Pháp - hai Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc) đã công bố kế hoạch công nhận nhà nước Palestine. Theo đó, nếu Israel không đạt được một số điều kiện then chốt như ban hành lệnh ngừng bắn và cam kết về một tiến trình hòa bình lâu dài tại dải Gaza, các nước này sẽ chính thức công nhận một nhà nước của người Palestine tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tháng 9.

Mới đây nhất, các nhà lãnh đạo Anh, Canada, Australia, Bồ Đào Nha và Pháp đã đưa ra tuyên bố chính thức trong các bài phát biểu của họ trong khuôn khổ các phiên thảo luận Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York. Sau những tuyên bố trên, chỉ còn Mỹ là Ủy viên thường trực duy nhất trong Hội đồng Bảo an không công nhận Nhà nước Palestine, đồng thời duy trì sự ủng hộ với Israel về cả mặt ngoại giao và quân sự.

Một động thái lạ thường

Việc Anh, Pháp và các đồng minh châu Âu khác của Mỹ quyết định đi ngược lại với chính sách của Mỹ tại dải Gaza có thể coi là một động thái khác lạ, nhất là khi xét đến việc các nước này đều là đồng minh truyền thống của Washington và gần như luôn ủng hộ các chính sách của siêu cường.

Một ví dụ điển hình và sát nhất với bối cảnh ở Gaza hiện tại chính là sự đóng góp của châu Âu nói chung và Anh, Pháp nói riêng trong cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ khởi xướng.

Cụ thể, sau sự kiện 11/9, Mỹ đã chính thức bước vào cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu và bắt đầu một loạt cuộc chiến dai dẳng tại các nước Trung Đông như Afghanistan, Iraq. Các nước châu Âu thông qua hai cơ chế Liên hiệp châu Âu (EU) và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã có nhiều động thái ủng hộ và hỗ trợ Mỹ, đặc biệt là về quân sự.

Ngay từ giữa tháng 10/2001, tức là một tháng sau vụ tấn công toà tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới, NATO đã khởi động chiến dịch chống khủng bố đầu tiên mang tên Eagle Assist, trong đó khối này sử dụng các máy bay để hỗ trợ Mỹ tuần tra. Kể từ đó, NATO tiếp tục ủng hộ Mỹ. Sau khi thủ lĩnh của Al-Qaeda là Osama Bin Laden - kẻ được cho là đứng sau vụ khủng bố 11/9 - được tuyên bố là đã chết vào năm 2011, đến tận năm 2023 châu Âu và Mỹ vẫn tiếp tục tổ chức đối thoại về chống khủng bố ở Brussels, thể hiện cam kết lâu dài và bền vững của các quốc gia này với chính sách của đồng minh.

Hiện nay, trong bối cảnh cuộc chiến của Israel tại dải Gaza, Mỹ vẫn sử dụng luận điệu chống khủng bố như trong quá khứ. Washington duy trì quan điểm cho rằng sự kiện Hamas tấn công Israel ngày 7/10/2023 chính là ngòi nổ khiến cuộc chiến kéo dài. Chính quyền tại Nhà Trắng ủng hộ mục tiêu của Israel nhằm loại bỏ hoàn toàn những kẻ khủng bố Hamas đồng thời giải cứu các con tin đang bị lực lượng giam giữ.

Điểm khác biệt ở đây là thái độ của các nước phương Tây đã có nhiều sự thay đổi. Ban đầu, các nước này đều thống nhất quan điểm với Mỹ trong việc chỉ trích Hamas, cũng như ủng hộ Israel về mặt quân sự thông qua các thỏa thuận mua bán vũ khí. Tuy nhiên, khác với Mỹ, sự hỗ trợ của các nước châu Âu dành cho Israel dường như đã sụt giảm dần theo thời gian. Đến nay, nhiều nhà quan sát nhận định rằng sự ủng hộ của châu Âu dành cho Israel đang ở mức thấp nhất trong lịch sử quan hệ. Đáng nói, các nước châu Âu đã chuyển từ các diễn ngôn ủng hộ sang phê phán những hành động của Israel là vi phạm nhân quyền, đồng thời kêu gọi hòa bình và hướng đến giải pháp hai nhà nước (two-state solution), nhằm chấm dứt chiến tranh và khủng hoảng nhân đạo tại dải Gaza.

Đỉnh điểm của sự khác biệt là việc một số nước châu Âu đã tuyên bố công nhận Nhà nước Palestine, điều mà Mỹ và Israel đều kịch liệt chỉ trích vì cho rằng quyết định chính trị này sẽ khiến mục tiêu tiêu diệt Hamas và giải cứu con tin trở nên khó khăn hơn.

Một yếu tố đặc biệt nữa khiến cho việc Anh, Pháp công nhận một nhà nước của người Palestine trở thành điều bất thường là câu chuyện về Tuyên bố Balfour - một di sản của chế độ thực dân. Tuyên bố này thường được truy gốc là nguồn cơn sâu xa dẫn đến tình thế nan giải giữa người Palestine và người Do Thái tại Gaza và Bờ Tây hiện nay. Việc Anh - đất nước hơn một trăm năm về trước đã hứa hẹn sẽ cho người Do Thái một vùng đất của riêng họ (national home) - ủng hộ giải pháp hai nhà nước và công nhận Palestine được coi là đang gián tiếp thừa nhận trách nhiệm cho những mâu thuẫn ở khu vực này.

Trong thế kỷ 20, đế quốc Anh đã từng can thiệp quân sự rộng rãi tại nhiều khu vực trên thế giới. Các chính sách của cường quốc này đã gián tiếp gây ra nhiều mâu thuẫn tại các thuộc địa cũ, ví dụ như xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan do đường Radcliffe, vụ thảm sát Mau Mau tại Kenya. Tuy nhiên Anh chưa bao giờ thừa nhận trách nhiệm của mình trong các sự kiện trên.

Quyết định công nhận nhà nước Palestine vì thế là động thái hầu như nằm ngoài dự đoán.

Có gì đằng sau những quyết định bất ngờ này?

Ẩn sau các tuyên bố kêu gọi hòa bình cho khu vực và kêu gọi Israel chấm dứt các hành động phi nhân đạo tại đây, các đồng minh của Mỹ ở châu Âu rõ ràng có nhiều lý do phức tạp hơn cho việc tuyên bố công nhận Nhà nước Palestine.

Các chính trị gia khôn ngoan ở châu Âu sẽ khó lòng hy sinh lợi ích quốc gia chỉ để đấu tranh cho công lý tại khu vực không phải là ưu tiên cho lợi ích quốc gia; bên cạnh đó, việc đi ngược lại với chính sách của Mỹ có thể đem lại nhiều hệ luỵ khó lường.

Có thể lý giải động cơ của các quốc gia châu Âu thông qua việc xem xét hai nhóm nguyên nhân lớn là tình hình quốc tế và tình hình chính trị nội bộ.

Trước hết, trên bình diện quan hệ quốc tế, cần chú ý đến sự thay đổi cách tiếp cận của Mỹ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump và Đảng Cộng hòa. Dù Mỹ vẫn duy trì quan điểm nhất quán về việc ủng hộ Israel, nhưng chính phủ nước này đang tập trung nhiều hơn vào giải quyết công việc nội bộ với mục tiêu “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America great again). Điều này đã nới rộng không gian hành động cho các quốc gia châu Âu.

Hơn nữa, thái độ của Mỹ trước những tuyên bố của châu Âu hồi tháng 7 là không quá gay gắt như nhiều người dự đoán, thậm chí còn có phần mềm mỏng. Bản thân Tổng thống Donald Trump đã từng trả lời báo giới rằng ông không bận tâm đến việc Anh đưa ra lập trường khác trong vấn đề Palestine, mối quan tâm hàng đầu của ông ta đặt ở việc chăm lo cho người dân trong nước. Trump cũng cho rằng việc Pháp công nhận Palestine là “không quan trọng” (doesn’t matter) và không có mấy ý nghĩa. Khi không vấp phải sự phản đối cứng rắn của Mỹ, cùng với việc mối quan hệ đồng minh đang có nhiều rạn nứt, các nước châu Âu rõ ràng cũng chẳng có mấy lý do để e ngại.

Bên cạnh đó, tình hình ở châu Âu và tình hình nội bộ các nước có lẽ cũng có nhiều ảnh hưởng đến việc công nhận Nhà nước Palestine. Các nước châu Âu cần tập trung đối phó với cuộc chiến tranh tại Ukraine, trong đó Kiev rõ ràng đang ở thế bất lợi so với Moscow khi thiếu đi sự ủng hộ thực chất của Washington. Việc các nước châu Âu “quay lưng” với Israel sẽ tạo thêm căn cứ vững chãi để các quốc gia này tiếp tục lên án và cấm vận Nga vì hành động xâm lược; đồng thời đem lại tính chính danh trong việc duy trì sự ủng hộ với Ukraine.

Xét đến tình hình trong nước, có thể thấy động thái công nhận Nhà nước Palestine diễn ra trong bối cảnh chính trị các nước châu Âu hầu như đều đang khủng hoảng. Làn sóng biểu tình tại lục địa già đang lên cao về vấn đề người nhập cư, các biện pháp an sinh xã hội của chính phủ. Người dân các nước châu Âu cũng đổ xuống đường biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh tại Gaza, với các cuộc biểu tình ở Tây Ban Nha, Pháp và đỉnh điểm là việc người dân Anh tụ tập quanh đại sứ quán Israel để kêu gọi hòa bình. Trong chính nghị viện, các nghị sĩ, quan chức cấp cao đều đã và đang gây áp lực buộc chính phủ phải có hành động. Việc công nhận Nhà nước Palestine vì thế có thể trở thành một biện pháp xoa dịu, thậm chí là điều hướng dư luận để ổn định tình hình.

***

Tóm lại, việc một số đồng minh của Mỹ ở châu Âu lựa chọn công nhận Nhà nước Palestine trong bối cảnh hiện tại là một động thái có phần khác thường, nhưng cũng có thể được lý giải bởi bối cảnh quốc tế và tình hình chính trị rối ren trong nước. Dù vậy, cái được gọi là “bước ngoặt ngoại giao” và sự cô lập đối với Israel thực tế mới chỉ là một phần rất nhỏ, do nó không hề đề cập đến vấn đề đường biên giới hay thủ đô của hai nhà nước (những yếu tố cần giải quyết để thật sự tiến tới ngừng bắn và tiến trình hòa bình lâu dài). Để đạt được giải pháp tại Gaza, các nước cần hành động nhiều hơn và thực chất hơn, và điều này hoàn toàn không dễ dàng trong bối cảnh thế giới bất ổn với việc các quốc gia đang đặt lợi ích của họ lên hàng đầu như hiện nay.

Nguyễn Hạnh Lan hiện là sinh viên khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao - Học viện Ngoại giao. Bạn đọc có thể liên hệ tác giả qua email: [email protected].

Từ kế hoạch công nhận đến tuyên bố thực chất

Cuối tháng 7, một số quốc gia phương Tây (bao gồm Anh và Pháp - hai Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc) đã công bố kế hoạch công nhận nhà nước Palestine. Theo đó, nếu Israel không đạt được một số điều kiện then chốt như ban hành lệnh ngừng bắn và cam kết về một tiến trình hòa bình lâu dài tại dải Gaza, các nước này sẽ chính thức công nhận một nhà nước của người Palestine tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tháng 9.

Mới đây nhất, các nhà lãnh đạo Anh, Canada, Australia, Bồ Đào Nha và Pháp đã đưa ra tuyên bố chính thức trong các bài phát biểu của họ trong khuôn khổ các phiên thảo luận Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York. Sau những tuyên bố trên, chỉ còn Mỹ là Ủy viên thường trực duy nhất trong Hội đồng Bảo an không công nhận Nhà nước Palestine, đồng thời duy trì sự ủng hộ với Israel về cả mặt ngoại giao và quân sự.

Một động thái lạ thường

Việc Anh, Pháp và các đồng minh châu Âu khác của Mỹ quyết định đi ngược lại với chính sách của Mỹ tại dải Gaza có thể coi là một động thái khác lạ, nhất là khi xét đến việc các nước này đều là đồng minh truyền thống của Washington và gần như luôn ủng hộ các chính sách của siêu cường.

Một ví dụ điển hình và sát nhất với bối cảnh ở Gaza hiện tại chính là sự đóng góp của châu Âu nói chung và Anh, Pháp nói riêng trong cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ khởi xướng.

Cụ thể, sau sự kiện 11/9, Mỹ đã chính thức bước vào cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu và bắt đầu một loạt cuộc chiến dai dẳng tại các nước Trung Đông như Afghanistan, Iraq. Các nước châu Âu thông qua hai cơ chế Liên hiệp châu Âu (EU) và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã có nhiều động thái ủng hộ và hỗ trợ Mỹ, đặc biệt là về quân sự.

Ngay từ giữa tháng 10/2001, tức là một tháng sau vụ tấn công toà tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới, NATO đã khởi động chiến dịch chống khủng bố đầu tiên mang tên Eagle Assist, trong đó khối này sử dụng các máy bay để hỗ trợ Mỹ tuần tra. Kể từ đó, NATO tiếp tục ủng hộ Mỹ. Sau khi thủ lĩnh của Al-Qaeda là Osama Bin Laden - kẻ được cho là đứng sau vụ khủng bố 11/9 - được tuyên bố là đã chết vào năm 2011, đến tận năm 2023 châu Âu và Mỹ vẫn tiếp tục tổ chức đối thoại về chống khủng bố ở Brussels, thể hiện cam kết lâu dài và bền vững của các quốc gia này với chính sách của đồng minh.

Hiện nay, trong bối cảnh cuộc chiến của Israel tại dải Gaza, Mỹ vẫn sử dụng luận điệu chống khủng bố như trong quá khứ. Washington duy trì quan điểm cho rằng sự kiện Hamas tấn công Israel ngày 7/10/2023 chính là ngòi nổ khiến cuộc chiến kéo dài. Chính quyền tại Nhà Trắng ủng hộ mục tiêu của Israel nhằm loại bỏ hoàn toàn những kẻ khủng bố Hamas đồng thời giải cứu các con tin đang bị lực lượng giam giữ.

Điểm khác biệt ở đây là thái độ của các nước phương Tây đã có nhiều sự thay đổi. Ban đầu, các nước này đều thống nhất quan điểm với Mỹ trong việc chỉ trích Hamas, cũng như ủng hộ Israel về mặt quân sự thông qua các thỏa thuận mua bán vũ khí. Tuy nhiên, khác với Mỹ, sự hỗ trợ của các nước châu Âu dành cho Israel dường như đã sụt giảm dần theo thời gian. Đến nay, nhiều nhà quan sát nhận định rằng sự ủng hộ của châu Âu dành cho Israel đang ở mức thấp nhất trong lịch sử quan hệ. Đáng nói, các nước châu Âu đã chuyển từ các diễn ngôn ủng hộ sang phê phán những hành động của Israel là vi phạm nhân quyền, đồng thời kêu gọi hòa bình và hướng đến giải pháp hai nhà nước (two-state solution), nhằm chấm dứt chiến tranh và khủng hoảng nhân đạo tại dải Gaza.

Đỉnh điểm của sự khác biệt là việc một số nước châu Âu đã tuyên bố công nhận Nhà nước Palestine, điều mà Mỹ và Israel đều kịch liệt chỉ trích vì cho rằng quyết định chính trị này sẽ khiến mục tiêu tiêu diệt Hamas và giải cứu con tin trở nên khó khăn hơn.

Một yếu tố đặc biệt nữa khiến cho việc Anh, Pháp công nhận một nhà nước của người Palestine trở thành điều bất thường là câu chuyện về Tuyên bố Balfour - một di sản của chế độ thực dân. Tuyên bố này thường được truy gốc là nguồn cơn sâu xa dẫn đến tình thế nan giải giữa người Palestine và người Do Thái tại Gaza và Bờ Tây hiện nay. Việc Anh - đất nước hơn một trăm năm về trước đã hứa hẹn sẽ cho người Do Thái một vùng đất của riêng họ (national home) - ủng hộ giải pháp hai nhà nước và công nhận Palestine được coi là đang gián tiếp thừa nhận trách nhiệm cho những mâu thuẫn ở khu vực này.

Trong thế kỷ 20, đế quốc Anh đã từng can thiệp quân sự rộng rãi tại nhiều khu vực trên thế giới. Các chính sách của cường quốc này đã gián tiếp gây ra nhiều mâu thuẫn tại các thuộc địa cũ, ví dụ như xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan do đường Radcliffe, vụ thảm sát Mau Mau tại Kenya. Tuy nhiên Anh chưa bao giờ thừa nhận trách nhiệm của mình trong các sự kiện trên.

Quyết định công nhận nhà nước Palestine vì thế là động thái hầu như nằm ngoài dự đoán.

Có gì đằng sau những quyết định bất ngờ này?

Ẩn sau các tuyên bố kêu gọi hòa bình cho khu vực và kêu gọi Israel chấm dứt các hành động phi nhân đạo tại đây, các đồng minh của Mỹ ở châu Âu rõ ràng có nhiều lý do phức tạp hơn cho việc tuyên bố công nhận Nhà nước Palestine.

Các chính trị gia khôn ngoan ở châu Âu sẽ khó lòng hy sinh lợi ích quốc gia chỉ để đấu tranh cho công lý tại khu vực không phải là ưu tiên cho lợi ích quốc gia; bên cạnh đó, việc đi ngược lại với chính sách của Mỹ có thể đem lại nhiều hệ luỵ khó lường.

Có thể lý giải động cơ của các quốc gia châu Âu thông qua việc xem xét hai nhóm nguyên nhân lớn là tình hình quốc tế và tình hình chính trị nội bộ.

Trước hết, trên bình diện quan hệ quốc tế, cần chú ý đến sự thay đổi cách tiếp cận của Mỹ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump và Đảng Cộng hòa. Dù Mỹ vẫn duy trì quan điểm nhất quán về việc ủng hộ Israel, nhưng chính phủ nước này đang tập trung nhiều hơn vào giải quyết công việc nội bộ với mục tiêu “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America great again). Điều này đã nới rộng không gian hành động cho các quốc gia châu Âu.

Hơn nữa, thái độ của Mỹ trước những tuyên bố của châu Âu hồi tháng 7 là không quá gay gắt như nhiều người dự đoán, thậm chí còn có phần mềm mỏng. Bản thân Tổng thống Donald Trump đã từng trả lời báo giới rằng ông không bận tâm đến việc Anh đưa ra lập trường khác trong vấn đề Palestine, mối quan tâm hàng đầu của ông ta đặt ở việc chăm lo cho người dân trong nước. Trump cũng cho rằng việc Pháp công nhận Palestine là “không quan trọng” (doesn’t matter) và không có mấy ý nghĩa. Khi không vấp phải sự phản đối cứng rắn của Mỹ, cùng với việc mối quan hệ đồng minh đang có nhiều rạn nứt, các nước châu Âu rõ ràng cũng chẳng có mấy lý do để e ngại.

Bên cạnh đó, tình hình ở châu Âu và tình hình nội bộ các nước có lẽ cũng có nhiều ảnh hưởng đến việc công nhận Nhà nước Palestine. Các nước châu Âu cần tập trung đối phó với cuộc chiến tranh tại Ukraine, trong đó Kiev rõ ràng đang ở thế bất lợi so với Moscow khi thiếu đi sự ủng hộ thực chất của Washington. Việc các nước châu Âu “quay lưng” với Israel sẽ tạo thêm căn cứ vững chãi để các quốc gia này tiếp tục lên án và cấm vận Nga vì hành động xâm lược; đồng thời đem lại tính chính danh trong việc duy trì sự ủng hộ với Ukraine.

Xét đến tình hình trong nước, có thể thấy động thái công nhận Nhà nước Palestine diễn ra trong bối cảnh chính trị các nước châu Âu hầu như đều đang khủng hoảng. Làn sóng biểu tình tại lục địa già đang lên cao về vấn đề người nhập cư, các biện pháp an sinh xã hội của chính phủ. Người dân các nước châu Âu cũng đổ xuống đường biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh tại Gaza, với các cuộc biểu tình ở Tây Ban Nha, Pháp và đỉnh điểm là việc người dân Anh tụ tập quanh đại sứ quán Israel để kêu gọi hòa bình. Trong chính nghị viện, các nghị sĩ, quan chức cấp cao đều đã và đang gây áp lực buộc chính phủ phải có hành động. Việc công nhận Nhà nước Palestine vì thế có thể trở thành một biện pháp xoa dịu, thậm chí là điều hướng dư luận để ổn định tình hình.

***

Tóm lại, việc một số đồng minh của Mỹ ở châu Âu lựa chọn công nhận Nhà nước Palestine trong bối cảnh hiện tại là một động thái có phần khác thường, nhưng cũng có thể được lý giải bởi bối cảnh quốc tế và tình hình chính trị rối ren trong nước. Dù vậy, cái được gọi là “bước ngoặt ngoại giao” và sự cô lập đối với Israel thực tế mới chỉ là một phần rất nhỏ, do nó không hề đề cập đến vấn đề đường biên giới hay thủ đô của hai nhà nước (những yếu tố cần giải quyết để thật sự tiến tới ngừng bắn và tiến trình hòa bình lâu dài). Để đạt được giải pháp tại Gaza, các nước cần hành động nhiều hơn và thực chất hơn, và điều này hoàn toàn không dễ dàng trong bối cảnh thế giới bất ổn với việc các quốc gia đang đặt lợi ích của họ lên hàng đầu như hiện nay.

Nguyễn Hạnh Lan hiện là sinh viên khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao - Học viện Ngoại giao. Bạn đọc có thể liên hệ tác giả qua email: [email protected].

Từ khoá: Palestine châu Âu EU Israel Trung Đông

BÀI LIÊN QUAN