Việt Nam trở thành đối tác của BRICS, vì sao không là thành viên?

Quyết định tham gia với tư cách đối tác là một lựa chọn chiến lược thận trọng, giúp Việt Nam vừa duy trì được thế trung lập để hợp tác với phương Tây, vừa có thể tiếp cận thị trường của BRICS mà không phải chịu các ràng buộc chính trị - kinh tế như một thành viên đầy đủ.

Võ Thị Thuý An 16/06/2025
Image
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng - (C): Bộ Ngoại giao Việt Nam

Ngày 13/6, Bộ Ngoại giao Brazil thông báo Việt Nam đã chính thức trở thành quốc gia đối tác thứ 10 của nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS (gồm các thành viên ban đầu là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi). Tương tự như vị trí “quan sát viên”, đối tác BRICS (BRICS partnership) là một cơ chế hợp tác mở rộng của nhóm các nền kinh tế mới nổi, chính thức ra đời vào tháng 10/2024 tại Hội Nghị Thượng đỉnh Kazan (Nga), nhằm thu hút thêm nhiều quốc gia gắn kết với nhóm này mà không trao cho họ tư cách thành viên đầy đủ (BRICS membership). 

Khi trở thành đối tác của BRICS, Việt Nam có thể tham gia các phiên họp đặc biệt của hội nghị thượng đỉnh hay các cuộc họp của bộ trưởng ngoại giao, cũng như các sự kiện cấp cao khác, qua đó đóng góp vào các tài liệu chính thức và tuyên bố chính sách của khối này. Tuy nhiên, quốc gia đối tác của BRICS sẽ không có quyền biểu quyết trong các vấn đề chung của khối.

Trong ASEAN, chỉ mới có Indonesia tham gia BRICS với tư cách thành viên chính thức, trong khi trước Việt Nam, Thái Lan và Malaysia cũng đã tham gia với tư cách đối tác của khối vào đầu năm nay. Vậy tại sao sau gần hai năm cân nhắc, Hà Nội chỉ quyết định tham gia BRICS với tư cách đối tác (partner) thay vì thành viên (member)?

Một bên kiên trì trung lập, một bên phát triển theo hướng chống phương Tây

Trước đây, dù chưa trực tiếp tuyên bố sẽ tham gia BRICS trong vai trò nào, Hà Nội đã nhiều lần thận trọng cho biết đang theo dõi tiến trình thảo luận về việc mở rộng thành viên của BRICS, bắt đầu từ khoảng giữa năm 2023 cho đến năm 2024. Cho đến khi có tuyên bố chính thức về việc thiết lập tư cách đối tác với BRICS vào tuần qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng thông báo việc Hà Nội trở thành đối tác của BRICS có ý nghĩa tương tự với việc “tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương như Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7) mở rộng, Nhóm các nền kinh tế lớn (G20) mở rộng, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)...”.

Phát biểu trên có thể được hiểu là, tư cách đối tác (thay vì thành viên) của khối BRICS là một sự tiếp nối của “chính sách ngoại giao đa hướng” (multidirectional foreign policy) của Việt Nam trong hơn ba thập kỷ qua kể từ “Đổi Mới” (năm 1986). Quyết định tham gia BRICS ở vai trò đối tác của Hà Nội được cân nhắc trong bối cảnh BRICS, một khối đa phương tập hợp 10 nền kinh tế mới nổi của Nam Bán cầu, không chỉ đơn thuần là một liên kết kinh tế mà đang ngày càng có khuynh hướng chính trị hoá với định hướng chống phương Tây mạnh mẽ.

Sau khi chiến tranh Nga-Ukraine xảy ra và Nga bị loại khỏi hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT, Moscow đã dẫn dắt khối BRICS tiến thêm những bước dài trong việc phá vỡ thế độc tôn của các hệ thống tài chính tiền tệ do phương Tây thống lĩnh. Trong nhiệm kỳ Chủ tịch BRICS vào năm ngoái, Moscow đã tích cực thúc đẩy các nước BRICS cùng hợp tác về hệ thống thanh toán chung bằng đồng nội tệ (phi đô la), với nhiệm vụ cụ thể là tăng cường vai trò của BRICS trong hệ thống tài chính và tiền tệ quốc tế. Nếu trong giai đoạn 2014-2025, hai công cụ tài chính quan trọng nhất của BRICS là Ngân hàng Phát triển Mới (NDB) và Thỏa thuận Dự trữ Dự phòng (CRA) lần lượt ra đời với tham vọng thay thế chức năng của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), thì trong năm 2024, Nga đã công bố thêm các sáng kiến mới bao gồm hệ thống thanh toán điện tử BRICS Pay, nền tảng thanh toán xuyên biên giới BRICS Bridge và sàn giao dịch ngũ cốc BRICS, tất cả đều nhằm thách thức sự thống trị của đồng đô la và góp phần tạo ra một cơ sở hạ tầng kinh tế - tài chính độc lập, qua đó loại trừ ảnh hưởng của Mỹ và phương Tây.

Đầu năm nay, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đe doạ sẽ áp thuế 100% lên quốc gia thành viên BRICS nào có ý định thúc đẩy xu hướng phi đô la hoá trong các giao dịch thanh toán của họ. Với bản chất ngày càng đối trọng với phương Tây của BRICS, việc liên kết chặt chẽ với khối này thông qua tư cách thành viên có thể ảnh hưởng đến vị thế trung lập của Việt Nam trong các hoạt động đối ngoại, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm như hiện nay, khi Hà Nội còn đang trong quá trình đàm phán thuế quan với Washington. Sau vòng đàm phán thuế quan thứ ba giữa phái đoàn Việt Nam và chính quyền Trump, kết thúc hôm 12/6, Bộ Công thương Việt Nam cho biết “đã có những tiến bộ đáng kể đạt được và khoảng cách đang được thu hẹp trong tất cả các lĩnh vực đàm phán”, song vẫn còn các vấn đề quan trọng chưa được giải quyết. Việc trở thành thành viên của BRICS ở thời điểm này có thể khiến nỗ lực đàm phán của Việt Nam với Mỹ trong suốt hai tháng qua “đổ sông đổ biển”. Ngược lại, tư cách đối tác, với quyền biểu quyết và ra quyết định hạn chế trong BRICS, là một lựa chọn an toàn hơn cho Việt Nam.

Giữa có và không là thành viên BRICS, lợi ích của Việt Nam không thay đổi đáng kể

Các nước BRICS chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới với GDP về sức mua tương đương (PPP) đã vượt qua khối G7 vào đầu năm 2023. Theo sau việc gia tăng số lượng thành viên, BRICS dự kiến sẽ đóng góp hơn 50% GDP toàn cầu vào năm 2030. Việc trở thành đối tác thứ 10 của BRICS (các quốc gia đối tác khác của BRICS bao gồm Belarus, Bolivia, Kazakhstan, Cuba, Malaysia, Thái Lan, Uganda, Uzbekistan và Nigeria) không chỉ có ý nghĩa về mặt ngoại giao, mà còn mở rộng quyền tiếp cận của Việt Nam vào thị trường rộng lớn của BRICS. Nếu tiến thêm bước nữa để trở thành thành viên đầy đủ của BRICS, lợi ích bổ sung là Hà Nội sẽ được hưởng lợi từ những hoạt động thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế sâu hơn với các thành viên BRICS khác, chẳng hạn như các hiệp định thương mại ưu đãi hoặc các dự án cơ sở hạ tầng chung.

Tuy nhiên, trên thực tế, Việt Nam đã có hiệp định thương mại tự do (FTA) với hầu hết các nền kinh tế chủ chốt trong BRICS, gồm Trung Quốc (thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc - ACFTA, và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực - RCEP), Nga (thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu - VN-EAEU FTA), Ấn Độ (thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Ấn Độ - AIFTA), UAE (thông qua Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện - CEPA giữa Việt Nam và UAE), và Indonesia (thông qua Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN). Do đó, với Hà Nội, tư cách thành viên đầy đủ của BRICS trở thành một lựa chọn không còn mấy hấp dẫn. 

Bên cạnh đó, mặc dù tư cách thành viên đầy đủ của BRICS có thể cho phép Việt Nam mở rộng các giao dịch mua bán với các nước trong khối bằng đồng nội tệ, mà về lý thuyết sẽ giúp Hà Nội giảm chi phí trong việc chuyển đổi sang đồng đô la, triển vọng này chưa hẳn đã có lợi. Trong khi mục tiêu của Nga và các nước thành viên BRICS là tiến đến phi đô la hoá thông qua tăng cường giao dịch bằng đồng nội tệ, các giao dịch trong khối BRICS thời gian qua phần lớn lại đang phục vụ cho mục tiêu quốc tế hoá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, khiến tiền tệ của các thành viên khác trở nên lu mờ. Sau hơn hai năm Moscow và Bắc Kinh tăng cường giao dịch bằng đồng nội tệ, đồng nhân dân tệ đã thay thế đô la Mỹ trở thành đồng ngoại tệ chính ở Nga kể từ tháng 6 năm ngoái và chiếm hơn 50% giao dịch trên sàn chứng khoán Nga. Các giao dịch dầu khí giữa Nga và Ấn Độ từ năm 2023 đã bắt đầu thực hiện bằng đồng nhân dân tệ thay vì đồng ruble hay ruppee. Tháng 10 năm ngoái, Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng thừa nhận rằng nước này không chỉ sử dụng đồng nhân dân tệ trong thanh toán với Trung Quốc mà còn với các quốc gia thứ ba, chủ yếu là vì tính thanh khoản cao hơn của đồng nhân dân tệ so với các đồng tiền khác trong khối. Đó là chưa kể, mỗi thành viên BRICS ngày càng gắn bó với Trung Quốc về thương mại, nhưng giữa các thành viên còn lại có rất ít gắn kết với nhau.

Trong trường hợp Việt Nam trở thành thành viên của khối BRICS và cùng tham gia vào hoạt động thanh toán bằng nhân dân tệ thay cho đồng đô la, điều này có thể dẫn đến một số rủi ro về kinh tế cho Hà Nội. Thứ nhất, Bắc Kinh có thể điều chỉnh tỷ giá để phục vụ lợi ích kinh tế của mình và gây bất lợi cho Việt Nam trong các giao dịch. Thứ hai, việc gia tăng sử dụng đồng nhân dân tệ trong thương mại sẽ mở rộng lượng dự trữ đồng tiền này trong ngân khố quốc gia và làm tăng sự phụ thuộc kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc.

Một bất cập khác khi Việt Nam tham gia BRICS với tư cách thành viên, nhưng không phải là thành viên sáng lập, là Hà Nội sẽ không có tư cách bình đẳng với năm thành viên sáng lập trong một số nội dung biểu quyết, đặc biệt là trong hoạt động của NDB. Cụ thể, quyền biểu quyết của các thành viên sáng lập NDB được quy định chiếm gần 55% trong hoạt động của ngân hàng này, trong khi thành viên không phải sáng lập chỉ chiếm 7%. Cùng với đó, nếu vươn lên trở thành nước phát triển trong hai thập kỷ tới, Việt Nam sẽ không còn nhận được khoản vay nào từ NDB. Do đó, khi là thành viên của BRICS, Việt Nam không những không có ảnh hưởng bình đẳng như trong ASEAN hay tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, mà còn thiếu đi quyền lợi tài chính bền vững trong dài hạn.

Rủi ro phải “chọn bên” trong chính khối BRICS

Khối BRICS hiện tại đứng trước sự phân hoá sâu sắc trong lập trường kinh tế của các quốc gia thành viên. Đơn cử, về việc thúc đẩy xu hướng phi đô la hoá, trong khi Nga và Trung Quốc là những tác nhân tích cực, thì Nam Phi lại có phần lưỡng lự hơn và chỉ muốn giảm sự phụ thuộc vào đồng đô la thay vì “phi đô la hoá hoàn toàn”, trong bối cảnh Cape Town cần sự hỗ trợ từ IMF để gồng gánh ngân sách bị thâm hụt bởi các vụ bê bối tham nhũng. Trước tham vọng dài hạn về việc thiết lập một đồng tiền chung của BRICS, sự chênh lệch đáng kể giữa các thành viên về mức độ phát triển, cấu trúc kinh tế, khung chính sách tài khoá, khả năng kiểm soát lạm phát và mức nợ nước ngoài khiến kế hoạch do Moscow khởi xướng càng trở nên kém khả thi.

Không chỉ thiếu thống nhất trong các vấn đề chung, quan hệ song phương của các thành viên trong BRICS cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn. Ai Cập và Ethiopia chưa gác lại tranh chấp liên quan đến quản lý nguồn nước sông Nile. Các cuộc giao tranh biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn âm ỉ. Khi các thành viên không cùng nhìn về một hướng, sẽ rất khó để khối BRICS đạt được những đồng thuận chung - điều kiện tiên quyết để phát triển những hợp tác sâu rộng hơn trong khối. Ngược lại, sẽ rất dễ xảy ra khả năng hình thành các liên kết nhỏ nhằm cạnh tranh ảnh hưởng và lợi ích trong khối này.

Trước viễn cảnh đó, tư cách thành viên BRICS có thể tạo thêm “gánh nặng” cho “ngoại giao cây tre” của Hà Nội – nhất là trong việc dung hoà lập trường giữa các thành viên khác, vốn đã mang những lợi ích chiến lược khác nhau, vì phương châm của Hà Nội vẫn xoay quanh nỗ lực “là bạn của tất cả”. Trái lại, lựa chọn “tham gia có chừng mực” với BRICS trên cương vị đối tác giúp Việt Nam tiếp tục củng cố đường lối ngoại giao đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, và cũng nhằm tận dụng các cơ hội kinh tế mà vai trò đối tác của BRICS mang lại.

***

Tựu trung, quyết định dừng lại ở tư cách đối tác BRICS phản ánh lập trường thận trọng và đã được tính toán kỹ lưỡng của Việt Nam. Trước thế trận đối đầu Đông - Tây mà Nga và Trung Quốc đang thiết lập trong BRICS, lựa chọn này giúp Hà Nội tiếp tục giữ vững vị thế trung lập để mở rộng hợp tác với các đối tác phương Tây mà không phải chịu những ràng buộc có thể có nếu trở thành thành viên của khối. Là một đối tác của BRICS thay vì thành viên đầy đủ, Việt Nam vẫn được tạo điều kiện để tăng cường tiếp cận thị trường lớn nhất hành tinh mà không phải đánh đổi chi phí cơ hội quá lớn về cả kinh tế lẫn chính trị.

Ngày 13/6, Bộ Ngoại giao Brazil thông báo Việt Nam đã chính thức trở thành quốc gia đối tác thứ 10 của nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS (gồm các thành viên ban đầu là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi). Tương tự như vị trí “quan sát viên”, đối tác BRICS (BRICS partnership) là một cơ chế hợp tác mở rộng của nhóm các nền kinh tế mới nổi, chính thức ra đời vào tháng 10/2024 tại Hội Nghị Thượng đỉnh Kazan (Nga), nhằm thu hút thêm nhiều quốc gia gắn kết với nhóm này mà không trao cho họ tư cách thành viên đầy đủ (BRICS membership). 

Khi trở thành đối tác của BRICS, Việt Nam có thể tham gia các phiên họp đặc biệt của hội nghị thượng đỉnh hay các cuộc họp của bộ trưởng ngoại giao, cũng như các sự kiện cấp cao khác, qua đó đóng góp vào các tài liệu chính thức và tuyên bố chính sách của khối này. Tuy nhiên, quốc gia đối tác của BRICS sẽ không có quyền biểu quyết trong các vấn đề chung của khối.

Trong ASEAN, chỉ mới có Indonesia tham gia BRICS với tư cách thành viên chính thức, trong khi trước Việt Nam, Thái Lan và Malaysia cũng đã tham gia với tư cách đối tác của khối vào đầu năm nay. Vậy tại sao sau gần hai năm cân nhắc, Hà Nội chỉ quyết định tham gia BRICS với tư cách đối tác (partner) thay vì thành viên (member)?

Một bên kiên trì trung lập, một bên phát triển theo hướng chống phương Tây

Trước đây, dù chưa trực tiếp tuyên bố sẽ tham gia BRICS trong vai trò nào, Hà Nội đã nhiều lần thận trọng cho biết đang theo dõi tiến trình thảo luận về việc mở rộng thành viên của BRICS, bắt đầu từ khoảng giữa năm 2023 cho đến năm 2024. Cho đến khi có tuyên bố chính thức về việc thiết lập tư cách đối tác với BRICS vào tuần qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng thông báo việc Hà Nội trở thành đối tác của BRICS có ý nghĩa tương tự với việc “tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương như Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7) mở rộng, Nhóm các nền kinh tế lớn (G20) mở rộng, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)...”.

Phát biểu trên có thể được hiểu là, tư cách đối tác (thay vì thành viên) của khối BRICS là một sự tiếp nối của “chính sách ngoại giao đa hướng” (multidirectional foreign policy) của Việt Nam trong hơn ba thập kỷ qua kể từ “Đổi Mới” (năm 1986). Quyết định tham gia BRICS ở vai trò đối tác của Hà Nội được cân nhắc trong bối cảnh BRICS, một khối đa phương tập hợp 10 nền kinh tế mới nổi của Nam Bán cầu, không chỉ đơn thuần là một liên kết kinh tế mà đang ngày càng có khuynh hướng chính trị hoá với định hướng chống phương Tây mạnh mẽ.

Sau khi chiến tranh Nga-Ukraine xảy ra và Nga bị loại khỏi hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT, Moscow đã dẫn dắt khối BRICS tiến thêm những bước dài trong việc phá vỡ thế độc tôn của các hệ thống tài chính tiền tệ do phương Tây thống lĩnh. Trong nhiệm kỳ Chủ tịch BRICS vào năm ngoái, Moscow đã tích cực thúc đẩy các nước BRICS cùng hợp tác về hệ thống thanh toán chung bằng đồng nội tệ (phi đô la), với nhiệm vụ cụ thể là tăng cường vai trò của BRICS trong hệ thống tài chính và tiền tệ quốc tế. Nếu trong giai đoạn 2014-2025, hai công cụ tài chính quan trọng nhất của BRICS là Ngân hàng Phát triển Mới (NDB) và Thỏa thuận Dự trữ Dự phòng (CRA) lần lượt ra đời với tham vọng thay thế chức năng của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), thì trong năm 2024, Nga đã công bố thêm các sáng kiến mới bao gồm hệ thống thanh toán điện tử BRICS Pay, nền tảng thanh toán xuyên biên giới BRICS Bridge và sàn giao dịch ngũ cốc BRICS, tất cả đều nhằm thách thức sự thống trị của đồng đô la và góp phần tạo ra một cơ sở hạ tầng kinh tế - tài chính độc lập, qua đó loại trừ ảnh hưởng của Mỹ và phương Tây.

Đầu năm nay, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đe doạ sẽ áp thuế 100% lên quốc gia thành viên BRICS nào có ý định thúc đẩy xu hướng phi đô la hoá trong các giao dịch thanh toán của họ. Với bản chất ngày càng đối trọng với phương Tây của BRICS, việc liên kết chặt chẽ với khối này thông qua tư cách thành viên có thể ảnh hưởng đến vị thế trung lập của Việt Nam trong các hoạt động đối ngoại, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm như hiện nay, khi Hà Nội còn đang trong quá trình đàm phán thuế quan với Washington. Sau vòng đàm phán thuế quan thứ ba giữa phái đoàn Việt Nam và chính quyền Trump, kết thúc hôm 12/6, Bộ Công thương Việt Nam cho biết “đã có những tiến bộ đáng kể đạt được và khoảng cách đang được thu hẹp trong tất cả các lĩnh vực đàm phán”, song vẫn còn các vấn đề quan trọng chưa được giải quyết. Việc trở thành thành viên của BRICS ở thời điểm này có thể khiến nỗ lực đàm phán của Việt Nam với Mỹ trong suốt hai tháng qua “đổ sông đổ biển”. Ngược lại, tư cách đối tác, với quyền biểu quyết và ra quyết định hạn chế trong BRICS, là một lựa chọn an toàn hơn cho Việt Nam.

Giữa có và không là thành viên BRICS, lợi ích của Việt Nam không thay đổi đáng kể

Các nước BRICS chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới với GDP về sức mua tương đương (PPP) đã vượt qua khối G7 vào đầu năm 2023. Theo sau việc gia tăng số lượng thành viên, BRICS dự kiến sẽ đóng góp hơn 50% GDP toàn cầu vào năm 2030. Việc trở thành đối tác thứ 10 của BRICS (các quốc gia đối tác khác của BRICS bao gồm Belarus, Bolivia, Kazakhstan, Cuba, Malaysia, Thái Lan, Uganda, Uzbekistan và Nigeria) không chỉ có ý nghĩa về mặt ngoại giao, mà còn mở rộng quyền tiếp cận của Việt Nam vào thị trường rộng lớn của BRICS. Nếu tiến thêm bước nữa để trở thành thành viên đầy đủ của BRICS, lợi ích bổ sung là Hà Nội sẽ được hưởng lợi từ những hoạt động thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế sâu hơn với các thành viên BRICS khác, chẳng hạn như các hiệp định thương mại ưu đãi hoặc các dự án cơ sở hạ tầng chung.

Tuy nhiên, trên thực tế, Việt Nam đã có hiệp định thương mại tự do (FTA) với hầu hết các nền kinh tế chủ chốt trong BRICS, gồm Trung Quốc (thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc - ACFTA, và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực - RCEP), Nga (thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu - VN-EAEU FTA), Ấn Độ (thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Ấn Độ - AIFTA), UAE (thông qua Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện - CEPA giữa Việt Nam và UAE), và Indonesia (thông qua Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN). Do đó, với Hà Nội, tư cách thành viên đầy đủ của BRICS trở thành một lựa chọn không còn mấy hấp dẫn. 

Bên cạnh đó, mặc dù tư cách thành viên đầy đủ của BRICS có thể cho phép Việt Nam mở rộng các giao dịch mua bán với các nước trong khối bằng đồng nội tệ, mà về lý thuyết sẽ giúp Hà Nội giảm chi phí trong việc chuyển đổi sang đồng đô la, triển vọng này chưa hẳn đã có lợi. Trong khi mục tiêu của Nga và các nước thành viên BRICS là tiến đến phi đô la hoá thông qua tăng cường giao dịch bằng đồng nội tệ, các giao dịch trong khối BRICS thời gian qua phần lớn lại đang phục vụ cho mục tiêu quốc tế hoá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, khiến tiền tệ của các thành viên khác trở nên lu mờ. Sau hơn hai năm Moscow và Bắc Kinh tăng cường giao dịch bằng đồng nội tệ, đồng nhân dân tệ đã thay thế đô la Mỹ trở thành đồng ngoại tệ chính ở Nga kể từ tháng 6 năm ngoái và chiếm hơn 50% giao dịch trên sàn chứng khoán Nga. Các giao dịch dầu khí giữa Nga và Ấn Độ từ năm 2023 đã bắt đầu thực hiện bằng đồng nhân dân tệ thay vì đồng ruble hay ruppee. Tháng 10 năm ngoái, Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng thừa nhận rằng nước này không chỉ sử dụng đồng nhân dân tệ trong thanh toán với Trung Quốc mà còn với các quốc gia thứ ba, chủ yếu là vì tính thanh khoản cao hơn của đồng nhân dân tệ so với các đồng tiền khác trong khối. Đó là chưa kể, mỗi thành viên BRICS ngày càng gắn bó với Trung Quốc về thương mại, nhưng giữa các thành viên còn lại có rất ít gắn kết với nhau.

Trong trường hợp Việt Nam trở thành thành viên của khối BRICS và cùng tham gia vào hoạt động thanh toán bằng nhân dân tệ thay cho đồng đô la, điều này có thể dẫn đến một số rủi ro về kinh tế cho Hà Nội. Thứ nhất, Bắc Kinh có thể điều chỉnh tỷ giá để phục vụ lợi ích kinh tế của mình và gây bất lợi cho Việt Nam trong các giao dịch. Thứ hai, việc gia tăng sử dụng đồng nhân dân tệ trong thương mại sẽ mở rộng lượng dự trữ đồng tiền này trong ngân khố quốc gia và làm tăng sự phụ thuộc kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc.

Một bất cập khác khi Việt Nam tham gia BRICS với tư cách thành viên, nhưng không phải là thành viên sáng lập, là Hà Nội sẽ không có tư cách bình đẳng với năm thành viên sáng lập trong một số nội dung biểu quyết, đặc biệt là trong hoạt động của NDB. Cụ thể, quyền biểu quyết của các thành viên sáng lập NDB được quy định chiếm gần 55% trong hoạt động của ngân hàng này, trong khi thành viên không phải sáng lập chỉ chiếm 7%. Cùng với đó, nếu vươn lên trở thành nước phát triển trong hai thập kỷ tới, Việt Nam sẽ không còn nhận được khoản vay nào từ NDB. Do đó, khi là thành viên của BRICS, Việt Nam không những không có ảnh hưởng bình đẳng như trong ASEAN hay tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, mà còn thiếu đi quyền lợi tài chính bền vững trong dài hạn.

Rủi ro phải “chọn bên” trong chính khối BRICS

Khối BRICS hiện tại đứng trước sự phân hoá sâu sắc trong lập trường kinh tế của các quốc gia thành viên. Đơn cử, về việc thúc đẩy xu hướng phi đô la hoá, trong khi Nga và Trung Quốc là những tác nhân tích cực, thì Nam Phi lại có phần lưỡng lự hơn và chỉ muốn giảm sự phụ thuộc vào đồng đô la thay vì “phi đô la hoá hoàn toàn”, trong bối cảnh Cape Town cần sự hỗ trợ từ IMF để gồng gánh ngân sách bị thâm hụt bởi các vụ bê bối tham nhũng. Trước tham vọng dài hạn về việc thiết lập một đồng tiền chung của BRICS, sự chênh lệch đáng kể giữa các thành viên về mức độ phát triển, cấu trúc kinh tế, khung chính sách tài khoá, khả năng kiểm soát lạm phát và mức nợ nước ngoài khiến kế hoạch do Moscow khởi xướng càng trở nên kém khả thi.

Không chỉ thiếu thống nhất trong các vấn đề chung, quan hệ song phương của các thành viên trong BRICS cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn. Ai Cập và Ethiopia chưa gác lại tranh chấp liên quan đến quản lý nguồn nước sông Nile. Các cuộc giao tranh biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn âm ỉ. Khi các thành viên không cùng nhìn về một hướng, sẽ rất khó để khối BRICS đạt được những đồng thuận chung - điều kiện tiên quyết để phát triển những hợp tác sâu rộng hơn trong khối. Ngược lại, sẽ rất dễ xảy ra khả năng hình thành các liên kết nhỏ nhằm cạnh tranh ảnh hưởng và lợi ích trong khối này.

Trước viễn cảnh đó, tư cách thành viên BRICS có thể tạo thêm “gánh nặng” cho “ngoại giao cây tre” của Hà Nội – nhất là trong việc dung hoà lập trường giữa các thành viên khác, vốn đã mang những lợi ích chiến lược khác nhau, vì phương châm của Hà Nội vẫn xoay quanh nỗ lực “là bạn của tất cả”. Trái lại, lựa chọn “tham gia có chừng mực” với BRICS trên cương vị đối tác giúp Việt Nam tiếp tục củng cố đường lối ngoại giao đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, và cũng nhằm tận dụng các cơ hội kinh tế mà vai trò đối tác của BRICS mang lại.

***

Tựu trung, quyết định dừng lại ở tư cách đối tác BRICS phản ánh lập trường thận trọng và đã được tính toán kỹ lưỡng của Việt Nam. Trước thế trận đối đầu Đông - Tây mà Nga và Trung Quốc đang thiết lập trong BRICS, lựa chọn này giúp Hà Nội tiếp tục giữ vững vị thế trung lập để mở rộng hợp tác với các đối tác phương Tây mà không phải chịu những ràng buộc có thể có nếu trở thành thành viên của khối. Là một đối tác của BRICS thay vì thành viên đầy đủ, Việt Nam vẫn được tạo điều kiện để tăng cường tiếp cận thị trường lớn nhất hành tinh mà không phải đánh đổi chi phí cơ hội quá lớn về cả kinh tế lẫn chính trị.

Từ khoá: BRICS Việt Nam đối tác của BRICS Nam Bán cầu phi đô la hoá

BÀI LIÊN QUAN