Điểm sách
14 PHÚT ĐỌC

Cái chết và âm nhạc thời diệt chủng Khmer Đỏ

“Hãy đánh đàn với tất cả tấm lòng độ lượng mà cha mẹ đã dạy con. Hãy đánh đàn với tất cả lòng nhân từ mà người khác đã đối xử với con”

Huỳnh Tâm Sáng 19/06/2026
Image
Điểm sách “Âm nhạc xuyên màn đêm” (Music Through the Dark) của Bree Lafreniere và Daran Kravanh (NXB Văn học, Đỗ Linh dịch, 2007) - (C) : DC-Cam/YoungPioneerTours

Cuốn “Âm nhạc xuyên màn đêm” (Music Through the Dark) của Bree Lafreniere và Daran Kravanh (NXB Văn học, Đỗ Linh dịch, 2007) đưa người đọc trở về với đất nước Campuchia trong chiều sâu lịch sử và kiến trúc mang nhiều ý nghĩa tâm linh. Các tác giả kể về những con người nương tựa vào Phật giáo, đặt trọn niềm tin nơi các linh hồn (gọi là “Neak Ta”), tìm bóng mát trong các câu chuyện cổ, và tin vào sứ mệnh uốn nắn con cái của thầy cô giáo.

Là nạn nhân của chế độ Pol Pot, Daran Kravanh cũng kể về những năm tháng anh đã trải qua và bi kịch từ chính những người Campuchia anh em. Từ một dân tộc yêu âm nhạc, điệu múa, tiếng cười và các câu chuyện cổ, Campuchia dưới sự tàn sát của chế độ Khmer Đỏ đã biến thành một vùng đất lạnh lẽo, nơi máu và nước mắt quyện vào nhau để làm nên một trang sử bi thương của một dân tộc hiền hoà.

Huynh đệ tương tàn

Với người dân Campuchia, thời kỳ đen tối xuất hiện cùng sự vĩ cuồng và bệnh hoạn của giới lãnh đạo Khmer Đỏ, đứng đầu là Saloth Sar (hay Pol Pot). Những kẻ hoang tưởng vào quyền lực tin rằng một xã hội tốt đẹp phải có nguồn gốc từ Campuchia, với nền tảng nông nghiệp tự cung tự cấp, và những yếu tố nước ngoài phải bị loại bỏ hoàn toàn. Khác biệt về giai cấp, tin yêu Phật giáo, sở hữu cá nhân, và tôn thờ lý tưởng là xa lạ và đồi bại, những kẻ máu lạnh trong những bộ đồ đen biểu tượng cho nông dân tin như vậy.

Pol Pot truyền bá tư tưởng của mình qua việc gieo rắc nỗi sợ, thiết lập các mạng lưới gián điệp với cả phụ nữ và trẻ em, và rèn luyện bằng giết chóc thay cho sách vở. Việc tước đoạt mạng sống của cha mẹ và người thân vì mệnh lệnh là điều không cần phải bàn cãi.

Xã hội tàn nhẫn ấy không có đối thoại, chỉ có tuân phục, hoặc là chết. Những người lính Khmer Đỏ được dạy phải tin vào “Angkar”, thay vì cha mẹ và thầy cô. Lính Khmer Đỏ như những trái dứa, với hàng nghìn con mắt, luôn theo dõi để rồi sẽ trừng phạt bất kỳ ai mà chúng cho rằng vi phạm lệnh cấm. Khi đó, bọn lính sẽ đưa người vào rừng để giết, thường vào giữa đêm hay rạng sáng. Những kẻ sát nhân với đôi mắt đỏ lòm và bàn tay vấy máu ấy tin rằng, khi một con người biến mất thì suy nghĩ của người ấy cũng chết đi.

Nhưng hỡi ôi, chúng mang dòng máu Campuchia, được nuôi dạy bởi người Campuchia, uống nước của người Campuchia, và ăn trái cây cũng của người Campuchia.

Và bạn - rất có thể như tôi - từng tự hỏi tại sao ý chí phản kháng của người dân Campuchia quá yếu ớt, để rồi dân tộc này phải trải qua một thời kỳ đen tối và bi thảm đến vậy. Daran - người may mắn sống sót qua sự giáo huấn khắc nghiệt và chiến dịch tàn sát của Khmer Đỏ - nói với người đọc về những chia rẽ trong xã hội Campuchia, đất nước Phật giáo có niềm tin vào công lý và tự do hoàn toàn khác với quan niệm của phương Tây. Hãy lắng nghe tiếng nói của người trong cuộc. Trong xã hội Campuchia, “sự bình đẳng đối lập với khái niệm truyền thống dạy chúng tôi phải biết chấp nhận số phận” (tr. 62), và những tranh luận đã chia rẽ người dân đến mức “gặm nhấm cuộc sống” của họ (tr. 63).

Nghiêm trọng hơn, sự lệ thuộc vào nhà vua cùng truyền thống vương quyền đã triệt tiêu ý chí phản kháng và ý thức công bằng lẫn khát vọng tự do của người dân Campuchia. Trong tâm trí họ, việc bị trừng phạt vì hành động sai là không có gì khó hiểu. Thế nên, “không ai phản đối vì sự thiếu vắng nhân quyền” (tr. 140). Thay vì đòi hỏi tự do, người dân xin thức ăn và sự tha thứ - những điều quyết định sự sống của họ.

Trong xã hội Khmer Đỏ, “Angkar” – một thế lực tương tự “chính phủ” – nắm giữ quyền lực tối cao. Angkar giáo dục người dân Campuchia rằng, mọi của cải làm ra phải để dành cho Angkar, lòng trung thành cũng chỉ hướng đến Angkar. Angkar còn là điều lớn lao hơn: “(…) là hiến dâng bản thân mình cho một cái gì đó trừu tượng, xa lạ, không có hình hài, nhưng nhìn thấy tất cả. Tình yêu dành cho Angkar phải thay thế tình yêu và sự hiến dâng dành cho cha mẹ, tôn giáo và lý tưởng” (tr. 119).

Nhưng Angkar thật sự là ai? Angkar là “Anh Cả” (Big Brother) như trong tiểu thuyết 1984 của George Orwell. Không ai biết Anh Cả là ai, nhưng nơi đâu cũng có Anh Cả, Anh Cả quyền lực nhất. Với Anh Cả, hay với Angkar, ta có nghĩa vụ phải tôn thờ và tuân phục.

Còn giáo dục? – “Đi học có nghĩa là ngồi trên mặt đất nghe những nội quy của xã hội Khmer Đỏ” (tr. 117). Và trí thức là kẻ thù của Khmer Đỏ. Trong xã hội cằn cỗi tình người và cái chết chờ đón bất cứ người dân tội nghiệp nào, cái cuốc là cơm ăn, con chữ mời gọi cái chết, và chấp nhận văn hoá phương Tây là chống chính quyền. Người dân Campuchia được dạy rằng: “Các bạn và tất cả những người dân nước ta phải liên tục được chỉ dẫn và giáo dục về sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa. Các bạn phải bỏ đi những suy nghĩ về sở hữu cá nhân” (tr. 120).

Nương tựa vào âm nhạc

Nhưng cái chết vẫn ươm mầm sự sống. Tiếng phong cầm và khát khao mãnh liệt được chơi đàn đã nhiều lần cứu sống Daran. Tiếng đàn không giúp anh thoát khỏi giam cầm, sự sợ hãi cái chết, cùng nỗi đau mất người thân, nhưng cho anh hy vọng – dù mơ hồ. Khi hát lên một bài hát, khi đặt tay lên một phím đàn là lúc người ta nhớ về quá khứ, xóm làng, người thân, truyền thống và sự hy sinh. Chúng sống dậy như những cánh chim chao nghiêng trên bầu trời tự do. Nhờ âm nhạc mà người ta sống tiếp, nhờ âm nhạc mà người ta hy vọng, nhờ âm nhạc mà người ta cảm thông và chia sẻ. Khi đánh đàn, người nghệ sĩ phải “xé toang lồng ngực”, đánh đàn đúng là vậy: “phơi bày trái tim và tâm hồn mình trước tất cả mọi người” (tr. 161).

Nương tựa vào âm nhạc là nương tựa vào quá khứ và cả tương lai.

Khi đánh đàn, Daran vật lộn để đối thoại với quá khứ và tương lai, nơi anh được sống đúng nghĩa: với khát khao, đau khổ, dằn vặt và cả những niềm tin không thể lý giải. Trong âm nhạc của Daran, không có mệnh lệnh, ý thức hệ, và giáo điều. Âm nhạc chỉ chuyên chở tình yêu. Khi sống với âm nhạc, những người Campuchia như Daran “nhớ đến bề dày lịch sử của dân tộc mình, sự hy sinh của cha mẹ chúng tôi, khát vọng yêu thương của chúng tôi và những nét tương đồng trong số phận con người chúng tôi” (tr. 145).

Khi đánh đàn, Daran làm sống lại linh hồn những nạn nhân của Khmer Đỏ, gồm cả những thành viên trong gia đình anh, cùng “tất cả những nhạc sĩ và nghệ sĩ đã bị Khmer Đỏ giết chết, cứ như thể họ cùng tôi biểu diễn và cùng với nhau, chúng tôi tạo nên một sức mạnh dường như có thể xuyên qua cả đá” (tr. 207).

Khi đánh đàn, Daran căm giận bọn lính Khmer Đỏ, vì chúng đã chôn thân thể cha anh dưới đất, trừ cái đầu đầy máu; vì chúng đã hãm hiếp rồi bắn chết mẹ anh; và vì chúng đã quăng đứa em sáu tuổi của anh vào đá nhọn cho đến khi trái tim nó ngừng đập. Nỗi uất hận trong bài ca và tiếng đàn hun đúc nơi Daran sự căm thù và đòi hỏi lẽ phải.

Người ta phải yêu thương, nhưng ý nghĩa hơn cả, người ta phải tức giận – thì khi đó, người ta mới thức tỉnh và trưởng thành. Một trái tim chai sạn, lệ thuộc, hay tuân phục không thể yêu lời ca, tiếng đàn, cũng không thể đau cái đau của dân tộc mình.

Âm nhạc mang Daran từ cái chết và bóng tối trở về với sự sống và ánh sáng. Tiếng đàn phong cầm nhắc nhớ anh về những người anh đã yêu và những người đã yêu anh. Giờ đây, chiếc đàn phong cầm “sống với linh hồn đã theo [Daran] trong nhiều năm tháng khó khăn nữa của cuộc đời” (tr. 222). Và lỗ thủng trên cây đàn chính là mảng ký ức đau xót nơi tâm hồn Daran. Tôi tin, khi kể về cuộc đời mình, Daran đã được xoa dịu phần nào.

Sự sống vẫn tiếp diễn

Thời đại của Khmer Đỏ là thời đại của nô dịch, cái chết, và sự sợ hãi. Bủa vây bởi bóng tối ảm đạm – báo hiệu cái chết có thể đến với bất cứ ai bị kết tội là hành xử trái lệnh của Angkar, tiếng đàn phong cầm và khát vọng sống của Daran vượt lên như một mệnh lệnh: người ta phải sống thì mới có thể hy vọng, hay có lẽ cũng không sai nếu nói rằng, người ta phải hy vọng thì mới có thể sống.

Một lịch sử đè nén tư tưởng và giam cầm thân xác người dân Campuchia đã khép lại. Vượt lên mất mát và thù hận, lịch sử nhắc nhở rằng ý thức hệ sai lầm và niềm tin dị dạng có thể thiêu đốt những cánh rừng, kéo sập những đền đài, và vùi lấp nhân tính. May thay, ta còn tiếng đàn và lương tri - nhờ đó, sự sống vẫn tiếp diễn, để rồi, người chết và người sống có thể ngủ ngon.

Bạn có hài lòng về bài viết? Đóng góp cho VSF tại đây. Mọi đóng góp tài chính từ quý độc giả đều là nguồn động lực to lớn để chúng tôi tiếp tục xuất bản những nội dung chất lượng cho cộng đồng

Cuốn “Âm nhạc xuyên màn đêm” (Music Through the Dark) của Bree Lafreniere và Daran Kravanh (NXB Văn học, Đỗ Linh dịch, 2007) đưa người đọc trở về với đất nước Campuchia trong chiều sâu lịch sử và kiến trúc mang nhiều ý nghĩa tâm linh. Các tác giả kể về những con người nương tựa vào Phật giáo, đặt trọn niềm tin nơi các linh hồn (gọi là “Neak Ta”), tìm bóng mát trong các câu chuyện cổ, và tin vào sứ mệnh uốn nắn con cái của thầy cô giáo.

Là nạn nhân của chế độ Pol Pot, Daran Kravanh cũng kể về những năm tháng anh đã trải qua và bi kịch từ chính những người Campuchia anh em. Từ một dân tộc yêu âm nhạc, điệu múa, tiếng cười và các câu chuyện cổ, Campuchia dưới sự tàn sát của chế độ Khmer Đỏ đã biến thành một vùng đất lạnh lẽo, nơi máu và nước mắt quyện vào nhau để làm nên một trang sử bi thương của một dân tộc hiền hoà.

Huynh đệ tương tàn

Với người dân Campuchia, thời kỳ đen tối xuất hiện cùng sự vĩ cuồng và bệnh hoạn của giới lãnh đạo Khmer Đỏ, đứng đầu là Saloth Sar (hay Pol Pot). Những kẻ hoang tưởng vào quyền lực tin rằng một xã hội tốt đẹp phải có nguồn gốc từ Campuchia, với nền tảng nông nghiệp tự cung tự cấp, và những yếu tố nước ngoài phải bị loại bỏ hoàn toàn. Khác biệt về giai cấp, tin yêu Phật giáo, sở hữu cá nhân, và tôn thờ lý tưởng là xa lạ và đồi bại, những kẻ máu lạnh trong những bộ đồ đen biểu tượng cho nông dân tin như vậy.

Pol Pot truyền bá tư tưởng của mình qua việc gieo rắc nỗi sợ, thiết lập các mạng lưới gián điệp với cả phụ nữ và trẻ em, và rèn luyện bằng giết chóc thay cho sách vở. Việc tước đoạt mạng sống của cha mẹ và người thân vì mệnh lệnh là điều không cần phải bàn cãi.

Xã hội tàn nhẫn ấy không có đối thoại, chỉ có tuân phục, hoặc là chết. Những người lính Khmer Đỏ được dạy phải tin vào “Angkar”, thay vì cha mẹ và thầy cô. Lính Khmer Đỏ như những trái dứa, với hàng nghìn con mắt, luôn theo dõi để rồi sẽ trừng phạt bất kỳ ai mà chúng cho rằng vi phạm lệnh cấm. Khi đó, bọn lính sẽ đưa người vào rừng để giết, thường vào giữa đêm hay rạng sáng. Những kẻ sát nhân với đôi mắt đỏ lòm và bàn tay vấy máu ấy tin rằng, khi một con người biến mất thì suy nghĩ của người ấy cũng chết đi.

Nhưng hỡi ôi, chúng mang dòng máu Campuchia, được nuôi dạy bởi người Campuchia, uống nước của người Campuchia, và ăn trái cây cũng của người Campuchia.

Và bạn - rất có thể như tôi - từng tự hỏi tại sao ý chí phản kháng của người dân Campuchia quá yếu ớt, để rồi dân tộc này phải trải qua một thời kỳ đen tối và bi thảm đến vậy. Daran - người may mắn sống sót qua sự giáo huấn khắc nghiệt và chiến dịch tàn sát của Khmer Đỏ - nói với người đọc về những chia rẽ trong xã hội Campuchia, đất nước Phật giáo có niềm tin vào công lý và tự do hoàn toàn khác với quan niệm của phương Tây. Hãy lắng nghe tiếng nói của người trong cuộc. Trong xã hội Campuchia, “sự bình đẳng đối lập với khái niệm truyền thống dạy chúng tôi phải biết chấp nhận số phận” (tr. 62), và những tranh luận đã chia rẽ người dân đến mức “gặm nhấm cuộc sống” của họ (tr. 63).

Nghiêm trọng hơn, sự lệ thuộc vào nhà vua cùng truyền thống vương quyền đã triệt tiêu ý chí phản kháng và ý thức công bằng lẫn khát vọng tự do của người dân Campuchia. Trong tâm trí họ, việc bị trừng phạt vì hành động sai là không có gì khó hiểu. Thế nên, “không ai phản đối vì sự thiếu vắng nhân quyền” (tr. 140). Thay vì đòi hỏi tự do, người dân xin thức ăn và sự tha thứ - những điều quyết định sự sống của họ.

Trong xã hội Khmer Đỏ, “Angkar” – một thế lực tương tự “chính phủ” – nắm giữ quyền lực tối cao. Angkar giáo dục người dân Campuchia rằng, mọi của cải làm ra phải để dành cho Angkar, lòng trung thành cũng chỉ hướng đến Angkar. Angkar còn là điều lớn lao hơn: “(…) là hiến dâng bản thân mình cho một cái gì đó trừu tượng, xa lạ, không có hình hài, nhưng nhìn thấy tất cả. Tình yêu dành cho Angkar phải thay thế tình yêu và sự hiến dâng dành cho cha mẹ, tôn giáo và lý tưởng” (tr. 119).

Nhưng Angkar thật sự là ai? Angkar là “Anh Cả” (Big Brother) như trong tiểu thuyết 1984 của George Orwell. Không ai biết Anh Cả là ai, nhưng nơi đâu cũng có Anh Cả, Anh Cả quyền lực nhất. Với Anh Cả, hay với Angkar, ta có nghĩa vụ phải tôn thờ và tuân phục.

Còn giáo dục? – “Đi học có nghĩa là ngồi trên mặt đất nghe những nội quy của xã hội Khmer Đỏ” (tr. 117). Và trí thức là kẻ thù của Khmer Đỏ. Trong xã hội cằn cỗi tình người và cái chết chờ đón bất cứ người dân tội nghiệp nào, cái cuốc là cơm ăn, con chữ mời gọi cái chết, và chấp nhận văn hoá phương Tây là chống chính quyền. Người dân Campuchia được dạy rằng: “Các bạn và tất cả những người dân nước ta phải liên tục được chỉ dẫn và giáo dục về sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa. Các bạn phải bỏ đi những suy nghĩ về sở hữu cá nhân” (tr. 120).

Nương tựa vào âm nhạc

Nhưng cái chết vẫn ươm mầm sự sống. Tiếng phong cầm và khát khao mãnh liệt được chơi đàn đã nhiều lần cứu sống Daran. Tiếng đàn không giúp anh thoát khỏi giam cầm, sự sợ hãi cái chết, cùng nỗi đau mất người thân, nhưng cho anh hy vọng – dù mơ hồ. Khi hát lên một bài hát, khi đặt tay lên một phím đàn là lúc người ta nhớ về quá khứ, xóm làng, người thân, truyền thống và sự hy sinh. Chúng sống dậy như những cánh chim chao nghiêng trên bầu trời tự do. Nhờ âm nhạc mà người ta sống tiếp, nhờ âm nhạc mà người ta hy vọng, nhờ âm nhạc mà người ta cảm thông và chia sẻ. Khi đánh đàn, người nghệ sĩ phải “xé toang lồng ngực”, đánh đàn đúng là vậy: “phơi bày trái tim và tâm hồn mình trước tất cả mọi người” (tr. 161).

Nương tựa vào âm nhạc là nương tựa vào quá khứ và cả tương lai.

Khi đánh đàn, Daran vật lộn để đối thoại với quá khứ và tương lai, nơi anh được sống đúng nghĩa: với khát khao, đau khổ, dằn vặt và cả những niềm tin không thể lý giải. Trong âm nhạc của Daran, không có mệnh lệnh, ý thức hệ, và giáo điều. Âm nhạc chỉ chuyên chở tình yêu. Khi sống với âm nhạc, những người Campuchia như Daran “nhớ đến bề dày lịch sử của dân tộc mình, sự hy sinh của cha mẹ chúng tôi, khát vọng yêu thương của chúng tôi và những nét tương đồng trong số phận con người chúng tôi” (tr. 145).

Khi đánh đàn, Daran làm sống lại linh hồn những nạn nhân của Khmer Đỏ, gồm cả những thành viên trong gia đình anh, cùng “tất cả những nhạc sĩ và nghệ sĩ đã bị Khmer Đỏ giết chết, cứ như thể họ cùng tôi biểu diễn và cùng với nhau, chúng tôi tạo nên một sức mạnh dường như có thể xuyên qua cả đá” (tr. 207).

Khi đánh đàn, Daran căm giận bọn lính Khmer Đỏ, vì chúng đã chôn thân thể cha anh dưới đất, trừ cái đầu đầy máu; vì chúng đã hãm hiếp rồi bắn chết mẹ anh; và vì chúng đã quăng đứa em sáu tuổi của anh vào đá nhọn cho đến khi trái tim nó ngừng đập. Nỗi uất hận trong bài ca và tiếng đàn hun đúc nơi Daran sự căm thù và đòi hỏi lẽ phải.

Người ta phải yêu thương, nhưng ý nghĩa hơn cả, người ta phải tức giận – thì khi đó, người ta mới thức tỉnh và trưởng thành. Một trái tim chai sạn, lệ thuộc, hay tuân phục không thể yêu lời ca, tiếng đàn, cũng không thể đau cái đau của dân tộc mình.

Âm nhạc mang Daran từ cái chết và bóng tối trở về với sự sống và ánh sáng. Tiếng đàn phong cầm nhắc nhớ anh về những người anh đã yêu và những người đã yêu anh. Giờ đây, chiếc đàn phong cầm “sống với linh hồn đã theo [Daran] trong nhiều năm tháng khó khăn nữa của cuộc đời” (tr. 222). Và lỗ thủng trên cây đàn chính là mảng ký ức đau xót nơi tâm hồn Daran. Tôi tin, khi kể về cuộc đời mình, Daran đã được xoa dịu phần nào.

Sự sống vẫn tiếp diễn

Thời đại của Khmer Đỏ là thời đại của nô dịch, cái chết, và sự sợ hãi. Bủa vây bởi bóng tối ảm đạm – báo hiệu cái chết có thể đến với bất cứ ai bị kết tội là hành xử trái lệnh của Angkar, tiếng đàn phong cầm và khát vọng sống của Daran vượt lên như một mệnh lệnh: người ta phải sống thì mới có thể hy vọng, hay có lẽ cũng không sai nếu nói rằng, người ta phải hy vọng thì mới có thể sống.

Một lịch sử đè nén tư tưởng và giam cầm thân xác người dân Campuchia đã khép lại. Vượt lên mất mát và thù hận, lịch sử nhắc nhở rằng ý thức hệ sai lầm và niềm tin dị dạng có thể thiêu đốt những cánh rừng, kéo sập những đền đài, và vùi lấp nhân tính. May thay, ta còn tiếng đàn và lương tri - nhờ đó, sự sống vẫn tiếp diễn, để rồi, người chết và người sống có thể ngủ ngon.

Bạn có hài lòng về bài viết? Đóng góp cho VSF tại đây. Mọi đóng góp tài chính từ quý độc giả đều là nguồn động lực to lớn để chúng tôi tiếp tục xuất bản những nội dung chất lượng cho cộng đồng

Từ khoá: Khmer Đỏ điểm sách âm nhạc diệt chủng Campuchia

BÀI LIÊN QUAN