Chủ nghĩa phong kiến công nghệ: Tư bản đám mây đã trỗi dậy như thế nào?
Chủ nghĩa tư bản đang trên đà sụp đổ để rồi sẽ bị thay thế hoàn toàn bởi chủ nghĩa phong kiến công nghệ. Con người trở thành nông nô, còn nhà tài phiệt đám mây trở thành những lãnh chúa độc quyền kiểm soát các thái ấp số.
Năm 2006 là bước ngoặt lịch sử của ngành công nghệ thông tin khi mạng xã hội, điện toán đám mây và nền tảng số bùng nổ: Twitter xuất hiện; Facebook trở thành mạng xã hội toàn cầu; Apple trình làng chiếc Macbook đầu tiên; còn Amazon chuyển mình từ nhà bán lẻ trực tuyến thành gã khổng lồ công nghệ thông qua việc ra mắt Amazon Web Service. Hai thập kỷ sau, những tập đoàn công nghệ trên không chỉ len lỏi và thay đổi từng khía cạnh cuộc sống thường nhật, mà còn dần định hình lại cấu trúc kinh tế - chính trị toàn cầu. Sự chuyển dịch này tất yếu kéo theo những thay đổi trong lòng chủ nghĩa tư bản cùng các mô hình kinh tế truyền thống. Nhưng đâu là xung lực thúc đẩy sự thay đổi này, nó đang diễn ra dưới hình thái nào, và những hệ quả tiềm tàng của nó là gì?
Yanis Varoufakis, Cựu Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp, đã suy ngẫm và đưa ra câu trả lời trong cuốn sách “Chủ nghĩa phong kiến Công nghệ: Ngày tàn của Chủ nghĩa tư bản” (Technofeudalism: What Killed Capitalism), NXB Kim Đồng, Lộ Đức Anh dịch, 2026. Luận điểm trung tâm đầy khiêu khích của tác giả là: chủ nghĩa tư bản (capitalism) đang dần lụi tàn và bị thay thế bởi chủ nghĩa phong kiến công nghệ (Technofeudalism). Cụ thể, chính những đột biến của tư bản là thứ đầu độc chủ nghĩa tư bản để qua đó dọn đường cho một hình thái kinh tế - chính trị hoàn toàn mới, nơi mà nhà tài phiệt đám mây (cloudalists) trở thành lãnh chúa còn phần còn lại của xã hội, từ người tiêu dùng bình thường đến các doanh nghiệp truyền thống, bị đẩy xuống vị thế chư hầu và nông nô của đế chế số (cloud serfs).
Từ sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản …
Trước khi đi sâu vào việc bóc tách chủ nghĩa phong kiến công nghệ, Varoufakis tập trung giải thích căn nguyên về sự thoái trào của chủ nghĩa tư bản. Cụ thể, ông cho rằng, khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu thập niên 70s và Mỹ rơi vào thế thâm hụt cán cân thương mại, thay vì cắt giảm chi tiêu, quốc gia này đã biến thâm hụt trở thành động cơ vận hành nền kinh tế thế giới thông qua việc tạo ra “Con Nhân ngưu Toàn cầu” (Global Minotaur). Tương tự như cách người Athens xưa cống nạp cho quái vật Minotaur trong mê cung Crete để đổi lấy sự bình yên, các quốc gia khi ấy cùng đồng ý với giao kèo tái đầu tư thặng dư của mình vào Phố Wall để đổi lấy quyền tiếp cận thị trường Mỹ, sự bảo trợ an ninh cũng như một trật tự tài chính toàn cầu tương đối ổn định.
Dòng vốn ồ ạt đổ về không chỉ tạo ra quyền lực kinh tế, mà còn là dòng sữa nuôi sống những kế hoạch điên rồ của các nhà băng. Thay vì cấp vốn đầu tư vào những dự án sản xuất hữu hình, giới tài chính lại chuyển hóa chúng thành những công cụ đầu cơ phức tạp và đầy rủi ro như phái sinh hay việc rao bán các khoản nợ dưới chuẩn. Quá trình này được tiếp tay bởi hai điều. Thứ nhất là ý hệ tân tự do, với niềm tin rằng thị trường phi tập trung có thể tự điều chỉnh. Thứ hai là mạng lưới Internet, nơi mà các khoản nợ được số hóa và được tinh chỉnh thông qua các thuật toán nằm ngoài sự hiểu biết và giám sát của con người. Hệ quả là khi mắt xích nợ dưới chuẩn bị phá vỡ, toàn bộ cấu trúc tài chính cũng theo đó sụp đổ trong cuộc Khủng hoảng Kinh tế năm 2008.
Để cứu lấy hệ thống tài chính, các ngân hàng trung ương đã tung ra các gói cứu trợ, duy trì lãi suất gần như bằng 0 trong nhiều năm cũng như bơm một lượng tiền rẻ khổng lồ vào nền kinh tế, mà chủ yếu là chuyển vào tài khoản của giới tài chính. Thông qua hành động này, họ mong rằng việc in tiền vào thị trường sẽ tạo động lực thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh, nhờ đó tạo ra nhiều việc làm ổn định và ngăn nền kinh tế sụp đổ. Tuy nhiên, trước cơn lũ tiền rẻ từ nhà nước, doanh nghiệp lớn lại chuyển hướng đầu tư vào tư bản đám mây (cloud capital). Đặt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tại sao phải mạo hiểm đầu tư vào các dự án sản xuất dài hơi trong bối cảnh sức mua người tiêu dùng yếu, trong khi khoản tiền khổng lồ này hoàn toàn có thể được sử dụng để phát triển hạ tầng số và các thuật toán với chi phí biên thấp và tỷ suất sinh lời vượt trội? Nắm bắt điều này, giới tài chính dần thực hiện một cuộc đại chuyển hóa trong đối tượng đầu tư, qua đó mở đường cho sự bùng nổ của các không gian kỹ thuật số.
Bước chuyển tiếp theo được đánh dấu khi đại dịch COVID-19 ập đến, khiến toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội phải chuyển lên môi trường trực tuyến. Đây có thể được xem là một cú hích quan trọng thúc đẩy các tập đoàn công nghệ dồn sức xây dựng hạ tầng đám mây dựa trên nguồn lực là dòng tiền rẻ được bơm vào thị trường từ các ngân hàng. Theo Varoufakis, Thời đại Tư bản Đám mây cũng bắt đầu từ đây, khi mà toàn bộ động lực, nguồn lực và không gian sản xuất đều bị xáo trộn. Lợi nhuận không còn là kim chỉ nam, thị trường không còn dựa trên những quy luật kinh tế cổ điển, và quyền lực không còn nằm trong tay tầng lớp tư bản truyền thống.
… đến sự lên ngôi của chủ nghĩa phong kiến công nghệ …
Khi chủ nghĩa tư bản dần suy thoái, chủ nghĩa phong kiến công nghệ dần trở thành trung tâm mới của cấu trúc chính trị - kinh tế thế giới. Vậy đâu là căn nguyên cho sự chuyển dịch này? Varoufakis cho rằng, sự thay đổi nằm ở hai yếu tố cốt lõi: thị trường và lợi nhuận.
Đối với yếu tố đầu tiên, thị trường truyền thống đang dần bị thay thế bởi các “thái ấp đám mây” (cloud fiefs) như Amazon, Alibaba, eBay,... Trong đó, quy luật cung-cầu cùng giá cả không đơn thuần được quyết định bởi người mua và người bán, mà phải tuân theo luật chơi của những sàn giao dịch điện tử, điều vốn bị chi phối bởi tập đoàn công nghệ đứng sau. Thông qua việc kiểm soát và độc quyền những không gian hạ tầng số, người sở hữu tư bản là những “lãnh chúa đám mây” với khả năng hút cạn thặng dư, còn các doanh nghiệp sản xuất truyền thống bị giáng xuống thành “chư hầu đám mây” khi phải tuân theo những điều khoản dịch vụ để được bán hàng trên các nền tảng này. Đáng chú ý nhất, theo Varoufakis, người tiêu dùng trở thành lực lượng “nông nô đám mây” (cloud serfs) khi lao động không công để củng cố toàn bộ hệ thống số. Thông qua việc cung cấp thông tin trong mỗi lần kết nối trực tuyến và thụ hưởng dịch vụ số, chúng ta đã vô tình cung cấp dữ liệu cho các thuật toán. Các thuật toán này sau đó lại “chế biến” các thông tin này để đáp ứng nhu cầu của người dùng tốt hơn để thông qua đó vừa tăng cường sức mạnh của chính nó, vừa ràng buộc dục vọng của người dùng vào mạng lưới đám mây.
Đối với yếu tố thứ hai, tác giả cho rằng, lợi nhuận đang dần bị thay thế bởi “tô đám mây” (cloud rent). Trong nền kinh tế truyền thống, lợi nhuận là yếu tố điều tiết thúc đẩy cạnh tranh về cải tiến máy móc, năng lực nhân công, quy mô chế biến,... để sinh lời nhiều và hiệu quả hơn. Trong khi đó, sự thống trị của các nhà tài phiệt đám mây với nền tảng hạ tầng kỹ thuật số đã giúp họ trục lợi theo hình thức thu tô. Theo đó, tương tự như cách các lãnh chúa cho chư hầu thuê đất để tự do khai thác kinh tế và thu lại một phần lợi tô, các tập đoàn công nghệ cũng cho người dùng sử dụng các thái ấp điện tử trên các nền tảng đám mây, rồi sử dụng thuật toán để kiểm soát và thu một phần tô đối với các nhà sản xuất muốn tiếp cận khách hàng và cả đối với các khách hàng muốn tiếp cận dịch vụ trực tuyến. Được củng cố bởi tiền rẻ do giới ngân hàng bơm vào thị trường nhằm cứu vãn tình hình trên đà suy thoái, các hạ tầng đám mây dần lớn mạnh để rồi không chỉ triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế tư bản truyền thông, mà còn tiếp tay cho giới lãnh chúa đám mây bành trướng quyền lực số. Nói cách khác, sự lên ngôi của tầng lớp địa chủ đám mây cũng đánh dấu sự quay trở lại của logic phong kiến khi quyền lực kinh tế đến từ việc sở hữu “đất đai số” (nền tảng, thuật toán, dữ liệu), chứ không phải từ việc sản xuất và cạnh tranh hiệu quả hơn đối thủ.
Sự cộng hưởng của hai yếu tố trên là cốt lõi của chủ nghĩa phong kiến công nghệ. Điều này đã tạo ra quyền năng của tư bản đám mây như một “xưởng sản xuất dục vọng, một động lực của lao động vô sản (lao động đám mây), một tác nhân kích thích lao động miễn phí (nông nô đám mây) và tạo ra những không gian giao dịch số hoàn toàn tư nhân (thái ấp đám mây)” (tr.140). Cụ thể, nếu chủ nghĩa tư bản truyền thống phụ thuộc vào việc công nhân bán sức lao động cho các nhà máy, thì chủ nghĩa phong kiến công nghệ lại phụ thuộc vào việc các cá nhân liên tục tạo ra dữ liệu trong phạm vi các thái ấp đám mây. Trong các khu vực bị kiểm soát bởi giới tài phiệt này, hoạt động lao động được tiếp diễn dù không được trả lương và vô hình, trong khi các khoản tiền thuê (lợi nhuận độc quyền) chảy ngược lên trên về phía những kẻ sở hữu các nền tảng. Thông qua đó, những nhà tài phiệt đứng đằng sau sở hữu cấu trúc hệ thống được nhà nước rót tiền miễn phí, được sức lao động miễn phí của công dân tái sản xuất, làm tăng cường sự bòn rút giá trị thặng dư từ giới vô sản và đồng thời bòn rút luôn cả giới tư bản truyền thống đang neo đậu vào các nền tảng điện tử.
… và những hệ quả tiềm ẩn
Trên cơ sở của việc mô tả khía cạnh biểu hiện của tư bản đám mây, tác giả tiếp tục đi sâu vào việc giải mã các biến động kinh tế quốc tế và địa chính trị từ góc nhìn của chủ nghĩa phong kiến công nghệ. Đáng chú ý, Varoufakis cho rằng động lực chính yếu của cuộc cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung đến từ sự đối đầu trực diện giữa tầng lớp tài phiệt đám mây của hai cường quốc. Ở bên kia Thái Bình Dương, đối trọng với những Amazon, Apple, Google, Netflix, v.v là một hệ sinh thái đám mây của Baidu, Alibaba, Tencent, Ping An, v.v. do Bắc Kinh dẫn dắt. Khác với tư bản đám mây Mỹ vốn được nắm giữ bởi giới tinh hoa tài phiệt, hệ thống tư bản đám mây của Trung Quốc lại là một mạng lưới đa tầng, được phối hợp công-tư chặt chẽ để kiểm soát từ truyền thông, thương mại điện tử, đầu tư nước ngoài và các dịch vụ tài chính trực tuyến. Sự lớn mạnh của hai siêu thái ấp đám mây đã loan báo trước cho một cuộc đua ngôi vị bá quyền công nghệ toàn cầu, với một bên là chủ nghĩa phong kiến công nghệ Mỹ và một bên là chủ nghĩa phong kiến công nghệ đặc sắc Trung Hoa.
Cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt sau khi Bắc Kinh đẩy mạnh việc xây dựng hạ tầng tài chính điện tử, với cốt lõi là đồng tiền kỹ thuật số (e-CNY) do ngân hàng trung ương phát hành. Đặt trong bối cảnh chiến tranh Nga-Ukraine ngày càng diễn biến phức tạp, việc Washington phong tỏa dự trữ ngoại hối của Moscow làm dấy lên sự quan ngại về nguy cơ Mỹ sẵn sàng “vũ khí hóa” sự kiểm soát tài sản quốc gia và tài sản tư nhân như một công cụ để răn đe. Chính vì vậy, nhiều chủ thể quốc tế đang dần chuyển dịch sang việc sử dụng các dịch vụ hạ tầng số công do Trung Quốc vận hành như một biện pháp thay thế chiến lược. Sự chuyển dịch này đã trực tiếp đe dọa đến đặc quyền thu tô đám mây của Mỹ khi nó triệt tiêu chi phí biên của các ngân hàng trung ương và các bên trung gian. Để đối phó với sự suy giảm quyền lực toàn cầu và sự trỗi dậy của các thế lực công nghệ mới, Mỹ đáp trả bằng các lệnh hạn chế xuất khẩu công nghệ lõi và đánh thuế quan vào các mặt hàng thiết yếu. Từ đây, thương chiến Mỹ-Trung ngày càng leo thang với mặt trận trung tâm là các địa hạt tài chính đám mây của Bắc Kinh và Washington.
Theo Varoufakis, sự trỗi dậy của hai siêu thái ấp đám mây đã dẫn đến một cuộc Chiến tranh Lạnh mới, khiến các quốc gia đứng trước thế lưỡng nan phải chọn bên. Vì vậy, trong dài hạn, thế giới sẽ không quay lại trật tự thị trường tự do toàn cầu hóa như trước năm 2008, mà đã, đang và sẽ phân mảnh thành các “khối đám mây” cạnh tranh nhau. Dẫu vậy, dù ai là người kiểm soát hạ tầng số thì hệ quả tất yếu vẫn sẽ là sự gia tăng bóc lột lao động của giai cấp vô sản, môi trường ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng và việc con người phải cống nạp danh tính của mình cho hệ thống mới này. Không dừng lại ở đó, ở cấp độ vĩ mô, nền dân chủ xã hội cũng đang dần lụi tàn khi những thiết chế của nó như thuế, ngân hàng trung ương, chính sách tiền tệ, v.v đang dần trở nên bị vô hiệu hóa trong một thế giới mà hoạt động kinh tế dần bị chi phối và chuyển dịch sang các thái ấp đám mây tư nhân.
Trước những hệ quả khôn lường ấy, tác giả đề xuất một số ý tưởng, xoay quanh việc dân chủ hóa tiền tệ, các mô hình kinh doanh cũng như các nền tảng đám mây như những giải pháp thay thế cho tư bản đám mây. Trong đó, không khó để người đọc nhận thấy tinh thần cách mạng và lý tưởng giải phóng người lao động khỏi vị thế nông nô đám mây của tác giả - người vốn tự nhận mình là một nhà Marxist tự do (libertarian Marxist). Trong thông điệp gửi gắm sau cùng, Varoufakis cho rằng Internet đã “thủ tiêu chủ nghĩa tư bản” để dọn đường cho sự ra đời của một mô hình kinh tế tồi tệ hơn; tuy nhiên, chính nó cũng đem lại những công cụ để tầng lớp vô sản cùng đoàn kết chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa phong kiến công nghệ.
Những suy ngẫm sau cùng
Cuốn sách, với cốt lõi là ý tưởng về chủ nghĩa phong kiến công nghệ, đã tạo ra nhiều làn sóng tranh cãi. Về mặt ý tưởng, các quan điểm phản đối cho rằng, chủ nghĩa phong kiến công nghệ về thực chất chỉ là một hệ thống tự sự được xây dựng để tái diễn giải xã hội thời kỳ hậu tư bản. Theo đó, chủ nghĩa tư bản không thực sự chết đi, mà chỉ đang thay đổi và tự tái cấu trúc bằng cách tích hợp hạ tầng kỹ thuật số. Các công ty công nghệ hàng đầu vẫn cạnh tranh nhau để thu hút người dùng, tích lũy lợi nhuận và vẫn chịu sự kiểm soát chính sách nhà nước chứ không hề tồn tại như những lãnh địa toàn trị.
Bên cạnh đó, tầm nhìn của tác giả trong việc tái cấu trúc công cụ sản xuất đám mây, thành lập một liên minh xuyên giai cấp để giải phóng khỏi chủ nghĩa phong kiến công nghệ cũng được xem là mơ hồ, thiếu tính thực tiễn về mặt kinh tế - chính trị và nặng tính lý tưởng. Không khó để nhận thấy tác giả chưa từng giải thích về bản chất “chủ nghĩa phong kiến công nghệ” mà chỉ mới chỉ ra những biểu hiện của nó. Đồng thời, dù diễn giải tốt về mặt cơ chế chuyển đổi, song việc thiếu các ví dụ thực tiễn về sự thay đổi của quan hệ sản xuất, cũng như bằng chứng cho thấy chủ nghĩa tư bản đang dần suy vong đã làm giảm đi sức mạnh kiểm chứng lý thuyết của cuốn sách.
Bên cạnh những hạn chế nhất định, cuốn sách vẫn có nhiều điểm sáng nổi bật. Về mặt ý tưởng, tác giả đã trình bày tương đối chặt chẽ về logic nhân quả của chuỗi các sự kiện lịch sử để giải thích cho sự ra đời của tư bản đám mây. Ý tưởng về “thái ấp đám mây”, “tô đám mây”, “nông nô đám mây” và “lao động đám mây” được giới thiệu chi tiết, đầy cuốn hút và mang tính liên kết cao để từ đó phác họa nên một bức tranh toàn cảnh về trật tự kinh tế - chính trị ngày nay. Về mặt lập luận và triển khai, các ý được liên kết chặt chẽ, với điểm đáng chú ý là việc tác giả đã mô hình hóa lại toàn bộ các ý tưởng để xây dựng khung lý thuyết so sánh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa phong kiến công nghệ trong phần phụ lục. Văn phong của tác giả cũng tương đối mạch lạc, khúc chiết và dễ hiểu, dẫu vẫn còn nhiều trường đoạn mang nặng tính kỹ thuật chuyên về kinh tế.
Sau cùng, liệu chủ nghĩa tư bản đã thực sự cáo chung? Liệu chủ nghĩa phong kiến công nghệ có đủ quyền năng để thiết lập một trật tự kinh tế - chính trị mới? Đâu sẽ là những tác động trong dài hạn của tư bản đám mây đến tình hình địa chính trị thế giới? Có lẽ, chỉ thời gian mới có thể kiểm chứng những câu hỏi trên, cũng như chứng thực cho những luận điểm của tác giả. Quan trọng hơn hết, cuốn sách là lời nhắc nhớ rằng, đời sống của con người không chỉ gắn liền với không gian xã hội mặt đất, mà đã mở rộng sang phạm trù không gian số. Tại đây, chúng ta liên tục bị thao túng, bị kiểm soát và bị tái định hình bởi những thiết chế số do các thuật toán đặt ra. Để có thể thay đổi luật chơi, điều tiên quyết là cần phải có nhận thức và hiểu cách thức mà đời sống kinh tế - chính trị đang dần thay đổi - điều mà Yanis Varoufakis đã giải thích tương đối cặn kẽ trong công trình trên 300 trang của mình.
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Cuốn sách yêu thích của bạn là gì?”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Võ Xuân Trí - Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Mối quan tâm của Trí là kinh tế - chính trị và an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Năm 2006 là bước ngoặt lịch sử của ngành công nghệ thông tin khi mạng xã hội, điện toán đám mây và nền tảng số bùng nổ: Twitter xuất hiện; Facebook trở thành mạng xã hội toàn cầu; Apple trình làng chiếc Macbook đầu tiên; còn Amazon chuyển mình từ nhà bán lẻ trực tuyến thành gã khổng lồ công nghệ thông qua việc ra mắt Amazon Web Service. Hai thập kỷ sau, những tập đoàn công nghệ trên không chỉ len lỏi và thay đổi từng khía cạnh cuộc sống thường nhật, mà còn dần định hình lại cấu trúc kinh tế - chính trị toàn cầu. Sự chuyển dịch này tất yếu kéo theo những thay đổi trong lòng chủ nghĩa tư bản cùng các mô hình kinh tế truyền thống. Nhưng đâu là xung lực thúc đẩy sự thay đổi này, nó đang diễn ra dưới hình thái nào, và những hệ quả tiềm tàng của nó là gì?
Yanis Varoufakis, Cựu Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp, đã suy ngẫm và đưa ra câu trả lời trong cuốn sách “Chủ nghĩa phong kiến Công nghệ: Ngày tàn của Chủ nghĩa tư bản” (Technofeudalism: What Killed Capitalism), NXB Kim Đồng, Lộ Đức Anh dịch, 2026. Luận điểm trung tâm đầy khiêu khích của tác giả là: chủ nghĩa tư bản (capitalism) đang dần lụi tàn và bị thay thế bởi chủ nghĩa phong kiến công nghệ (Technofeudalism). Cụ thể, chính những đột biến của tư bản là thứ đầu độc chủ nghĩa tư bản để qua đó dọn đường cho một hình thái kinh tế - chính trị hoàn toàn mới, nơi mà nhà tài phiệt đám mây (cloudalists) trở thành lãnh chúa còn phần còn lại của xã hội, từ người tiêu dùng bình thường đến các doanh nghiệp truyền thống, bị đẩy xuống vị thế chư hầu và nông nô của đế chế số (cloud serfs).
Từ sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản …
Trước khi đi sâu vào việc bóc tách chủ nghĩa phong kiến công nghệ, Varoufakis tập trung giải thích căn nguyên về sự thoái trào của chủ nghĩa tư bản. Cụ thể, ông cho rằng, khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu thập niên 70s và Mỹ rơi vào thế thâm hụt cán cân thương mại, thay vì cắt giảm chi tiêu, quốc gia này đã biến thâm hụt trở thành động cơ vận hành nền kinh tế thế giới thông qua việc tạo ra “Con Nhân ngưu Toàn cầu” (Global Minotaur). Tương tự như cách người Athens xưa cống nạp cho quái vật Minotaur trong mê cung Crete để đổi lấy sự bình yên, các quốc gia khi ấy cùng đồng ý với giao kèo tái đầu tư thặng dư của mình vào Phố Wall để đổi lấy quyền tiếp cận thị trường Mỹ, sự bảo trợ an ninh cũng như một trật tự tài chính toàn cầu tương đối ổn định.
Dòng vốn ồ ạt đổ về không chỉ tạo ra quyền lực kinh tế, mà còn là dòng sữa nuôi sống những kế hoạch điên rồ của các nhà băng. Thay vì cấp vốn đầu tư vào những dự án sản xuất hữu hình, giới tài chính lại chuyển hóa chúng thành những công cụ đầu cơ phức tạp và đầy rủi ro như phái sinh hay việc rao bán các khoản nợ dưới chuẩn. Quá trình này được tiếp tay bởi hai điều. Thứ nhất là ý hệ tân tự do, với niềm tin rằng thị trường phi tập trung có thể tự điều chỉnh. Thứ hai là mạng lưới Internet, nơi mà các khoản nợ được số hóa và được tinh chỉnh thông qua các thuật toán nằm ngoài sự hiểu biết và giám sát của con người. Hệ quả là khi mắt xích nợ dưới chuẩn bị phá vỡ, toàn bộ cấu trúc tài chính cũng theo đó sụp đổ trong cuộc Khủng hoảng Kinh tế năm 2008.
Để cứu lấy hệ thống tài chính, các ngân hàng trung ương đã tung ra các gói cứu trợ, duy trì lãi suất gần như bằng 0 trong nhiều năm cũng như bơm một lượng tiền rẻ khổng lồ vào nền kinh tế, mà chủ yếu là chuyển vào tài khoản của giới tài chính. Thông qua hành động này, họ mong rằng việc in tiền vào thị trường sẽ tạo động lực thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh, nhờ đó tạo ra nhiều việc làm ổn định và ngăn nền kinh tế sụp đổ. Tuy nhiên, trước cơn lũ tiền rẻ từ nhà nước, doanh nghiệp lớn lại chuyển hướng đầu tư vào tư bản đám mây (cloud capital). Đặt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tại sao phải mạo hiểm đầu tư vào các dự án sản xuất dài hơi trong bối cảnh sức mua người tiêu dùng yếu, trong khi khoản tiền khổng lồ này hoàn toàn có thể được sử dụng để phát triển hạ tầng số và các thuật toán với chi phí biên thấp và tỷ suất sinh lời vượt trội? Nắm bắt điều này, giới tài chính dần thực hiện một cuộc đại chuyển hóa trong đối tượng đầu tư, qua đó mở đường cho sự bùng nổ của các không gian kỹ thuật số.
Bước chuyển tiếp theo được đánh dấu khi đại dịch COVID-19 ập đến, khiến toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội phải chuyển lên môi trường trực tuyến. Đây có thể được xem là một cú hích quan trọng thúc đẩy các tập đoàn công nghệ dồn sức xây dựng hạ tầng đám mây dựa trên nguồn lực là dòng tiền rẻ được bơm vào thị trường từ các ngân hàng. Theo Varoufakis, Thời đại Tư bản Đám mây cũng bắt đầu từ đây, khi mà toàn bộ động lực, nguồn lực và không gian sản xuất đều bị xáo trộn. Lợi nhuận không còn là kim chỉ nam, thị trường không còn dựa trên những quy luật kinh tế cổ điển, và quyền lực không còn nằm trong tay tầng lớp tư bản truyền thống.
… đến sự lên ngôi của chủ nghĩa phong kiến công nghệ …
Khi chủ nghĩa tư bản dần suy thoái, chủ nghĩa phong kiến công nghệ dần trở thành trung tâm mới của cấu trúc chính trị - kinh tế thế giới. Vậy đâu là căn nguyên cho sự chuyển dịch này? Varoufakis cho rằng, sự thay đổi nằm ở hai yếu tố cốt lõi: thị trường và lợi nhuận.
Đối với yếu tố đầu tiên, thị trường truyền thống đang dần bị thay thế bởi các “thái ấp đám mây” (cloud fiefs) như Amazon, Alibaba, eBay,... Trong đó, quy luật cung-cầu cùng giá cả không đơn thuần được quyết định bởi người mua và người bán, mà phải tuân theo luật chơi của những sàn giao dịch điện tử, điều vốn bị chi phối bởi tập đoàn công nghệ đứng sau. Thông qua việc kiểm soát và độc quyền những không gian hạ tầng số, người sở hữu tư bản là những “lãnh chúa đám mây” với khả năng hút cạn thặng dư, còn các doanh nghiệp sản xuất truyền thống bị giáng xuống thành “chư hầu đám mây” khi phải tuân theo những điều khoản dịch vụ để được bán hàng trên các nền tảng này. Đáng chú ý nhất, theo Varoufakis, người tiêu dùng trở thành lực lượng “nông nô đám mây” (cloud serfs) khi lao động không công để củng cố toàn bộ hệ thống số. Thông qua việc cung cấp thông tin trong mỗi lần kết nối trực tuyến và thụ hưởng dịch vụ số, chúng ta đã vô tình cung cấp dữ liệu cho các thuật toán. Các thuật toán này sau đó lại “chế biến” các thông tin này để đáp ứng nhu cầu của người dùng tốt hơn để thông qua đó vừa tăng cường sức mạnh của chính nó, vừa ràng buộc dục vọng của người dùng vào mạng lưới đám mây.
Đối với yếu tố thứ hai, tác giả cho rằng, lợi nhuận đang dần bị thay thế bởi “tô đám mây” (cloud rent). Trong nền kinh tế truyền thống, lợi nhuận là yếu tố điều tiết thúc đẩy cạnh tranh về cải tiến máy móc, năng lực nhân công, quy mô chế biến,... để sinh lời nhiều và hiệu quả hơn. Trong khi đó, sự thống trị của các nhà tài phiệt đám mây với nền tảng hạ tầng kỹ thuật số đã giúp họ trục lợi theo hình thức thu tô. Theo đó, tương tự như cách các lãnh chúa cho chư hầu thuê đất để tự do khai thác kinh tế và thu lại một phần lợi tô, các tập đoàn công nghệ cũng cho người dùng sử dụng các thái ấp điện tử trên các nền tảng đám mây, rồi sử dụng thuật toán để kiểm soát và thu một phần tô đối với các nhà sản xuất muốn tiếp cận khách hàng và cả đối với các khách hàng muốn tiếp cận dịch vụ trực tuyến. Được củng cố bởi tiền rẻ do giới ngân hàng bơm vào thị trường nhằm cứu vãn tình hình trên đà suy thoái, các hạ tầng đám mây dần lớn mạnh để rồi không chỉ triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế tư bản truyền thông, mà còn tiếp tay cho giới lãnh chúa đám mây bành trướng quyền lực số. Nói cách khác, sự lên ngôi của tầng lớp địa chủ đám mây cũng đánh dấu sự quay trở lại của logic phong kiến khi quyền lực kinh tế đến từ việc sở hữu “đất đai số” (nền tảng, thuật toán, dữ liệu), chứ không phải từ việc sản xuất và cạnh tranh hiệu quả hơn đối thủ.
Sự cộng hưởng của hai yếu tố trên là cốt lõi của chủ nghĩa phong kiến công nghệ. Điều này đã tạo ra quyền năng của tư bản đám mây như một “xưởng sản xuất dục vọng, một động lực của lao động vô sản (lao động đám mây), một tác nhân kích thích lao động miễn phí (nông nô đám mây) và tạo ra những không gian giao dịch số hoàn toàn tư nhân (thái ấp đám mây)” (tr.140). Cụ thể, nếu chủ nghĩa tư bản truyền thống phụ thuộc vào việc công nhân bán sức lao động cho các nhà máy, thì chủ nghĩa phong kiến công nghệ lại phụ thuộc vào việc các cá nhân liên tục tạo ra dữ liệu trong phạm vi các thái ấp đám mây. Trong các khu vực bị kiểm soát bởi giới tài phiệt này, hoạt động lao động được tiếp diễn dù không được trả lương và vô hình, trong khi các khoản tiền thuê (lợi nhuận độc quyền) chảy ngược lên trên về phía những kẻ sở hữu các nền tảng. Thông qua đó, những nhà tài phiệt đứng đằng sau sở hữu cấu trúc hệ thống được nhà nước rót tiền miễn phí, được sức lao động miễn phí của công dân tái sản xuất, làm tăng cường sự bòn rút giá trị thặng dư từ giới vô sản và đồng thời bòn rút luôn cả giới tư bản truyền thống đang neo đậu vào các nền tảng điện tử.
… và những hệ quả tiềm ẩn
Trên cơ sở của việc mô tả khía cạnh biểu hiện của tư bản đám mây, tác giả tiếp tục đi sâu vào việc giải mã các biến động kinh tế quốc tế và địa chính trị từ góc nhìn của chủ nghĩa phong kiến công nghệ. Đáng chú ý, Varoufakis cho rằng động lực chính yếu của cuộc cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung đến từ sự đối đầu trực diện giữa tầng lớp tài phiệt đám mây của hai cường quốc. Ở bên kia Thái Bình Dương, đối trọng với những Amazon, Apple, Google, Netflix, v.v là một hệ sinh thái đám mây của Baidu, Alibaba, Tencent, Ping An, v.v. do Bắc Kinh dẫn dắt. Khác với tư bản đám mây Mỹ vốn được nắm giữ bởi giới tinh hoa tài phiệt, hệ thống tư bản đám mây của Trung Quốc lại là một mạng lưới đa tầng, được phối hợp công-tư chặt chẽ để kiểm soát từ truyền thông, thương mại điện tử, đầu tư nước ngoài và các dịch vụ tài chính trực tuyến. Sự lớn mạnh của hai siêu thái ấp đám mây đã loan báo trước cho một cuộc đua ngôi vị bá quyền công nghệ toàn cầu, với một bên là chủ nghĩa phong kiến công nghệ Mỹ và một bên là chủ nghĩa phong kiến công nghệ đặc sắc Trung Hoa.
Cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt sau khi Bắc Kinh đẩy mạnh việc xây dựng hạ tầng tài chính điện tử, với cốt lõi là đồng tiền kỹ thuật số (e-CNY) do ngân hàng trung ương phát hành. Đặt trong bối cảnh chiến tranh Nga-Ukraine ngày càng diễn biến phức tạp, việc Washington phong tỏa dự trữ ngoại hối của Moscow làm dấy lên sự quan ngại về nguy cơ Mỹ sẵn sàng “vũ khí hóa” sự kiểm soát tài sản quốc gia và tài sản tư nhân như một công cụ để răn đe. Chính vì vậy, nhiều chủ thể quốc tế đang dần chuyển dịch sang việc sử dụng các dịch vụ hạ tầng số công do Trung Quốc vận hành như một biện pháp thay thế chiến lược. Sự chuyển dịch này đã trực tiếp đe dọa đến đặc quyền thu tô đám mây của Mỹ khi nó triệt tiêu chi phí biên của các ngân hàng trung ương và các bên trung gian. Để đối phó với sự suy giảm quyền lực toàn cầu và sự trỗi dậy của các thế lực công nghệ mới, Mỹ đáp trả bằng các lệnh hạn chế xuất khẩu công nghệ lõi và đánh thuế quan vào các mặt hàng thiết yếu. Từ đây, thương chiến Mỹ-Trung ngày càng leo thang với mặt trận trung tâm là các địa hạt tài chính đám mây của Bắc Kinh và Washington.
Theo Varoufakis, sự trỗi dậy của hai siêu thái ấp đám mây đã dẫn đến một cuộc Chiến tranh Lạnh mới, khiến các quốc gia đứng trước thế lưỡng nan phải chọn bên. Vì vậy, trong dài hạn, thế giới sẽ không quay lại trật tự thị trường tự do toàn cầu hóa như trước năm 2008, mà đã, đang và sẽ phân mảnh thành các “khối đám mây” cạnh tranh nhau. Dẫu vậy, dù ai là người kiểm soát hạ tầng số thì hệ quả tất yếu vẫn sẽ là sự gia tăng bóc lột lao động của giai cấp vô sản, môi trường ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng và việc con người phải cống nạp danh tính của mình cho hệ thống mới này. Không dừng lại ở đó, ở cấp độ vĩ mô, nền dân chủ xã hội cũng đang dần lụi tàn khi những thiết chế của nó như thuế, ngân hàng trung ương, chính sách tiền tệ, v.v đang dần trở nên bị vô hiệu hóa trong một thế giới mà hoạt động kinh tế dần bị chi phối và chuyển dịch sang các thái ấp đám mây tư nhân.
Trước những hệ quả khôn lường ấy, tác giả đề xuất một số ý tưởng, xoay quanh việc dân chủ hóa tiền tệ, các mô hình kinh doanh cũng như các nền tảng đám mây như những giải pháp thay thế cho tư bản đám mây. Trong đó, không khó để người đọc nhận thấy tinh thần cách mạng và lý tưởng giải phóng người lao động khỏi vị thế nông nô đám mây của tác giả - người vốn tự nhận mình là một nhà Marxist tự do (libertarian Marxist). Trong thông điệp gửi gắm sau cùng, Varoufakis cho rằng Internet đã “thủ tiêu chủ nghĩa tư bản” để dọn đường cho sự ra đời của một mô hình kinh tế tồi tệ hơn; tuy nhiên, chính nó cũng đem lại những công cụ để tầng lớp vô sản cùng đoàn kết chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa phong kiến công nghệ.
Những suy ngẫm sau cùng
Cuốn sách, với cốt lõi là ý tưởng về chủ nghĩa phong kiến công nghệ, đã tạo ra nhiều làn sóng tranh cãi. Về mặt ý tưởng, các quan điểm phản đối cho rằng, chủ nghĩa phong kiến công nghệ về thực chất chỉ là một hệ thống tự sự được xây dựng để tái diễn giải xã hội thời kỳ hậu tư bản. Theo đó, chủ nghĩa tư bản không thực sự chết đi, mà chỉ đang thay đổi và tự tái cấu trúc bằng cách tích hợp hạ tầng kỹ thuật số. Các công ty công nghệ hàng đầu vẫn cạnh tranh nhau để thu hút người dùng, tích lũy lợi nhuận và vẫn chịu sự kiểm soát chính sách nhà nước chứ không hề tồn tại như những lãnh địa toàn trị.
Bên cạnh đó, tầm nhìn của tác giả trong việc tái cấu trúc công cụ sản xuất đám mây, thành lập một liên minh xuyên giai cấp để giải phóng khỏi chủ nghĩa phong kiến công nghệ cũng được xem là mơ hồ, thiếu tính thực tiễn về mặt kinh tế - chính trị và nặng tính lý tưởng. Không khó để nhận thấy tác giả chưa từng giải thích về bản chất “chủ nghĩa phong kiến công nghệ” mà chỉ mới chỉ ra những biểu hiện của nó. Đồng thời, dù diễn giải tốt về mặt cơ chế chuyển đổi, song việc thiếu các ví dụ thực tiễn về sự thay đổi của quan hệ sản xuất, cũng như bằng chứng cho thấy chủ nghĩa tư bản đang dần suy vong đã làm giảm đi sức mạnh kiểm chứng lý thuyết của cuốn sách.
Bên cạnh những hạn chế nhất định, cuốn sách vẫn có nhiều điểm sáng nổi bật. Về mặt ý tưởng, tác giả đã trình bày tương đối chặt chẽ về logic nhân quả của chuỗi các sự kiện lịch sử để giải thích cho sự ra đời của tư bản đám mây. Ý tưởng về “thái ấp đám mây”, “tô đám mây”, “nông nô đám mây” và “lao động đám mây” được giới thiệu chi tiết, đầy cuốn hút và mang tính liên kết cao để từ đó phác họa nên một bức tranh toàn cảnh về trật tự kinh tế - chính trị ngày nay. Về mặt lập luận và triển khai, các ý được liên kết chặt chẽ, với điểm đáng chú ý là việc tác giả đã mô hình hóa lại toàn bộ các ý tưởng để xây dựng khung lý thuyết so sánh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa phong kiến công nghệ trong phần phụ lục. Văn phong của tác giả cũng tương đối mạch lạc, khúc chiết và dễ hiểu, dẫu vẫn còn nhiều trường đoạn mang nặng tính kỹ thuật chuyên về kinh tế.
Sau cùng, liệu chủ nghĩa tư bản đã thực sự cáo chung? Liệu chủ nghĩa phong kiến công nghệ có đủ quyền năng để thiết lập một trật tự kinh tế - chính trị mới? Đâu sẽ là những tác động trong dài hạn của tư bản đám mây đến tình hình địa chính trị thế giới? Có lẽ, chỉ thời gian mới có thể kiểm chứng những câu hỏi trên, cũng như chứng thực cho những luận điểm của tác giả. Quan trọng hơn hết, cuốn sách là lời nhắc nhớ rằng, đời sống của con người không chỉ gắn liền với không gian xã hội mặt đất, mà đã mở rộng sang phạm trù không gian số. Tại đây, chúng ta liên tục bị thao túng, bị kiểm soát và bị tái định hình bởi những thiết chế số do các thuật toán đặt ra. Để có thể thay đổi luật chơi, điều tiên quyết là cần phải có nhận thức và hiểu cách thức mà đời sống kinh tế - chính trị đang dần thay đổi - điều mà Yanis Varoufakis đã giải thích tương đối cặn kẽ trong công trình trên 300 trang của mình.
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Cuốn sách yêu thích của bạn là gì?”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Võ Xuân Trí - Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Mối quan tâm của Trí là kinh tế - chính trị và an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Từ khoá: Chủ nghĩa phong kiến công nghệ Technofeudalism điểm sách đám mây