Già hóa dân số: Từ thách thức kinh tế đến rủi ro an ninh cho Nhật Bản
Già hóa dân số làm suy yếu nền tảng kinh tế, thu hẹp lực lượng lao động và gây rủi ro nghiêm trọng về an ninh - quốc phòng. Trong bối cảnh môi trường khu vực bất ổn, Tokyo buộc phải dựa nhiều hơn vào tự động hóa quân sự, đổi mới công nghệ, và tăng cường liên minh để bù đắp những hạn chế cấu trúc về nhân khẩu học.
Ảnh hưởng kinh tế
Rất dễ thấy, già hóa dân số gây sức ép lên tài chính công. Khi dân số già hóa, phân bổ trên tháp tuổi càng ngày càng lệch về tuổi già, hệ quả là ngày càng nhiều người rời lực lượng lao động và bắt đầu hưởng lợi từ các khoản thu nhập chuyển giao, bao gồm lương hưu, bảo hiểm xã hội, v.v. mà không cần phải đóng thuế thu nhập cá nhân.
Trong một nền kinh tế đặc trưng bởi dân số trẻ và tỷ suất sinh cao, đây không phải là một vấn đề đáng ngại. Lý do là phần thuế thu nhập của những người lao động trẻ tuổi sẽ bù đắp vào phần cần thiết, giúp cân bằng cán cân tài chính công và cho chính phủ nhiều tự do hơn trong chi tiêu vào các khoản ngoài y tế như giáo dục, hạ tầng, v.v.
Tuy nhiên, Nhật Bản đang phải “gồng mình” gánh chịu một áp lực nặng nề. Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng trong khi số lượng người lao động và dân số ngày càng giảm. Vào năm 2023, tỷ lệ người hơn 65 tuổi chiếm 29.1% tổng dân số, tuổi thọ trung bình của người Nhật là 81.05 cho nam và 87.09 cho nữ và trên đà gia tăng. Đồng thời, tỷ lệ phụ thuộc rơi vào khoảng 50%, tức trung bình hai người lao động sẽ phải hỗ trợ chi phí ăn ở cho một người đã nghỉ hưu.
Để ổn định an sinh xã hội, chính phủ đã chịu phần lớn gánh nặng của một nền dân số già thay cho lực lượng lao động. Điều này có thể thấy qua việc chi phí bảo hiểm xã hội phải trả chỉ ở mức trung bình so với các nước Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trong khi dân số Nhật Bản lại già nhất thế giới. Và cái giá của lựa chọn này là cán cân tài chính của Nhật Bản đã lệch về phía “thâm hụt” từ những năm 80, biến Tokyo trở thành một trong những nước có nợ công so với thu nhập cao nhất thế giới, ở mức hơn 230% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Lý thuyết kinh tế và bằng chứng thực tiễn cho thấy rằng tăng nợ công sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế, thông qua nhiều cơ chế như tăng lãi suất dài hạn và tăng rủi ro lạm phát. Ngoài ra, việc duy trì thâm hụt tất nhiên sẽ dẫn đến nhiều rào cản chính sách tài khóa khi nguồn doanh thu thuế đã được sử dụng cho mục đích an sinh xã hội và phát triển kinh tế, như giáo dục và y tế, trực tiếp cạnh tranh với nhu cầu quốc phòng và công nghệ.
Một hệ quả không kém quan trọng là nền kinh tế Nhật Bản bị trì trệ do nguồn lao động thiếu hụt và năng suất giảm sút. Mặc dù có một tỷ lệ tham gia lao động cao hơn nhiều so với các nước cùng thuộc OECD, Nhật Bản vẫn đang chật vật giải quyết vấn đề thâm hụt lao động trầm trọng. Lực lượng lao động ở quốc gia này ngày càng sụt giảm, trong khi khả năng làm việc ngày càng đi xuống do tuổi già. Ngược lại, một số quan điểm cho rằng sự già hóa dân số có thể làm tăng năng suất lao động nhờ vốn kinh nghiệm và kiến thức tích lũy. Tuy nhiên, các quan sát thực tế cho thấy sự già hóa đi đôi với giảm sút về phát triển kinh tế, với 2/3 sự sụt giảm có thể truy về sự giảm sút về năng suất làm việc và 1/3 do sự suy giảm về nguồn lực lao động.
Những áp lực kinh tế và sự suy giảm trầm trọng về nguồn lực lao động không chỉ giới hạn ở phạm vi ngân sách và năng suất dân sự. Chúng tạo ra một tác động sâu sắc hơn, làm xói mòn chính nền tảng năng lực phòng vệ quốc gia của Nhật Bản, từ đó chuyển hóa điểm yếu tài chính và nhân khẩu học thành lỗ hổng chiến lược nghiêm trọng, đặc biệt trong bối cảnh hoạt động quân sự hóa ở khu vực ngày càng phức tạp.
Già hóa dân số làm suy yếu năng lực phòng vệ của Nhật Bản
Sự suy giảm nhân khẩu học đang bào mòn nền tảng năng lực phòng vệ quốc gia của Nhật Bản, làm suy yếu khả năng duy trì chiến tranh tiêu hao, tiến hành các chiến dịch quy mô lớn mang tính bước ngoặt, và giữ vững quyền kiểm soát chiến lược đối với các khu vực trọng yếu. Đây không chỉ là tổn thất về số lượng mà là sự biến đổi mang tính cấu trúc, làm suy yếu cốt lõi sức bền phòng vệ của Nhật Bản.
Suy giảm khả năng chiến tranh tiêu hao và tạo đột phá chiến lược
Già hóa dân số đang dần tước mất Nhật Bản khỏi một trong những năng lực cơ bản nhất trong chiến tranh: khả năng duy trì, chấp nhận xung đột tiêu hao và mở các chiến dịch quy mô lớn có tính quyết định. Chiến tranh không chỉ là cuộc đọ sức công nghệ, mà còn là phép thử sức bền nhân khẩu. Khi tầng lớp dân số trẻ thu hẹp, Nhật Bản mất dần chiều sâu nhân lực cần thiết để luân chuyển quân, duy trì hậu cần và phục hồi tổn thất - những yếu tố then chốt để duy trì ưu thế trong xung đột kéo dài.
Hiện nay, 1/3 dân số Nhật Bản đã trên 65 tuổi, trong khi dân số giảm tới 500.000-600.000 người mỗi năm. Cơ cấu nhân khẩu suy yếu khiến Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) thiếu hụt nhân lực trầm trọng và ngày càng khó duy trì cường độ tác chiến lâu dài. Trong các kịch bản chiến tranh tiêu hao, như bảo vệ chuỗi đảo hay phá vỡ phong tỏa ở biển Hoa Đông, Nhật Bản có thể giành ưu thế ban đầu nhờ công nghệ hải - không quân hiện đại. Tuy nhiên, khi thương vong tăng và những cuộc đàm phán ngoại giao bế tắc, thời gian luân chuyển sẽ bị kéo dài, hạn chế nhân lực sẽ nhanh chóng làm gián đoạn năng lực duy trì chiến dịch.
So với các đối thủ trong khu vực, bất lợi này càng rõ ràng hơn. Trung Quốc sở hữu lực lượng quân sự dồi dào hơn nhiều, cho phép Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) duy trì sức chiến đấu và sản xuất quốc phòng gần như không giới hạn trong chiến tranh tiêu hao. Triều Tiên, dù kinh tế yếu hơn, lại có cơ chế động viên toàn dân cùng mạng lưới quân dự bị khổng lồ, có thể huy động hàng triệu quân nhân kỷ luật cao sẵn sàng cho xung đột kéo dài. Cả hai đều được chuẩn bị kỹ càng cho “chiến tranh tiêu hao” - điều mà Nhật Bản, với cơ cấu dân số già và xã hội hướng nội, ngày càng khó sánh kịp.
Tình trạng này không chỉ giới hạn khả năng chịu đựng chiến tranh dài hơi, mà còn bào mòn năng lực tạo đột phá chiến lược, tức khả năng triển khai các chiến dịch quy mô lớn nhằm xoay chuyển cục diện. Để thực hiện được điều đó, quân đội cần mật độ lực lượng dày, tinh thần bền bỉ và khả năng cơ động cao, những yếu tố mà một đội quân thiếu chiều sâu nhân khẩu khó có thể đảm bảo. Khi lực lượng trẻ co hẹp, JSDF buộc phải dựa ngày càng nhiều vào công nghệ răn đe (deterrence), thay vì sức mạnh cơ động, khiến học thuyết phòng thủ của Nhật Bản ngày càng bị động nếu răn đe hay ngoại giao thất bại.
Chiến tranh hiện đại chỉ ra rằng công nghệ vẫn chưa thể thay thế sức bền nhân khẩu. Chiến tranh Nga - Ukraine là minh chứng rõ ràng. Nga, nhờ dân số lớn cùng nhiều cơ chế hợp đồng ngắn hạn linh hoạt, vẫn duy trì được cường độ chiến đấu ổn định dù chịu thương vong lớn. Ngược lại, Ukraine rơi vào khủng hoảng do thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng, buộc phải kéo dài thời gian phục vụ và tăng độ tuổi nhập ngũ đến 60. Thực tế cay đắng này được thể hiện rõ trong chiến dịch xâm nhập vùng Kursk năm 2024, khi Ukraine đạt được bước tiến ban đầu đầy bất ngờ nhờ cơ giới hóa cao nhưng nhanh chóng bị chặn đứng do thiếu lực lượng tiếp viện và dự trữ chiến đấu để chiếm giữ cứ điểm. Khi chiến dịch kéo dài, ưu thế hỏa lực và nhân lực cho phép Nga áp đảo hoàn toàn, khiến Ukraine phải rút lui chiến thuật và đánh mất đà chủ động.
Bài học từ Kursk cho thấy một lực lượng thiếu chiều sâu nhân khẩu không thể duy trì được nhịp độ tác chiến đủ lâu để biến thắng lợi chiến thuật thành kết quả chiến lược - một nguy cơ mà Nhật Bản cũng phải đối mặt. Với lực lượng tân binh ngày càng khan hiếm, bất kỳ xung đột nào vượt quá giai đoạn đầu đều sẽ phơi bày giới hạn nhân khẩu học và làm suy yếu sức bền chiến lược của Tokyo.
Điều này cũng đặc biệt nguy hiểm tại các tiền đồn chiến lược, nơi sự hiện diện thực địa của binh sĩ vừa mang ý nghĩa quân sự, vừa xác lập tính chính danh pháp lý và biểu tượng ngoại giao - truyền thông. Nếu không đủ lực lượng duy trì hiện diện, Nhật Bản có thể mất quyền kiểm soát thực tế tại các điểm tranh chấp. Nga và Ukraine từng chấp nhận thương vong khổng lồ tại Bakhmut hay Avdiivka để không chỉ giữ quyền chủ động chiến lược quân sự mà còn trên bàn đàm phán, phương tiện truyền thông và hợp pháp hóa yêu sách lãnh thổ.
Suy yếu lực lượng thường trực và khả năng phản ứng nhanh
Việc thiếu hụt người trong độ tuổi nghĩa vụ cũng làm suy giảm năng lực của lực lượng thường trực và khả năng phản ứng nhanh - yếu tố then chốt trong chiến lược phòng thủ đảo của Nhật Bản. Tình trạng thiếu quân kéo dài đã trở thành mãn tính: từ giữa thập niên 2010, JSDF chỉ đạt khoảng 70% chỉ tiêu tuyển quân hằng năm. Với nhóm dân số chín muồi để nhập ngũ là 18-26 tuổi dự kiến giảm gần 20-25% từ năm 2028 đến năm 2050, Nhật Bản đang đối mặt với nút thắt cấu trúc mà tự động hóa hay khuyến khích tài chính khó có thể bù đắp.
Sự co hẹp này tạo ra những lỗ hổng rõ rệt về tác chiến. Các đơn vị đóng tại quần đảo tây nam, như Okinawa hay Yonaguni, sẽ phải vận hành với mỗi chu kỳ dài và cường độ cao hơn trong trường hợp xung đột, dẫn đến sức khỏe và tinh thần gánh nhiều áp lực và hiệu quả tác chiến bị giảm sút. Trong kịch bản khủng hoảng khu vực, những lỗ hổng này có thể làm chậm thời gian tiếp viện hay luân chuyển quân, tạo cơ hội cho đối phương, đặc biệt là Trung Quốc, với quân lực dồi dào, năng lực đổ bộ và đổ quân đường không mạnh mẽ, chiếm thế chủ động. Thiếu binh sĩ trẻ, khỏe mạnh cũng làm giảm khả năng trụ vững trong chiến đấu, khi binh lính lớn tuổi có sức bền, sức phản xạ và khả năng thích nghi yếu hơn trong môi trường chiến tranh cường độ cao.
So với Nhật Bản, Trung Quốc đang hiện đại hóa quân đội dựa trên nền tảng dân số lớn được đào tạo và tiếp xúc công nghệ thông tin - kỹ thuật cao từ sớm. Trong khi đó, Triều Tiên vẫn duy trì khả năng huy động quy mô lớn cho cả phòng thủ và tiến công chiến lược. Cả hai quốc gia này đều có thể duy trì hiện diện vật lý dày đặc trên chiến trường, vốn là điều mà Nhật Bản ngày càng khó đảm bảo.
Xã hội mong manh, năng lực chịu đựng thời chiến suy yếu
Già hóa dân số còn làm yếu đi các hệ thống xã hội vốn là trụ cột của quốc phòng. Một xã hội mà người cao tuổi chiếm tỷ lệ lớn sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì huy động hậu cần, sản xuất công nghiệp, và khôi phục hạ tầng trong thời chiến. Ngay cả trong thời bình, chi tiêu cho y tế và phúc lợi đã chiếm gần 1/3 ngân sách Nhật Bản. Khi chiến tranh nổ ra, những hệ thống này sẽ trở thành gánh nặng: bệnh viện, nhà máy điện và trung tâm an sinh cần được bảo vệ và tiếp tế, khiến nguồn lực bị phân tán khỏi các hoạt động quân sự trực tiếp. Xung đột kéo dài sẽ đẩy hệ thống này đến giới hạn khi lực lượng lao động cần thiết cho sửa chữa cơ sở hạ tầng, duy trì chuỗi cung ứng và hậu cần quân đội đang thu hẹp nhanh chóng.
Già hóa cũng làm tăng đáng kể tính dễ tổn thương về nhân đạo, một khía cạnh ít được bàn tới nhưng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chiến lược của Nhật Bản trong kịch bản xung đột hiện đại. Các cuộc tấn công bằng tên lửa tầm xa hoặc không kích chính xác vào hạ tầng trọng yếu như nhà máy điện hoặc mạng lưới giao thông sẽ gây thương vong hay tổn thương đặc biệt lớn cho người cao tuổi, vốn là nhóm chiếm tỷ lệ dân số ngày càng cao và có khả năng di chuyển, tự bảo vệ kém hơn nhiều người trẻ. Hệ thống y tế và phúc lợi vốn đã chịu áp lực trong thời bình sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng quá tải, khiến năng lực phản ứng khẩn cấp suy giảm.
Trong tình huống đó, JSDF sẽ buộc phải chia lực lượng để vừa đối phó với đe dọa bên ngoài, vừa tham gia vào công tác cứu hộ, vận chuyển, y tế và duy trì trật tự trong nước - một vấn đề mà Ukraine cũng đang gặp khủng hoảng trong cuộc chiến hiện nay với Nga. Một bộ phận đáng kể nhân lực và hậu cần dân sự và quân sự, vốn đang thiếu trầm trọng, sẽ phải chuyển sang hỗ trợ nội địa thay vì phục vụ cho chiến dịch phòng thủ hoặc phản công. Điều này làm phân tán sức tập trung chiến lược, khiến JSDF khó duy trì được nhịp độ hậu cần ở tiền tuyến.
Đối diện với những hệ quả chiến lược nghiêm trọng và rõ rệt do dân số già hóa gây ra, từ việc suy giảm sức bền trong chiến tranh tiêu hao đến sự mong manh của hậu cần xã hội thời chiến, Nhật Bản không thể duy trì trạng thái bị động. Các lỗ hổng về nhân lực và khả năng phản ứng nhanh đã tạo ra một đòi hỏi cấp thiết: Tokyo phải thúc đẩy những thay đổi triệt để trong học thuyết phòng thủ và chiến lược hợp tác quốc tế để bù đắp các giới hạn nhân khẩu học mang tính cấu trúc này.
Phải thay đổi!
Một trong những tác động khác của già hóa dân số đến quốc phòng của Nhật Bản chính là sự thay đổi trong chiến lược tác chiến. Việc không có đủ nhân lực phục vụ cho lực lượng phòng vệ có thể khiến quốc gia Đông Á này buộc phải đẩy mạnh nghiên cứu và đưa vào biên chế các loại vũ khí, khí tài công nghệ cao, có tính tự động hóa cao nhằm bù đắp cho các hạn chế về nhân lực. JSDF đã sử dụng nhiều loại máy bay không người lái (UAV) cho nhiều mục đích khác nhau: từ trinh sát, chiến đấu cho đến cả hậu cần. Bên cạnh đó, Tokyo cũng đang phát triển các loại pháo điện tử có tính tự động hóa cao và có tính sát thương lớn nhằm phục vụ cho việc đánh chặn các mục tiêu.
Ngoài ra, với đặc thù là quốc gia có truyền thống hải quân hùng mạnh, lực lượng phòng vệ mặt nước của Nhật Bản cũng được đầu tư mạnh mẽ theo xu hướng gia tăng các trang thiết bị có hàm lượng công nghệ rất cao. Hoạt động này càng có ý nghĩa trong bối cảnh Tokyo đang phải đối đầu với sự hiện diện ngày càng tăng của hải quân Trung Quốc tại biển Hoa Đông.
Gần đây, Tokyo đã cho hạ thủy các khinh hạm lớp Mogami, vốn có mức độ tự động hóa cao và thiết kế tàng hình, giúp nó khó bị phát hiện và nhắm mục tiêu bởi radar đối phương. Chính mẫu tàu này cũng được lực lượng hải quân Australia lựa chọn để hiện đại hóa lực lượng tàu mặt nước khi chúng được trang bị hệ thống tác chiến điện tử và cảm biến tiên tiến. Với thiết kế để vận hành với số lượng thủy thủ đoàn cực kỳ nhỏ, các khinh hạm này sẽ giúp Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF) linh hoạt và đa dụng, với chi phí thấp hơn rất nhiều.
Bên cạnh đó, Nhật Bản còn có thể lựa chọn một số các hướng đi khác nhằm gia tăng năng lực quốc phòng trong bối cảnh già hóa dân số. Chẳng hạn, Tokyo nên tăng cường hợp tác an ninh - quốc phòng với các đồng minh tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nhằm đảm bảo khả năng phòng vệ của mình. Việc thắt chặt liên minh với các đối tác cùng chí hướng trong khối Quad (gồm Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ) có thể giúp Nhật Bản tăng cường hiệu quả trong các hoạt động răn đe hoặc tuần tra (đặc biệt là trên biển).
Thậm chí, Nhật Bản có thể yêu cầu đảm bảo an ninh từ đồng minh thân thiết của mình là Mỹ. Tuy nhiên, những yêu cầu này sẽ làm tăng các nghĩa vụ của Nhật Bản đối với Mỹ do áp lực từ Quốc hội hoặc Nhà Trắng, và thậm chí có thể đòi hỏi hai nước phải sửa đổi Hiệp ước An ninh song phương. Ngoài ra, việc tăng cường liên minh quân sự với các đồng minh có thể đòi hỏi Nhật Bản phải sửa đổi hoặc diễn giải lại Điều 9 của Hiến pháp hậu chiến - vốn là một chủ đề đang gây tranh cãi sâu sắc trong chính trường xứ sở mặt trời mọc hiện nay.
***
Già hóa dân số không chỉ là một vấn đề kinh tế – xã hội, mà còn là thách thức chiến lược sâu sắc đối với an ninh và quyền tự chủ của Nhật Bản. Đà suy giảm dân số đang bào mòn nguồn lực tài chính công, kìm hãm động lực thị trường lao động và trực tiếp làm giảm sức bền chiến đấu của JSDF. Trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực ngày càng bất ổn, Tokyo buộc phải đẩy mạnh đầu tư vào tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và củng cố các liên minh an ninh để san sẻ gánh nặng kinh tế – quân sự, đồng thời thúc đẩy đổi mới năng lực phòng vệ. Chỉ khi kết hợp giữa đổi mới công nghệ liên tục và hợp tác quốc tế linh hoạt, Nhật Bản mới có thể từng bước thu hẹp các điểm yếu mang tính cấu trúc do nhân khẩu học gây ra.
Nguyễn Minh Triết hiện là sinh viên năm cuối ngành Cử nhân Kinh doanh, chuyên ngành Kinh tế học, tại Đại học RMIT Việt Nam. Triết quan tâm đến dự báo kinh tế thông qua các mô hình cấu trúc kinh tế.
Trần Nguyễn Minh Khôi hiện là sinh viên năm cuối ngành Cử nhân Kinh doanh, chuyên ngành Kinh tế học, tại Đại học RMIT Việt Nam. Chủ đề quan tâm của Khôi là hợp tác kinh tế - thương mại đa quốc gia, an ninh quốc phòng, an ninh lương thực và nguồn nước.
Triệu Chí Phong hiện là sinh viên Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Mối quan tâm của Phong là an ninh tại Châu Á - Thái Bình Dương.
Ảnh hưởng kinh tế
Rất dễ thấy, già hóa dân số gây sức ép lên tài chính công. Khi dân số già hóa, phân bổ trên tháp tuổi càng ngày càng lệch về tuổi già, hệ quả là ngày càng nhiều người rời lực lượng lao động và bắt đầu hưởng lợi từ các khoản thu nhập chuyển giao, bao gồm lương hưu, bảo hiểm xã hội, v.v. mà không cần phải đóng thuế thu nhập cá nhân.
Trong một nền kinh tế đặc trưng bởi dân số trẻ và tỷ suất sinh cao, đây không phải là một vấn đề đáng ngại. Lý do là phần thuế thu nhập của những người lao động trẻ tuổi sẽ bù đắp vào phần cần thiết, giúp cân bằng cán cân tài chính công và cho chính phủ nhiều tự do hơn trong chi tiêu vào các khoản ngoài y tế như giáo dục, hạ tầng, v.v.
Tuy nhiên, Nhật Bản đang phải “gồng mình” gánh chịu một áp lực nặng nề. Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng trong khi số lượng người lao động và dân số ngày càng giảm. Vào năm 2023, tỷ lệ người hơn 65 tuổi chiếm 29.1% tổng dân số, tuổi thọ trung bình của người Nhật là 81.05 cho nam và 87.09 cho nữ và trên đà gia tăng. Đồng thời, tỷ lệ phụ thuộc rơi vào khoảng 50%, tức trung bình hai người lao động sẽ phải hỗ trợ chi phí ăn ở cho một người đã nghỉ hưu.
Để ổn định an sinh xã hội, chính phủ đã chịu phần lớn gánh nặng của một nền dân số già thay cho lực lượng lao động. Điều này có thể thấy qua việc chi phí bảo hiểm xã hội phải trả chỉ ở mức trung bình so với các nước Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trong khi dân số Nhật Bản lại già nhất thế giới. Và cái giá của lựa chọn này là cán cân tài chính của Nhật Bản đã lệch về phía “thâm hụt” từ những năm 80, biến Tokyo trở thành một trong những nước có nợ công so với thu nhập cao nhất thế giới, ở mức hơn 230% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Lý thuyết kinh tế và bằng chứng thực tiễn cho thấy rằng tăng nợ công sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế, thông qua nhiều cơ chế như tăng lãi suất dài hạn và tăng rủi ro lạm phát. Ngoài ra, việc duy trì thâm hụt tất nhiên sẽ dẫn đến nhiều rào cản chính sách tài khóa khi nguồn doanh thu thuế đã được sử dụng cho mục đích an sinh xã hội và phát triển kinh tế, như giáo dục và y tế, trực tiếp cạnh tranh với nhu cầu quốc phòng và công nghệ.
Một hệ quả không kém quan trọng là nền kinh tế Nhật Bản bị trì trệ do nguồn lao động thiếu hụt và năng suất giảm sút. Mặc dù có một tỷ lệ tham gia lao động cao hơn nhiều so với các nước cùng thuộc OECD, Nhật Bản vẫn đang chật vật giải quyết vấn đề thâm hụt lao động trầm trọng. Lực lượng lao động ở quốc gia này ngày càng sụt giảm, trong khi khả năng làm việc ngày càng đi xuống do tuổi già. Ngược lại, một số quan điểm cho rằng sự già hóa dân số có thể làm tăng năng suất lao động nhờ vốn kinh nghiệm và kiến thức tích lũy. Tuy nhiên, các quan sát thực tế cho thấy sự già hóa đi đôi với giảm sút về phát triển kinh tế, với 2/3 sự sụt giảm có thể truy về sự giảm sút về năng suất làm việc và 1/3 do sự suy giảm về nguồn lực lao động.
Những áp lực kinh tế và sự suy giảm trầm trọng về nguồn lực lao động không chỉ giới hạn ở phạm vi ngân sách và năng suất dân sự. Chúng tạo ra một tác động sâu sắc hơn, làm xói mòn chính nền tảng năng lực phòng vệ quốc gia của Nhật Bản, từ đó chuyển hóa điểm yếu tài chính và nhân khẩu học thành lỗ hổng chiến lược nghiêm trọng, đặc biệt trong bối cảnh hoạt động quân sự hóa ở khu vực ngày càng phức tạp.
Già hóa dân số làm suy yếu năng lực phòng vệ của Nhật Bản
Sự suy giảm nhân khẩu học đang bào mòn nền tảng năng lực phòng vệ quốc gia của Nhật Bản, làm suy yếu khả năng duy trì chiến tranh tiêu hao, tiến hành các chiến dịch quy mô lớn mang tính bước ngoặt, và giữ vững quyền kiểm soát chiến lược đối với các khu vực trọng yếu. Đây không chỉ là tổn thất về số lượng mà là sự biến đổi mang tính cấu trúc, làm suy yếu cốt lõi sức bền phòng vệ của Nhật Bản.
Suy giảm khả năng chiến tranh tiêu hao và tạo đột phá chiến lược
Già hóa dân số đang dần tước mất Nhật Bản khỏi một trong những năng lực cơ bản nhất trong chiến tranh: khả năng duy trì, chấp nhận xung đột tiêu hao và mở các chiến dịch quy mô lớn có tính quyết định. Chiến tranh không chỉ là cuộc đọ sức công nghệ, mà còn là phép thử sức bền nhân khẩu. Khi tầng lớp dân số trẻ thu hẹp, Nhật Bản mất dần chiều sâu nhân lực cần thiết để luân chuyển quân, duy trì hậu cần và phục hồi tổn thất - những yếu tố then chốt để duy trì ưu thế trong xung đột kéo dài.
Hiện nay, 1/3 dân số Nhật Bản đã trên 65 tuổi, trong khi dân số giảm tới 500.000-600.000 người mỗi năm. Cơ cấu nhân khẩu suy yếu khiến Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) thiếu hụt nhân lực trầm trọng và ngày càng khó duy trì cường độ tác chiến lâu dài. Trong các kịch bản chiến tranh tiêu hao, như bảo vệ chuỗi đảo hay phá vỡ phong tỏa ở biển Hoa Đông, Nhật Bản có thể giành ưu thế ban đầu nhờ công nghệ hải - không quân hiện đại. Tuy nhiên, khi thương vong tăng và những cuộc đàm phán ngoại giao bế tắc, thời gian luân chuyển sẽ bị kéo dài, hạn chế nhân lực sẽ nhanh chóng làm gián đoạn năng lực duy trì chiến dịch.
So với các đối thủ trong khu vực, bất lợi này càng rõ ràng hơn. Trung Quốc sở hữu lực lượng quân sự dồi dào hơn nhiều, cho phép Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) duy trì sức chiến đấu và sản xuất quốc phòng gần như không giới hạn trong chiến tranh tiêu hao. Triều Tiên, dù kinh tế yếu hơn, lại có cơ chế động viên toàn dân cùng mạng lưới quân dự bị khổng lồ, có thể huy động hàng triệu quân nhân kỷ luật cao sẵn sàng cho xung đột kéo dài. Cả hai đều được chuẩn bị kỹ càng cho “chiến tranh tiêu hao” - điều mà Nhật Bản, với cơ cấu dân số già và xã hội hướng nội, ngày càng khó sánh kịp.
Tình trạng này không chỉ giới hạn khả năng chịu đựng chiến tranh dài hơi, mà còn bào mòn năng lực tạo đột phá chiến lược, tức khả năng triển khai các chiến dịch quy mô lớn nhằm xoay chuyển cục diện. Để thực hiện được điều đó, quân đội cần mật độ lực lượng dày, tinh thần bền bỉ và khả năng cơ động cao, những yếu tố mà một đội quân thiếu chiều sâu nhân khẩu khó có thể đảm bảo. Khi lực lượng trẻ co hẹp, JSDF buộc phải dựa ngày càng nhiều vào công nghệ răn đe (deterrence), thay vì sức mạnh cơ động, khiến học thuyết phòng thủ của Nhật Bản ngày càng bị động nếu răn đe hay ngoại giao thất bại.
Chiến tranh hiện đại chỉ ra rằng công nghệ vẫn chưa thể thay thế sức bền nhân khẩu. Chiến tranh Nga - Ukraine là minh chứng rõ ràng. Nga, nhờ dân số lớn cùng nhiều cơ chế hợp đồng ngắn hạn linh hoạt, vẫn duy trì được cường độ chiến đấu ổn định dù chịu thương vong lớn. Ngược lại, Ukraine rơi vào khủng hoảng do thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng, buộc phải kéo dài thời gian phục vụ và tăng độ tuổi nhập ngũ đến 60. Thực tế cay đắng này được thể hiện rõ trong chiến dịch xâm nhập vùng Kursk năm 2024, khi Ukraine đạt được bước tiến ban đầu đầy bất ngờ nhờ cơ giới hóa cao nhưng nhanh chóng bị chặn đứng do thiếu lực lượng tiếp viện và dự trữ chiến đấu để chiếm giữ cứ điểm. Khi chiến dịch kéo dài, ưu thế hỏa lực và nhân lực cho phép Nga áp đảo hoàn toàn, khiến Ukraine phải rút lui chiến thuật và đánh mất đà chủ động.
Bài học từ Kursk cho thấy một lực lượng thiếu chiều sâu nhân khẩu không thể duy trì được nhịp độ tác chiến đủ lâu để biến thắng lợi chiến thuật thành kết quả chiến lược - một nguy cơ mà Nhật Bản cũng phải đối mặt. Với lực lượng tân binh ngày càng khan hiếm, bất kỳ xung đột nào vượt quá giai đoạn đầu đều sẽ phơi bày giới hạn nhân khẩu học và làm suy yếu sức bền chiến lược của Tokyo.
Điều này cũng đặc biệt nguy hiểm tại các tiền đồn chiến lược, nơi sự hiện diện thực địa của binh sĩ vừa mang ý nghĩa quân sự, vừa xác lập tính chính danh pháp lý và biểu tượng ngoại giao - truyền thông. Nếu không đủ lực lượng duy trì hiện diện, Nhật Bản có thể mất quyền kiểm soát thực tế tại các điểm tranh chấp. Nga và Ukraine từng chấp nhận thương vong khổng lồ tại Bakhmut hay Avdiivka để không chỉ giữ quyền chủ động chiến lược quân sự mà còn trên bàn đàm phán, phương tiện truyền thông và hợp pháp hóa yêu sách lãnh thổ.
Suy yếu lực lượng thường trực và khả năng phản ứng nhanh
Việc thiếu hụt người trong độ tuổi nghĩa vụ cũng làm suy giảm năng lực của lực lượng thường trực và khả năng phản ứng nhanh - yếu tố then chốt trong chiến lược phòng thủ đảo của Nhật Bản. Tình trạng thiếu quân kéo dài đã trở thành mãn tính: từ giữa thập niên 2010, JSDF chỉ đạt khoảng 70% chỉ tiêu tuyển quân hằng năm. Với nhóm dân số chín muồi để nhập ngũ là 18-26 tuổi dự kiến giảm gần 20-25% từ năm 2028 đến năm 2050, Nhật Bản đang đối mặt với nút thắt cấu trúc mà tự động hóa hay khuyến khích tài chính khó có thể bù đắp.
Sự co hẹp này tạo ra những lỗ hổng rõ rệt về tác chiến. Các đơn vị đóng tại quần đảo tây nam, như Okinawa hay Yonaguni, sẽ phải vận hành với mỗi chu kỳ dài và cường độ cao hơn trong trường hợp xung đột, dẫn đến sức khỏe và tinh thần gánh nhiều áp lực và hiệu quả tác chiến bị giảm sút. Trong kịch bản khủng hoảng khu vực, những lỗ hổng này có thể làm chậm thời gian tiếp viện hay luân chuyển quân, tạo cơ hội cho đối phương, đặc biệt là Trung Quốc, với quân lực dồi dào, năng lực đổ bộ và đổ quân đường không mạnh mẽ, chiếm thế chủ động. Thiếu binh sĩ trẻ, khỏe mạnh cũng làm giảm khả năng trụ vững trong chiến đấu, khi binh lính lớn tuổi có sức bền, sức phản xạ và khả năng thích nghi yếu hơn trong môi trường chiến tranh cường độ cao.
So với Nhật Bản, Trung Quốc đang hiện đại hóa quân đội dựa trên nền tảng dân số lớn được đào tạo và tiếp xúc công nghệ thông tin - kỹ thuật cao từ sớm. Trong khi đó, Triều Tiên vẫn duy trì khả năng huy động quy mô lớn cho cả phòng thủ và tiến công chiến lược. Cả hai quốc gia này đều có thể duy trì hiện diện vật lý dày đặc trên chiến trường, vốn là điều mà Nhật Bản ngày càng khó đảm bảo.
Xã hội mong manh, năng lực chịu đựng thời chiến suy yếu
Già hóa dân số còn làm yếu đi các hệ thống xã hội vốn là trụ cột của quốc phòng. Một xã hội mà người cao tuổi chiếm tỷ lệ lớn sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì huy động hậu cần, sản xuất công nghiệp, và khôi phục hạ tầng trong thời chiến. Ngay cả trong thời bình, chi tiêu cho y tế và phúc lợi đã chiếm gần 1/3 ngân sách Nhật Bản. Khi chiến tranh nổ ra, những hệ thống này sẽ trở thành gánh nặng: bệnh viện, nhà máy điện và trung tâm an sinh cần được bảo vệ và tiếp tế, khiến nguồn lực bị phân tán khỏi các hoạt động quân sự trực tiếp. Xung đột kéo dài sẽ đẩy hệ thống này đến giới hạn khi lực lượng lao động cần thiết cho sửa chữa cơ sở hạ tầng, duy trì chuỗi cung ứng và hậu cần quân đội đang thu hẹp nhanh chóng.
Già hóa cũng làm tăng đáng kể tính dễ tổn thương về nhân đạo, một khía cạnh ít được bàn tới nhưng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chiến lược của Nhật Bản trong kịch bản xung đột hiện đại. Các cuộc tấn công bằng tên lửa tầm xa hoặc không kích chính xác vào hạ tầng trọng yếu như nhà máy điện hoặc mạng lưới giao thông sẽ gây thương vong hay tổn thương đặc biệt lớn cho người cao tuổi, vốn là nhóm chiếm tỷ lệ dân số ngày càng cao và có khả năng di chuyển, tự bảo vệ kém hơn nhiều người trẻ. Hệ thống y tế và phúc lợi vốn đã chịu áp lực trong thời bình sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng quá tải, khiến năng lực phản ứng khẩn cấp suy giảm.
Trong tình huống đó, JSDF sẽ buộc phải chia lực lượng để vừa đối phó với đe dọa bên ngoài, vừa tham gia vào công tác cứu hộ, vận chuyển, y tế và duy trì trật tự trong nước - một vấn đề mà Ukraine cũng đang gặp khủng hoảng trong cuộc chiến hiện nay với Nga. Một bộ phận đáng kể nhân lực và hậu cần dân sự và quân sự, vốn đang thiếu trầm trọng, sẽ phải chuyển sang hỗ trợ nội địa thay vì phục vụ cho chiến dịch phòng thủ hoặc phản công. Điều này làm phân tán sức tập trung chiến lược, khiến JSDF khó duy trì được nhịp độ hậu cần ở tiền tuyến.
Đối diện với những hệ quả chiến lược nghiêm trọng và rõ rệt do dân số già hóa gây ra, từ việc suy giảm sức bền trong chiến tranh tiêu hao đến sự mong manh của hậu cần xã hội thời chiến, Nhật Bản không thể duy trì trạng thái bị động. Các lỗ hổng về nhân lực và khả năng phản ứng nhanh đã tạo ra một đòi hỏi cấp thiết: Tokyo phải thúc đẩy những thay đổi triệt để trong học thuyết phòng thủ và chiến lược hợp tác quốc tế để bù đắp các giới hạn nhân khẩu học mang tính cấu trúc này.
Phải thay đổi!
Một trong những tác động khác của già hóa dân số đến quốc phòng của Nhật Bản chính là sự thay đổi trong chiến lược tác chiến. Việc không có đủ nhân lực phục vụ cho lực lượng phòng vệ có thể khiến quốc gia Đông Á này buộc phải đẩy mạnh nghiên cứu và đưa vào biên chế các loại vũ khí, khí tài công nghệ cao, có tính tự động hóa cao nhằm bù đắp cho các hạn chế về nhân lực. JSDF đã sử dụng nhiều loại máy bay không người lái (UAV) cho nhiều mục đích khác nhau: từ trinh sát, chiến đấu cho đến cả hậu cần. Bên cạnh đó, Tokyo cũng đang phát triển các loại pháo điện tử có tính tự động hóa cao và có tính sát thương lớn nhằm phục vụ cho việc đánh chặn các mục tiêu.
Ngoài ra, với đặc thù là quốc gia có truyền thống hải quân hùng mạnh, lực lượng phòng vệ mặt nước của Nhật Bản cũng được đầu tư mạnh mẽ theo xu hướng gia tăng các trang thiết bị có hàm lượng công nghệ rất cao. Hoạt động này càng có ý nghĩa trong bối cảnh Tokyo đang phải đối đầu với sự hiện diện ngày càng tăng của hải quân Trung Quốc tại biển Hoa Đông.
Gần đây, Tokyo đã cho hạ thủy các khinh hạm lớp Mogami, vốn có mức độ tự động hóa cao và thiết kế tàng hình, giúp nó khó bị phát hiện và nhắm mục tiêu bởi radar đối phương. Chính mẫu tàu này cũng được lực lượng hải quân Australia lựa chọn để hiện đại hóa lực lượng tàu mặt nước khi chúng được trang bị hệ thống tác chiến điện tử và cảm biến tiên tiến. Với thiết kế để vận hành với số lượng thủy thủ đoàn cực kỳ nhỏ, các khinh hạm này sẽ giúp Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF) linh hoạt và đa dụng, với chi phí thấp hơn rất nhiều.
Bên cạnh đó, Nhật Bản còn có thể lựa chọn một số các hướng đi khác nhằm gia tăng năng lực quốc phòng trong bối cảnh già hóa dân số. Chẳng hạn, Tokyo nên tăng cường hợp tác an ninh - quốc phòng với các đồng minh tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nhằm đảm bảo khả năng phòng vệ của mình. Việc thắt chặt liên minh với các đối tác cùng chí hướng trong khối Quad (gồm Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ) có thể giúp Nhật Bản tăng cường hiệu quả trong các hoạt động răn đe hoặc tuần tra (đặc biệt là trên biển).
Thậm chí, Nhật Bản có thể yêu cầu đảm bảo an ninh từ đồng minh thân thiết của mình là Mỹ. Tuy nhiên, những yêu cầu này sẽ làm tăng các nghĩa vụ của Nhật Bản đối với Mỹ do áp lực từ Quốc hội hoặc Nhà Trắng, và thậm chí có thể đòi hỏi hai nước phải sửa đổi Hiệp ước An ninh song phương. Ngoài ra, việc tăng cường liên minh quân sự với các đồng minh có thể đòi hỏi Nhật Bản phải sửa đổi hoặc diễn giải lại Điều 9 của Hiến pháp hậu chiến - vốn là một chủ đề đang gây tranh cãi sâu sắc trong chính trường xứ sở mặt trời mọc hiện nay.
***
Già hóa dân số không chỉ là một vấn đề kinh tế – xã hội, mà còn là thách thức chiến lược sâu sắc đối với an ninh và quyền tự chủ của Nhật Bản. Đà suy giảm dân số đang bào mòn nguồn lực tài chính công, kìm hãm động lực thị trường lao động và trực tiếp làm giảm sức bền chiến đấu của JSDF. Trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực ngày càng bất ổn, Tokyo buộc phải đẩy mạnh đầu tư vào tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và củng cố các liên minh an ninh để san sẻ gánh nặng kinh tế – quân sự, đồng thời thúc đẩy đổi mới năng lực phòng vệ. Chỉ khi kết hợp giữa đổi mới công nghệ liên tục và hợp tác quốc tế linh hoạt, Nhật Bản mới có thể từng bước thu hẹp các điểm yếu mang tính cấu trúc do nhân khẩu học gây ra.
Nguyễn Minh Triết hiện là sinh viên năm cuối ngành Cử nhân Kinh doanh, chuyên ngành Kinh tế học, tại Đại học RMIT Việt Nam. Triết quan tâm đến dự báo kinh tế thông qua các mô hình cấu trúc kinh tế.
Trần Nguyễn Minh Khôi hiện là sinh viên năm cuối ngành Cử nhân Kinh doanh, chuyên ngành Kinh tế học, tại Đại học RMIT Việt Nam. Chủ đề quan tâm của Khôi là hợp tác kinh tế - thương mại đa quốc gia, an ninh quốc phòng, an ninh lương thực và nguồn nước.
Triệu Chí Phong hiện là sinh viên Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Mối quan tâm của Phong là an ninh tại Châu Á - Thái Bình Dương.
Từ khoá: già hoá dân số lực lượng phòng vệ Nhật Bản tự động hoá quân sự