Khúc ca cuối cùng của con chim nhại
Làm thế nào để kể câu chuyện của một đứa trẻ, cho một đứa trẻ?
[Bài viết sẽ tiết lộ hoàn toàn cốt truyện tác phẩm. Để có trải nghiệm tốt nhất, người viết khuyến khích bạn đọc hoàn thành “Giết con chim nhại” trước khi bắt đầu]
“Giết con chim nhại” (To Kill a Mockingbird) mang trong mình những câu chuyện mà không phải người nào cũng sẵn sàng lắng nghe. Câu chuyện bàn về phiên tòa xử tội một người đàn ông da màu vướng phải cáo buộc hiếp dâm một cô gái da trắng. Chuyện cũng kể về một thị trấn nhỏ oằn mình trước sức nặng của những thành kiến về giai cấp, màu da; về người đàn ông một mình chống chọi cả một ý thức hệ để bảo vệ hai đứa trẻ con ông. Bên cạnh đó, chuyện phê phán gay gắt chế độ phân biệt chủng tộc ở miền Thâm Nam (Deep South) nước Mỹ những năm 1930, nặng màu hậu thực dân và xét lại.
Tất cả những điều đó được tác giả Harper Lee kể lại dưới mắt nhìn của Scout Finch, một cô gái nhỏ.
Chàng phi công trong “Hoàng tử bé”, Holden Caulfield trong “Bắt trẻ đồng xanh”, và nhiều nhà văn khác nữa có một điểm chung: đều từng thay lời người lớn mà “xin vé đi tuổi thơ”, hoài tiếc về sự ngây ngô không tư kiến của một thời còn-là-con-trẻ. Nên cũng khá kì lạ, khi Harper Lee lại chọn làm điều ngược lại: đưa những đứa trẻ ngây ngô đến với những gì đen tối nhất của bản chất con người. Bối cảnh địa hạt Maycomb hư cấu chất chồng định kiến hiện lên rất thật, rất gần; vì nữ nhà văn đã chọn lọc những trải nghiệm có thật từ chính tuổi thơ của mình tại miền Nam nước Mỹ để đưa vào trang sách. Và chính việc đặt lòng trắc ẩn của một đứa trẻ ngây thơ như Scout vào giữa những vấn đề gai góc của thời đại đã giúp “Giết con chim nhại” vượt xa khuôn khổ một câu chuyện thông thường, trở thành bài học nhân văn sâu sắc về đạo đức cho mọi thế hệ.
“Con sẽ không thể nào hiểu được một ai đó đến khi chui vào và bước đi trong lớp áo ngoài của họ”. Luật sư Atticus Finch đã giải thích một khái niệm khá trừu tượng (là lòng thấu cảm) cho đứa con gái sáu tuổi của mình như thế. Vì con người cần phải gạt đi những định kiến, phải biết nghĩ cho người khác, như người khác, mới có thể hiểu được họ, mới có thể truy nguyên đến được bản chất của vấn đề, mới hiểu được thế nào là định kiến, bất công, là thiện, là ác. Bài viết này cũng sẽ phân tích “Giết con chim nhại” như thế: không thông qua những học thuyết phân tích xã hội siêu hình hay các thông điệp phổ quát cao siêu, mà qua điều giản dị và gần gũi mà đứa trẻ nào cũng sẽ thích: những câu chuyện kể. Trong sách, những câu chuyện xoay quanh những điều có phần giản đơn trong cuộc đời cô bé Scout Finch, như một thỏi kẹo cao su, hay một con chim nhại.
Viên kẹo cao su dưới hốc cây, hay câu chuyện về những lằn ranh định kiến
Giết con chim nhại bắt đầu với một “ông kẹ”. “Ông kẹ” đó tên là Boo Radley, sống gần nhà của Scout và ông anh trai Jem của cô bé. Ngôi nhà mà “ông kẹ” ở thì như một căn nhà hoang - cây cối um tùm, cỏ mọc lan tràn, và chẳng ai dám bén mảng đến gần căn nhà đó. Người ta đồn, phải đêm đến “ông kẹ” mới chui ra, và rằng nếu thú cưng ở nhà mà chết, đồ đạc ở nhà mà hư hỏng, thì đều do một tay “ông kẹ” gây ra. Trẻ con trong hạt Maycomb tin rằng Boo sẽ làm hại chúng - nên bóng lạc vào nhà Radley là bóng mất, quả cây nhà Radley là quả độc.
Nhưng một ngày nọ, Scout lại tìm ra mấy viên kẹo cao su trong hốc cây sồi giữa nhà Radley và nhà cô bé. Mấy ngày sau là vài đồng xu nhỏ, chiếc đồng hồ bỏ túi đã hỏng, và đặc biệt nhất là hai bức tượng xà phòng khắc hình hai anh em. Một dịp khác, khi lén đi chơi đêm, quần của Jem mắc vào hàng rào nhà Radley lúc trốn về nhà. Tưởng thế là mất tong cái quần, nhưng sau đó, Jem phát hiện quần của mình được giặt sạch, vá lại cẩn thận và đặt ngay ngắn trên hàng rào. Con “quái vật” dường như biết cả cách giao tiếp với con người và cách quan tâm chăm sóc người khác.
Arthur “Boo” Radley chính là hiện thân hữu hình nhất cho ba từ “một ai đó” trong lời dặn của bố Atticus với cô bé Scout. Nhiều nhà phê bình văn học đồng ý rằng anh bị tự kỷ: lý do chính khiến anh bị giam lại trong nhà rất lâu trước khi Jem và Scout ra đời. Việc nhà Radley ít giao tiếp với mọi người trong hạt Maycomb nói chung càng khiến họ trở thành những kẻ dị biệt, thành mục tiêu của những lời đồn đoán thất thiệt - vì người dân Maycomb ai cũng từ chối hiểu cho người khác, hiểu rằng sống khép mình một tí chẳng có sao, hiểu rằng tự kỷ không phải là cái tội để mà phán xét. Anh chính là nạn nhân bị kỳ thị đầu tiên và gần gũi nhất với cuộc đời của Scout và Jem, dạy cho hai đứa trẻ biết thế nào là định kiến, là khác biệt. Theo một cách nào đó, Boo đã chuẩn bị cho hai đứa trẻ trước những làn sóng xung đột còn sâu sắc hơn thế nữa về chủng tộc và giai cấp ở nửa sau quyển tiểu thuyết, khi người bị thù hằn ghét bỏ còn đáng thương, còn mang tính người hơn cả anh.
Thế nhưng, việc bị người đời ghét bỏ và sợ hãi không làm Boo Radley trở nên đáng ghét, đáng sợ. Từ đầu đến cuối Boo luôn cố gắng giao tiếp với nhà Finch một cách chân thành. Khi Scout đứng một mình, lạc lõng giữa trời đông giá lạnh, Boo đã lẳng lặng khoác lên người cô bé một chiếc chăn. Anh đã chủ động với tay tới hai anh em Jem thông qua cách duy nhất mà anh còn có thể là cái hốc cây, và bọn trẻ, thật may, đã chìa tay ra để bắt lấy tay anh.
Khi câu chuyện mới bắt đầu, điều đáng sợ nhất với Scout là “ông kẹ” Boo Radley. Thế nhưng, tại điểm cao trào của câu chuyện, con “quái vật” tưởng tượng mà cô bé luôn lo sợ lại trở thành anh hùng cứu cô khỏi con quái vật mà cô chưa từng biết sợ. Đó chính là Bob Ewell - đại diện cho cái ác thuần túy, kẻ mưu sát hai anh em để trả thù vì bố của chúng dám đứng lên bảo vệ kẻ vô tội đối đầu với hắn, dám đổ tội cho hắn và gia đình hắn. Đó là lúc Scout thật sự phải bắt đầu trưởng thành, lúc cô gái nhỏ lần đầu đối diện với thế giới phức tạp của người lớn. Lúc “ông kẹ” trở thành một người bạn thân có thể xoa đầu Jem trìu mến và nhờ Scout đưa về nhà, cũng là lúc Scout vượt khỏi những định kiến ăn sâu vào đầu cô bé và những người quanh cô để đến gần và thấu cảm với một người cô luôn coi là “kẻ khác”.
Con chim nhại lọt thỏm giữa đôi hàng chữ
Mùa hè năm ấy, Maycomb nóng như đổ lửa. Thế nhưng cái nắng hè cũng không nóng bằng câu chuyện đang rần rần khắp thị trấn: phiên tòa xét xử Tom Robinson vì tội hành hung và cưỡng dâm sắp diễn ra. Hắn lại còn dám làm vậy với một cô gái mới mười chín tuổi nữa chứ, Mayella Ewell tội nghiệp; sao hắn dám, gã da đen hạ đẳng đó. Tại địa hạt nhỏ im lìm này, những câu chuyện sốt dẻo nóng hổi như thế càng trở nên hấp dẫn; nhất là khi ta nhớ ra Maycomb thuộc tiểu bang Alabama, “Tiểu bang Bông vải” nức tiếng miền Thâm Nam với lịch sử nô lệ dài dằng dặc; nhất là khi Mayella Ewell là người da trắng, còn Tom Robinson là người da đen.
Câu chuyện ấy càng gần gũi với hai anh em Scout hơn bao giờ hết, khi bố của chúng, luật sư Atticus Finch, chính là luật sư bào chữa cho Tom Robinson. Theo sự dẫn dắt của bố và những người xung quanh, chúng dần dần hiểu thêm nhiều điều xoay quanh phiên tòa xét xử và thị trấn: lần hai anh em cùng đi lễ với những người da đen khác trong địa hạt cho thấy rằng họ thực ra cũng là những người rất đáng kính trọng, khác hẳn những định kiến của thập niên 30 về người da màu. Tom Robinson là một người đàn ông tử tế, đã có vợ con, và các bằng chứng tại hiện trường chứng minh rõ ràng rằng Tom không thể nào là kẻ thủ ác. Trong khi đó, bức tranh về nhà Ewell, những người đê hèn nhỏ mọn nhất Maycomb, lại hoàn toàn khác. Không tiền (và không đủ siêng năng để kiếm tiền), không được (và không có nhu cầu được) giáo dục tử tế, giá trị của họ chỉ đơn thuần đến từ màu da trắng thượng đẳng của họ.
Tom Robinson đã suýt chết một lần dưới tay một đám đông say xỉn cuồng nộ, trước cả khi phiên xét xử đầu tiên diễn ra. Thế nhưng, lời khai từ Mayella Ewell có sức nặng hơn, và Tom vẫn bị miệt thị một cách vô lý từ công tố viên của Mayella. Ngay cả khi những bằng chứng tại hiện trường khẳng định là “không”, gần như toàn bộ bồi thẩm đoàn đã khăng khăng nói “có”. Đến cuối cùng, khi đã mất hy vọng hoàn toàn vào hai từ “công lý”, Tom đã tự tìm lối thoát cho bản thân: anh đã bị mười bảy viên đạn bắn chết trong lúc cố gắng bỏ chạy khỏi nhà tù về phía hàng rào. Anh đã bỏ chạy, bỏ chạy đi tìm sự tự do mà những người da trắng ở Maycomb sẽ không bao giờ cho phép anh đạt được.
Cái tên “Giết con chim nhại” của thiên tiểu thuyết đến từ một lời dặn của bố Atticus với Jem khi dạy con trai mình tập bắn: “Bố thích con bắn vào mấy cái thùng thiếc ở sân sau, nhưng bố biết con sẽ đi săn chim. [...] Hãy nhớ, giết một con chim nhại là một tội lỗi”. Bởi vì, chim nhại chẳng làm gì ngoài hót cho người ta nghe, rằng nó chẳng bao giờ làm hại ai, nên giết con chim nhại cũng là giết đi sự ngây thơ, là tội lỗi. Boo Radley chính là con chim nhại đầu tiên trong tác phẩm, là đầu mối để người đọc lần ra “chim nhại” là gì. Nhưng Tom Robinson mới là con chim nhại khiến người đọc ám ảnh nhất; đó là khi anh là đã chết giãy, hấp hối, đau đớn, chẳng để lại gì ngoài đám con nheo nhóc và người vợ góa phụ.
Và họ không phải những con chim nhại duy nhất. Nói theo kiểu của Jem, thì ở Maycomb có bốn hạng người: Loại người bình thường (như gia đình nhà Finch và những người hàng xóm), loại người da trắng nghèo nhưng lương thiện (như gia đình Cunningham trong truyện), loại người như nhà Ewell, và người da đen. Sự phân tách, kỳ thị giữa các tầng lớp này với nhau là hết sức rõ ràng; và đến cuối câu chuyện, hầu như chẳng có gì là thay đổi, “loại như mình không thích loại nhà Cunningham, nhà Cunningham không thích người nhà Ewell, và người nhà Ewell ghét và coi thường người da màu”. Câu chuyện và tiếng nói của những người trong ba tầng lớp còn lại đều sẽ bị gạt đi để tôn vinh góc nhìn của nhóm “bình thường” nhất. Maycomb mắc phải một “căn bệnh” mà ngay cả Atticus có lẽ cũng mắc phải: căn bệnh của sự lề hóa xã hội (marginalization) và những ranh giới giai cấp, khiến con người ta tự chia cắt thế giới thành “người bình thường” và “kẻ khác”.
Nếu chỉ coi “Giết con chim nhại” là một phúng dụ lấp lánh về thiện - ác và sự bao dung, ta sẽ dễ dàng trở thành một công dân khác của Maycomb: chỉ thấy được một câu chuyện cổ tích đẹp đẽ mà quên đi những bức tường thành định kiến chưa được phá bỏ, hằn sâu giữa đôi dòng chữ, che khuất đi những con chim nhại đáng thương chưa được làm sáng tỏ. Việc Atticus hết mình bảo vệ Tom Robinson hay sự bao dung và thấu cảm của Scout dành cho Boo Radley rõ ràng là những bước tiến nhỏ, hướng tới một xã hội bao dung hơn; nhưng hành trình ấy chắc chắn vẫn còn rất, rất dài.
Khi trang truyện cuối cùng khép lại
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm; trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776 đã trở thành ngọn đuốc soi sáng phong trào đấu tranh vị nhân quyền và bình đẳng trong suốt hàng thế kỷ.
Những lời ấy cũng đã được viết ra trong khi chế độ nô lệ tại Mỹ vẫn còn trong thời kỳ đỉnh cao, khi hàng trăm nghìn người da màu vẫn bị coi là hạ đẳng so với người da trắng. Nói theo cách mà luật sư Martin Luther King Jr. từng nói, thì với người Mỹ da đen, Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ cũng như “một tấm chi phiếu vô giá trị, một tấm chi phiếu bị hoàn trả vì không đủ tiền bảo chứng”.
Trong “Giết con chim nhại”, luật sư Atticus Finch luôn được thể hiện mình là một “quý ông” đáng nể trọng, trái ngược với hình mẫu người đàn ông da trắng xứ Thâm Nam đê hèn, cặn bã đương thời. Người đọc thấy một Atticus Finch lịch thiệp, ngăn các con mình buông lời miệt thị; giữ lại người vú già da màu giữa cuộc Đại Khủng hoảng kinh tế đầu những năm 30; một người đàn ông dũng cảm dám đơn phương đứng ra bảo vệ thân chủ của mình trước đám đông cuồng loạn - một người anh hùng thật sự. Có thể khẳng định rằng, trước lần đầu tiên đối diện cái ác và cái bất công trong đời, hai đứa trẻ đã có thể vượt qua nhờ vào những bài học đạo đức vô giá từ người cha của chúng.
Thế nên, cộng đồng yêu sách đã ngỡ ngàng, ngơ ngác và bật ngửa trước hình tượng Atticus Finch trong quyển tiểu thuyết nối tiếp “Giết con chim nhại” - “Hãy đi đặt người canh gác” (Go Set a Watchman). Hai mươi năm sau câu chuyện của quyển sách đầu tiên, cô gái Jean Louise (tên thật của Scout) trở về với Maycomb, và người cha kính yêu của cô giờ đã là một gã phân biệt chủng tộc, thành viên của một cộng đồng chống lại sự chính trực, đi ngược lại những giá trị về lòng trắc ẩn và công bằng ông từng dạy cho cô. Vì sao lại thế? Vì ngay từ đầu “Giết con chim nhại” đã là một tác phẩm kỳ thị người da màu, hay vì thế giới quan của tác giả đã thay đổi?
Hay bởi vì ngay từ đầu người ta đã hiểu “Giết con chim nhại” theo một cách khác với tác giả?
Cần nhận thức được rằng “Hãy đi đặt người canh gác” chính là bản thảo đầu tiên của “Giết con chim nhại” ngày nay. Sau khi được mua bản quyền vào năm 1957, Harper Lee đã tiếp tục chỉnh sửa bản thảo gốc thêm hai năm rưỡi nữa, trước khi được chính thức phát hành vào năm 1960. Do đó, sự tồn tại của “Hãy đi đặt người canh gác” không nên được hiểu là một vũ trụ thay thế nơi các nhân vật thay đổi bản chất so với phiên bản ban đầu; mà nên là một góc nhìn khác, một cánh cửa khác đưa người đọc đến với thế giới của cô gái Jean Louise, đến với những thông điệp mà nữ nhà văn đã muốn gửi gắm ngay từ “Giết con chim nhại”.
Vào thập niên 60 khi quyển tiểu thuyết được xuất bản, một khao khát lớn của những người Mỹ cấp tiến bấy giờ khi nói đến vấn đề sắc tộc chính là có ai đó đủ công bằng và văn minh để đứng ra dẫn dắt phong trào đấu tranh đòi được đối xử công bằng. Họ muốn tin rằng những người như Atticus Finch là có thật; rằng một miền Nam mới hơn, bình đẳng, tự do và bác ái hơn là hoàn toàn có thể. Vậy nên cũng dễ hiểu khi vị luật sư này được dành sự chú ý đặc biệt trong các bài phân tích và nghiên cứu - vì sau cùng thì tác nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất, sâu rộng nhất đến Scout và người đọc trong câu chuyện chính là ông.
Thế nhưng, thông qua câu chuyện ở “Hãy đi đặt người canh gác”, ta nhận ra rằng nhân vật chính của “Giết con chim nhại” không phải là vị luật sư Atticus Finch với một thế giới quan không toàn vẹn, mà chính là cô bé Scout. Ngay từ phần một, Scout mới là người cứu được con chim nhại Boo Radley - điều mà bố cô đã không làm được với con chim nhại mang tên Tom Robinson. Ở phần hai, bàng hoàng trước sự thật nghiệt ngã về người bố mà cô luôn quý trọng, Jean Louise buộc phải tách mình khỏi tầm ảnh hưởng của cha, thậm chí phải đấu tranh ngược lại với ông để tìm kiếm thế giới quan cho riêng mình. Trước ngưỡng cửa Phong trào Quyền dân sự cuối những năm 50, cô thiếu nữ mới là người phải đấu tranh quyết liệt để thoát khỏi những góc tối lạc hậu của di sản miền Nam; còn người cha già Atticus của cô thực chất đã hoàn thành sứ mệnh khi đã dạy được cho con gái khả năng tiến xa và vượt qua chính cái bóng của mình. Sự trưởng thành và khả năng thay đổi của Jean Louise sau này chính là thứ mang lại niềm hy vọng cho Maycomb và đưa những thế hệ sau đó đến với một thế giới mới tươi đẹp hơn.
Có lẽ Jean Louise chính là con chim nhại mà Harper Lee muốn nói đến, con chim nhại ngây thơ non nớt đã chết đi khi đối diện với cái ác, để rồi trở lại, trưởng thành, rực rỡ từ đống tro tàn. Thiên tiểu thuyết cũng chính là tiếng hót, là khúc ca cuối cùng trước khi con chim nhại lột xác: rằng sự đổi thay không đến từ một ý thức hệ hay một bậc vĩ nhân nào, mà đến từ chính ta, khi ta hành động.
***
“Làm ơn đừng viết lời mở đầu nào cho ‘Giết con chim nhại’.”, nữ văn hào Harper Lee đã từng nhắn nhủ. Có lẽ, bà muốn người đọc đến với câu chuyện của cô bé Scout với một tâm thế trung lập, khách quan, không biết trước điều gì như chính cô bé vậy - để có thể chạm tới những tầng nghĩa tận cùng của câu chuyện mà không bị vướng bận bởi những rào cản kỳ vọng, quan điểm hay thành kiến. Mà thật vậy: phải đến với “Giết con chim nhại” như một đứa trẻ, người đọc mới có thể cảm nhận được những dòng kẻ vô hình từ màu da, giai cấp khó hiểu và đáng sợ đến chừng nào. Phải như thế, người đọc mới có thể cùng lớn lên với Scout mà đối diện với Boo Radley, mới có thể thấy được những chú chim nhại lọt thỏm giữa những hàng chữ; mới có thể hiểu được tiếng hót của chúng trước khi bị đè bẹp bởi những bất công. Đó là khúc ca kêu gọi sự cảm thông cho người khác: trước hết là những người bị coi là ngoài rìa xã hội như Boo và Tom Robinson, và sau đó là người có những niềm tin mù quáng, sai lầm chính là Atticus.
Viết về thế giới của người trưởng thành qua thế giới quan của những đứa trẻ, điều nữ nhà văn Harper Lee muốn kể có lẽ là một câu chuyện ngụ ngôn dành cho người lớn. Đó là câu chuyện về những “kẻ Khác”, bị lề hóa khỏi cộng đồng, tước đi tiếng nói vì sự khác biệt, và vì cộng đồng từ chối chấp nhận những khác biệt. Có người đã cố gắng cứu lấy “kẻ Khác” bằng cách đứng ra làm anh hùng một lần để kêu gọi người khác lắng nghe, nhưng chính bản thân họ lại không làm được điều đó. Để rồi một người khác, một cô gái nhỏ đã học được bài học lắng nghe ấy và chịu ngồi lại lắng nghe, mới thật sự chạm đến được trái tim “kẻ Khác”.
Ta đâu thể nào hiểu được một ai đó đến khi chui vào và bước đi trong lớp áo ngoài của họ mà, đúng không?
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Cuộc thi Điểm sách hay 2025”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Lê Minh Vĩ hiện là sinh viên năm Hai, Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Bạn đọc có thể liên hệ Vĩ qua địa chỉ email [email protected]
[Bài viết sẽ tiết lộ hoàn toàn cốt truyện tác phẩm. Để có trải nghiệm tốt nhất, người viết khuyến khích bạn đọc hoàn thành “Giết con chim nhại” trước khi bắt đầu]
“Giết con chim nhại” (To Kill a Mockingbird) mang trong mình những câu chuyện mà không phải người nào cũng sẵn sàng lắng nghe. Câu chuyện bàn về phiên tòa xử tội một người đàn ông da màu vướng phải cáo buộc hiếp dâm một cô gái da trắng. Chuyện cũng kể về một thị trấn nhỏ oằn mình trước sức nặng của những thành kiến về giai cấp, màu da; về người đàn ông một mình chống chọi cả một ý thức hệ để bảo vệ hai đứa trẻ con ông. Bên cạnh đó, chuyện phê phán gay gắt chế độ phân biệt chủng tộc ở miền Thâm Nam (Deep South) nước Mỹ những năm 1930, nặng màu hậu thực dân và xét lại.
Tất cả những điều đó được tác giả Harper Lee kể lại dưới mắt nhìn của Scout Finch, một cô gái nhỏ.
Chàng phi công trong “Hoàng tử bé”, Holden Caulfield trong “Bắt trẻ đồng xanh”, và nhiều nhà văn khác nữa có một điểm chung: đều từng thay lời người lớn mà “xin vé đi tuổi thơ”, hoài tiếc về sự ngây ngô không tư kiến của một thời còn-là-con-trẻ. Nên cũng khá kì lạ, khi Harper Lee lại chọn làm điều ngược lại: đưa những đứa trẻ ngây ngô đến với những gì đen tối nhất của bản chất con người. Bối cảnh địa hạt Maycomb hư cấu chất chồng định kiến hiện lên rất thật, rất gần; vì nữ nhà văn đã chọn lọc những trải nghiệm có thật từ chính tuổi thơ của mình tại miền Nam nước Mỹ để đưa vào trang sách. Và chính việc đặt lòng trắc ẩn của một đứa trẻ ngây thơ như Scout vào giữa những vấn đề gai góc của thời đại đã giúp “Giết con chim nhại” vượt xa khuôn khổ một câu chuyện thông thường, trở thành bài học nhân văn sâu sắc về đạo đức cho mọi thế hệ.
“Con sẽ không thể nào hiểu được một ai đó đến khi chui vào và bước đi trong lớp áo ngoài của họ”. Luật sư Atticus Finch đã giải thích một khái niệm khá trừu tượng (là lòng thấu cảm) cho đứa con gái sáu tuổi của mình như thế. Vì con người cần phải gạt đi những định kiến, phải biết nghĩ cho người khác, như người khác, mới có thể hiểu được họ, mới có thể truy nguyên đến được bản chất của vấn đề, mới hiểu được thế nào là định kiến, bất công, là thiện, là ác. Bài viết này cũng sẽ phân tích “Giết con chim nhại” như thế: không thông qua những học thuyết phân tích xã hội siêu hình hay các thông điệp phổ quát cao siêu, mà qua điều giản dị và gần gũi mà đứa trẻ nào cũng sẽ thích: những câu chuyện kể. Trong sách, những câu chuyện xoay quanh những điều có phần giản đơn trong cuộc đời cô bé Scout Finch, như một thỏi kẹo cao su, hay một con chim nhại.
Viên kẹo cao su dưới hốc cây, hay câu chuyện về những lằn ranh định kiến
Giết con chim nhại bắt đầu với một “ông kẹ”. “Ông kẹ” đó tên là Boo Radley, sống gần nhà của Scout và ông anh trai Jem của cô bé. Ngôi nhà mà “ông kẹ” ở thì như một căn nhà hoang - cây cối um tùm, cỏ mọc lan tràn, và chẳng ai dám bén mảng đến gần căn nhà đó. Người ta đồn, phải đêm đến “ông kẹ” mới chui ra, và rằng nếu thú cưng ở nhà mà chết, đồ đạc ở nhà mà hư hỏng, thì đều do một tay “ông kẹ” gây ra. Trẻ con trong hạt Maycomb tin rằng Boo sẽ làm hại chúng - nên bóng lạc vào nhà Radley là bóng mất, quả cây nhà Radley là quả độc.
Nhưng một ngày nọ, Scout lại tìm ra mấy viên kẹo cao su trong hốc cây sồi giữa nhà Radley và nhà cô bé. Mấy ngày sau là vài đồng xu nhỏ, chiếc đồng hồ bỏ túi đã hỏng, và đặc biệt nhất là hai bức tượng xà phòng khắc hình hai anh em. Một dịp khác, khi lén đi chơi đêm, quần của Jem mắc vào hàng rào nhà Radley lúc trốn về nhà. Tưởng thế là mất tong cái quần, nhưng sau đó, Jem phát hiện quần của mình được giặt sạch, vá lại cẩn thận và đặt ngay ngắn trên hàng rào. Con “quái vật” dường như biết cả cách giao tiếp với con người và cách quan tâm chăm sóc người khác.
Arthur “Boo” Radley chính là hiện thân hữu hình nhất cho ba từ “một ai đó” trong lời dặn của bố Atticus với cô bé Scout. Nhiều nhà phê bình văn học đồng ý rằng anh bị tự kỷ: lý do chính khiến anh bị giam lại trong nhà rất lâu trước khi Jem và Scout ra đời. Việc nhà Radley ít giao tiếp với mọi người trong hạt Maycomb nói chung càng khiến họ trở thành những kẻ dị biệt, thành mục tiêu của những lời đồn đoán thất thiệt - vì người dân Maycomb ai cũng từ chối hiểu cho người khác, hiểu rằng sống khép mình một tí chẳng có sao, hiểu rằng tự kỷ không phải là cái tội để mà phán xét. Anh chính là nạn nhân bị kỳ thị đầu tiên và gần gũi nhất với cuộc đời của Scout và Jem, dạy cho hai đứa trẻ biết thế nào là định kiến, là khác biệt. Theo một cách nào đó, Boo đã chuẩn bị cho hai đứa trẻ trước những làn sóng xung đột còn sâu sắc hơn thế nữa về chủng tộc và giai cấp ở nửa sau quyển tiểu thuyết, khi người bị thù hằn ghét bỏ còn đáng thương, còn mang tính người hơn cả anh.
Thế nhưng, việc bị người đời ghét bỏ và sợ hãi không làm Boo Radley trở nên đáng ghét, đáng sợ. Từ đầu đến cuối Boo luôn cố gắng giao tiếp với nhà Finch một cách chân thành. Khi Scout đứng một mình, lạc lõng giữa trời đông giá lạnh, Boo đã lẳng lặng khoác lên người cô bé một chiếc chăn. Anh đã chủ động với tay tới hai anh em Jem thông qua cách duy nhất mà anh còn có thể là cái hốc cây, và bọn trẻ, thật may, đã chìa tay ra để bắt lấy tay anh.
Khi câu chuyện mới bắt đầu, điều đáng sợ nhất với Scout là “ông kẹ” Boo Radley. Thế nhưng, tại điểm cao trào của câu chuyện, con “quái vật” tưởng tượng mà cô bé luôn lo sợ lại trở thành anh hùng cứu cô khỏi con quái vật mà cô chưa từng biết sợ. Đó chính là Bob Ewell - đại diện cho cái ác thuần túy, kẻ mưu sát hai anh em để trả thù vì bố của chúng dám đứng lên bảo vệ kẻ vô tội đối đầu với hắn, dám đổ tội cho hắn và gia đình hắn. Đó là lúc Scout thật sự phải bắt đầu trưởng thành, lúc cô gái nhỏ lần đầu đối diện với thế giới phức tạp của người lớn. Lúc “ông kẹ” trở thành một người bạn thân có thể xoa đầu Jem trìu mến và nhờ Scout đưa về nhà, cũng là lúc Scout vượt khỏi những định kiến ăn sâu vào đầu cô bé và những người quanh cô để đến gần và thấu cảm với một người cô luôn coi là “kẻ khác”.
Con chim nhại lọt thỏm giữa đôi hàng chữ
Mùa hè năm ấy, Maycomb nóng như đổ lửa. Thế nhưng cái nắng hè cũng không nóng bằng câu chuyện đang rần rần khắp thị trấn: phiên tòa xét xử Tom Robinson vì tội hành hung và cưỡng dâm sắp diễn ra. Hắn lại còn dám làm vậy với một cô gái mới mười chín tuổi nữa chứ, Mayella Ewell tội nghiệp; sao hắn dám, gã da đen hạ đẳng đó. Tại địa hạt nhỏ im lìm này, những câu chuyện sốt dẻo nóng hổi như thế càng trở nên hấp dẫn; nhất là khi ta nhớ ra Maycomb thuộc tiểu bang Alabama, “Tiểu bang Bông vải” nức tiếng miền Thâm Nam với lịch sử nô lệ dài dằng dặc; nhất là khi Mayella Ewell là người da trắng, còn Tom Robinson là người da đen.
Câu chuyện ấy càng gần gũi với hai anh em Scout hơn bao giờ hết, khi bố của chúng, luật sư Atticus Finch, chính là luật sư bào chữa cho Tom Robinson. Theo sự dẫn dắt của bố và những người xung quanh, chúng dần dần hiểu thêm nhiều điều xoay quanh phiên tòa xét xử và thị trấn: lần hai anh em cùng đi lễ với những người da đen khác trong địa hạt cho thấy rằng họ thực ra cũng là những người rất đáng kính trọng, khác hẳn những định kiến của thập niên 30 về người da màu. Tom Robinson là một người đàn ông tử tế, đã có vợ con, và các bằng chứng tại hiện trường chứng minh rõ ràng rằng Tom không thể nào là kẻ thủ ác. Trong khi đó, bức tranh về nhà Ewell, những người đê hèn nhỏ mọn nhất Maycomb, lại hoàn toàn khác. Không tiền (và không đủ siêng năng để kiếm tiền), không được (và không có nhu cầu được) giáo dục tử tế, giá trị của họ chỉ đơn thuần đến từ màu da trắng thượng đẳng của họ.
Tom Robinson đã suýt chết một lần dưới tay một đám đông say xỉn cuồng nộ, trước cả khi phiên xét xử đầu tiên diễn ra. Thế nhưng, lời khai từ Mayella Ewell có sức nặng hơn, và Tom vẫn bị miệt thị một cách vô lý từ công tố viên của Mayella. Ngay cả khi những bằng chứng tại hiện trường khẳng định là “không”, gần như toàn bộ bồi thẩm đoàn đã khăng khăng nói “có”. Đến cuối cùng, khi đã mất hy vọng hoàn toàn vào hai từ “công lý”, Tom đã tự tìm lối thoát cho bản thân: anh đã bị mười bảy viên đạn bắn chết trong lúc cố gắng bỏ chạy khỏi nhà tù về phía hàng rào. Anh đã bỏ chạy, bỏ chạy đi tìm sự tự do mà những người da trắng ở Maycomb sẽ không bao giờ cho phép anh đạt được.
Cái tên “Giết con chim nhại” của thiên tiểu thuyết đến từ một lời dặn của bố Atticus với Jem khi dạy con trai mình tập bắn: “Bố thích con bắn vào mấy cái thùng thiếc ở sân sau, nhưng bố biết con sẽ đi săn chim. [...] Hãy nhớ, giết một con chim nhại là một tội lỗi”. Bởi vì, chim nhại chẳng làm gì ngoài hót cho người ta nghe, rằng nó chẳng bao giờ làm hại ai, nên giết con chim nhại cũng là giết đi sự ngây thơ, là tội lỗi. Boo Radley chính là con chim nhại đầu tiên trong tác phẩm, là đầu mối để người đọc lần ra “chim nhại” là gì. Nhưng Tom Robinson mới là con chim nhại khiến người đọc ám ảnh nhất; đó là khi anh là đã chết giãy, hấp hối, đau đớn, chẳng để lại gì ngoài đám con nheo nhóc và người vợ góa phụ.
Và họ không phải những con chim nhại duy nhất. Nói theo kiểu của Jem, thì ở Maycomb có bốn hạng người: Loại người bình thường (như gia đình nhà Finch và những người hàng xóm), loại người da trắng nghèo nhưng lương thiện (như gia đình Cunningham trong truyện), loại người như nhà Ewell, và người da đen. Sự phân tách, kỳ thị giữa các tầng lớp này với nhau là hết sức rõ ràng; và đến cuối câu chuyện, hầu như chẳng có gì là thay đổi, “loại như mình không thích loại nhà Cunningham, nhà Cunningham không thích người nhà Ewell, và người nhà Ewell ghét và coi thường người da màu”. Câu chuyện và tiếng nói của những người trong ba tầng lớp còn lại đều sẽ bị gạt đi để tôn vinh góc nhìn của nhóm “bình thường” nhất. Maycomb mắc phải một “căn bệnh” mà ngay cả Atticus có lẽ cũng mắc phải: căn bệnh của sự lề hóa xã hội (marginalization) và những ranh giới giai cấp, khiến con người ta tự chia cắt thế giới thành “người bình thường” và “kẻ khác”.
Nếu chỉ coi “Giết con chim nhại” là một phúng dụ lấp lánh về thiện - ác và sự bao dung, ta sẽ dễ dàng trở thành một công dân khác của Maycomb: chỉ thấy được một câu chuyện cổ tích đẹp đẽ mà quên đi những bức tường thành định kiến chưa được phá bỏ, hằn sâu giữa đôi dòng chữ, che khuất đi những con chim nhại đáng thương chưa được làm sáng tỏ. Việc Atticus hết mình bảo vệ Tom Robinson hay sự bao dung và thấu cảm của Scout dành cho Boo Radley rõ ràng là những bước tiến nhỏ, hướng tới một xã hội bao dung hơn; nhưng hành trình ấy chắc chắn vẫn còn rất, rất dài.
Khi trang truyện cuối cùng khép lại
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm; trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776 đã trở thành ngọn đuốc soi sáng phong trào đấu tranh vị nhân quyền và bình đẳng trong suốt hàng thế kỷ.
Những lời ấy cũng đã được viết ra trong khi chế độ nô lệ tại Mỹ vẫn còn trong thời kỳ đỉnh cao, khi hàng trăm nghìn người da màu vẫn bị coi là hạ đẳng so với người da trắng. Nói theo cách mà luật sư Martin Luther King Jr. từng nói, thì với người Mỹ da đen, Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ cũng như “một tấm chi phiếu vô giá trị, một tấm chi phiếu bị hoàn trả vì không đủ tiền bảo chứng”.
Trong “Giết con chim nhại”, luật sư Atticus Finch luôn được thể hiện mình là một “quý ông” đáng nể trọng, trái ngược với hình mẫu người đàn ông da trắng xứ Thâm Nam đê hèn, cặn bã đương thời. Người đọc thấy một Atticus Finch lịch thiệp, ngăn các con mình buông lời miệt thị; giữ lại người vú già da màu giữa cuộc Đại Khủng hoảng kinh tế đầu những năm 30; một người đàn ông dũng cảm dám đơn phương đứng ra bảo vệ thân chủ của mình trước đám đông cuồng loạn - một người anh hùng thật sự. Có thể khẳng định rằng, trước lần đầu tiên đối diện cái ác và cái bất công trong đời, hai đứa trẻ đã có thể vượt qua nhờ vào những bài học đạo đức vô giá từ người cha của chúng.
Thế nên, cộng đồng yêu sách đã ngỡ ngàng, ngơ ngác và bật ngửa trước hình tượng Atticus Finch trong quyển tiểu thuyết nối tiếp “Giết con chim nhại” - “Hãy đi đặt người canh gác” (Go Set a Watchman). Hai mươi năm sau câu chuyện của quyển sách đầu tiên, cô gái Jean Louise (tên thật của Scout) trở về với Maycomb, và người cha kính yêu của cô giờ đã là một gã phân biệt chủng tộc, thành viên của một cộng đồng chống lại sự chính trực, đi ngược lại những giá trị về lòng trắc ẩn và công bằng ông từng dạy cho cô. Vì sao lại thế? Vì ngay từ đầu “Giết con chim nhại” đã là một tác phẩm kỳ thị người da màu, hay vì thế giới quan của tác giả đã thay đổi?
Hay bởi vì ngay từ đầu người ta đã hiểu “Giết con chim nhại” theo một cách khác với tác giả?
Cần nhận thức được rằng “Hãy đi đặt người canh gác” chính là bản thảo đầu tiên của “Giết con chim nhại” ngày nay. Sau khi được mua bản quyền vào năm 1957, Harper Lee đã tiếp tục chỉnh sửa bản thảo gốc thêm hai năm rưỡi nữa, trước khi được chính thức phát hành vào năm 1960. Do đó, sự tồn tại của “Hãy đi đặt người canh gác” không nên được hiểu là một vũ trụ thay thế nơi các nhân vật thay đổi bản chất so với phiên bản ban đầu; mà nên là một góc nhìn khác, một cánh cửa khác đưa người đọc đến với thế giới của cô gái Jean Louise, đến với những thông điệp mà nữ nhà văn đã muốn gửi gắm ngay từ “Giết con chim nhại”.
Vào thập niên 60 khi quyển tiểu thuyết được xuất bản, một khao khát lớn của những người Mỹ cấp tiến bấy giờ khi nói đến vấn đề sắc tộc chính là có ai đó đủ công bằng và văn minh để đứng ra dẫn dắt phong trào đấu tranh đòi được đối xử công bằng. Họ muốn tin rằng những người như Atticus Finch là có thật; rằng một miền Nam mới hơn, bình đẳng, tự do và bác ái hơn là hoàn toàn có thể. Vậy nên cũng dễ hiểu khi vị luật sư này được dành sự chú ý đặc biệt trong các bài phân tích và nghiên cứu - vì sau cùng thì tác nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất, sâu rộng nhất đến Scout và người đọc trong câu chuyện chính là ông.
Thế nhưng, thông qua câu chuyện ở “Hãy đi đặt người canh gác”, ta nhận ra rằng nhân vật chính của “Giết con chim nhại” không phải là vị luật sư Atticus Finch với một thế giới quan không toàn vẹn, mà chính là cô bé Scout. Ngay từ phần một, Scout mới là người cứu được con chim nhại Boo Radley - điều mà bố cô đã không làm được với con chim nhại mang tên Tom Robinson. Ở phần hai, bàng hoàng trước sự thật nghiệt ngã về người bố mà cô luôn quý trọng, Jean Louise buộc phải tách mình khỏi tầm ảnh hưởng của cha, thậm chí phải đấu tranh ngược lại với ông để tìm kiếm thế giới quan cho riêng mình. Trước ngưỡng cửa Phong trào Quyền dân sự cuối những năm 50, cô thiếu nữ mới là người phải đấu tranh quyết liệt để thoát khỏi những góc tối lạc hậu của di sản miền Nam; còn người cha già Atticus của cô thực chất đã hoàn thành sứ mệnh khi đã dạy được cho con gái khả năng tiến xa và vượt qua chính cái bóng của mình. Sự trưởng thành và khả năng thay đổi của Jean Louise sau này chính là thứ mang lại niềm hy vọng cho Maycomb và đưa những thế hệ sau đó đến với một thế giới mới tươi đẹp hơn.
Có lẽ Jean Louise chính là con chim nhại mà Harper Lee muốn nói đến, con chim nhại ngây thơ non nớt đã chết đi khi đối diện với cái ác, để rồi trở lại, trưởng thành, rực rỡ từ đống tro tàn. Thiên tiểu thuyết cũng chính là tiếng hót, là khúc ca cuối cùng trước khi con chim nhại lột xác: rằng sự đổi thay không đến từ một ý thức hệ hay một bậc vĩ nhân nào, mà đến từ chính ta, khi ta hành động.
***
“Làm ơn đừng viết lời mở đầu nào cho ‘Giết con chim nhại’.”, nữ văn hào Harper Lee đã từng nhắn nhủ. Có lẽ, bà muốn người đọc đến với câu chuyện của cô bé Scout với một tâm thế trung lập, khách quan, không biết trước điều gì như chính cô bé vậy - để có thể chạm tới những tầng nghĩa tận cùng của câu chuyện mà không bị vướng bận bởi những rào cản kỳ vọng, quan điểm hay thành kiến. Mà thật vậy: phải đến với “Giết con chim nhại” như một đứa trẻ, người đọc mới có thể cảm nhận được những dòng kẻ vô hình từ màu da, giai cấp khó hiểu và đáng sợ đến chừng nào. Phải như thế, người đọc mới có thể cùng lớn lên với Scout mà đối diện với Boo Radley, mới có thể thấy được những chú chim nhại lọt thỏm giữa những hàng chữ; mới có thể hiểu được tiếng hót của chúng trước khi bị đè bẹp bởi những bất công. Đó là khúc ca kêu gọi sự cảm thông cho người khác: trước hết là những người bị coi là ngoài rìa xã hội như Boo và Tom Robinson, và sau đó là người có những niềm tin mù quáng, sai lầm chính là Atticus.
Viết về thế giới của người trưởng thành qua thế giới quan của những đứa trẻ, điều nữ nhà văn Harper Lee muốn kể có lẽ là một câu chuyện ngụ ngôn dành cho người lớn. Đó là câu chuyện về những “kẻ Khác”, bị lề hóa khỏi cộng đồng, tước đi tiếng nói vì sự khác biệt, và vì cộng đồng từ chối chấp nhận những khác biệt. Có người đã cố gắng cứu lấy “kẻ Khác” bằng cách đứng ra làm anh hùng một lần để kêu gọi người khác lắng nghe, nhưng chính bản thân họ lại không làm được điều đó. Để rồi một người khác, một cô gái nhỏ đã học được bài học lắng nghe ấy và chịu ngồi lại lắng nghe, mới thật sự chạm đến được trái tim “kẻ Khác”.
Ta đâu thể nào hiểu được một ai đó đến khi chui vào và bước đi trong lớp áo ngoài của họ mà, đúng không?
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Cuộc thi Điểm sách hay 2025”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Lê Minh Vĩ hiện là sinh viên năm Hai, Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Bạn đọc có thể liên hệ Vĩ qua địa chỉ email [email protected]
Từ khoá: Giết con chim nhại điểm sách