Mỹ và đồng minh tăng cường răn đe trên Chuỗi đảo thứ nhất
Washington đang tăng tốc phối hợp với hai trục đồng minh Đông - Tây nhằm mở rộng kiểm soát và răn đe trên Chuỗi đảo thứ nhất ở phía Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, hạn chế về nguồn lực triển khai, chính sách “làm khó” đồng minh và bất đồng lưỡng đảng có thể gây nhiều trở ngại cho tham vọng này.
Chuỗi đảo thứ nhất (First Island Chain) (CĐTN) được xem như tuyến phòng thủ tự nhiên đầu tiên trong thế trận chiến lược của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương, hình thành từ chuỗi lãnh thổ hải đảo nối liền Nhật Bản, Đài Loan và Philippines, qua đó ngăn cách vùng biển ven bờ của Trung Quốc với phần rộng lớn còn lại của Thái Bình Dương. Trong công cuộc mở rộng quyền lực biển, hải quân nước xanh của Trung Quốc (PLAN) phải thoát ra khỏi chuỗi đảo này để tiếp cận Thái Bình Dương và xa hơn nữa.
Vì vậy, tăng cường răn đe trên CĐTN là một trong những mục tiêu quan trọng trong Chiến lược An ninh Quốc gia của Mỹ dưới thời Trump 2.0 (công bố tháng 11/2025), với bốn lần đề cập đến tên chuỗi đảo này, trong đó nhấn mạnh mục tiêu “xây dựng một lực lượng quân sự đủ năng lực để ngăn chặn mọi hành vi gây hấn ở bất kỳ đâu trong CĐTN”.
Cũng trong Chiến lược, Washington xác định “Những nỗ lực ngoại giao của Mỹ cần tập trung thúc đẩy các đồng minh và đối tác trên CĐTN để cho phép quân đội Mỹ tiếp cận rộng rãi hơn các cảng biển và cơ sở quân sự, tăng chi tiêu cho quốc phòng của chính họ, và quan trọng hơn hết là đầu tư vào các năng lực nhằm răn đe hành vi xâm lược”.
Từ những cơ sở đó, Mỹ đang triển khai dày đặc các hoạt động hợp tác quốc phòng với hai trục đồng minh khu vực để theo đuổi mục tiêu tăng cường răn đe tại CĐTN.
Trục đồng minh phương Tây: “Toàn tiến” với AUKUS
Để tiếp cận vùng Thái Bình Dương mở rộng, tàu và máy bay Trung Quốc không thể chỉ đơn giản đi về phía đông. Bắc Kinh cần đi qua một số lượng nhỏ các khoảng trống hẹp trong chuỗi đảo này. Eo biển Miyako - một lối đi rộng giữa Okinawa và đảo Miyako - là một trong số ít các tuyến đường mà các đội hình quân sự lớn có thể sử dụng mà không cần đi vào lãnh hải của quốc gia khác. Hành lang là vùng biển quốc tế, mặc dù các hòn đảo xung quanh do Nhật Bản kiểm soát.
Bản đồ thể hiện vị trí của Eo biển Miyako. Nguồn: Google Images
Với Washington, eo biển này khiến việc duy trì AUKUS - liên minh quân sự ba bên giữa Mỹ, Anh và Australia, có ý nghĩa quan trọng: các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đặt tại Australia được thiết kế để hoạt động ở phía bên kia eo biển Miyako, qua đó củng cố khả năng kiểm soát của Mỹ đối với vùng Thái Bình Dương xa, đồng thời giữ cho hải quân Trung Quốc bị bó hẹp trong khu vực ven bờ của họ.
Tại một cuộc họp của Lầu Năm Góc vào ngày 10/12, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ (trước đây là Bộ Quốc phòng) Pete Hegseth và các đối tác của ông từ Australia và Anh đã cam kết sẽ “toàn tiến” (“full steam ahead”) với AUKUS, một hiệp ước quân sự ba bên mà qua đó Mỹ đang biến Australia thành một căn cứ hoạt động tiền phương và trung tâm tàu ngầm hạt nhân cho một cuộc chiến tiềm tàng chống lại Trung Quốc. Mục đích của quyết tâm này là đẩy nhanh quá trình chuẩn bị cho chiến tranh bằng cách xây dựng các căn cứ nhanh hơn, mở rộng biên chế quân sự, và thúc đẩy phát triển vũ khí với tốc độ tối đa.
Mới đây, Bộ Tư lệnh AUKUS cũng đã được thành lập tại căn cứ hải quân HMAS Stirling (gần thành phố Perth, Australia), tập trung vào đảm bảo an ninh cho dự án tàu ngầm hạt nhân AUKUS. Việc thành lập Bộ Tư lệnh này có thể củng cố chiều sâu chiến lược, bảo đảm năng lực chỉ huy và hậu cần cho tác chiến ngầm liên tục của Mỹ và đồng minh tại Tây Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó, nếu theo đúng tiến độ đề ra trong Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo về AUKUS vào năm 2023, việc Mỹ và Anh luân chuyển tàu ngầm hạt nhân tấn công (SSN) tới Australia từ năm 2027 sẽ giúp Mỹ có một điểm tựa tác chiến ngầm ở phía nam CĐTN, cho phép Hải quân Mỹ linh hoạt hơn trong việc duy trì, xoay vòng và chi viện cho lực lượng SSN dọc chuỗi đảo này, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào các căn cứ tiền phương dễ bị tổn thương như Guam hay Hawaii.
Do vậy, các hoạt động tiếp theo nhằm thúc đẩy AUKUS dự kiến sẽ được đẩy mạnh, như một trong các trục chính góp phần tăng cường răn đe CĐTN.
Trục đồng minh châu Á: Tăng cường phối hợp với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Đài Loan
Lãnh thổ của Nhật Bản và Philippines đều là thành phần cấu tạo nên CĐTN, biến hai quốc gia này thành đồng minh quan trọng của Mỹ trong chiến lược an ninh trên chuỗi đảo. Hàn Quốc, mặc dù không là quốc gia trực tiếp cấu thành CĐTN, vẫn đóng vai trò là mỏ neo quan trọng dọc theo chuỗi đảo để giám sát các tàu Trung Quốc và hạn chế lực lượng hải quân nước này tiếp cận vùng biển mở rộng.
Trước mắt, các cam kết an ninh của Mỹ dường như tập trung nhiều hơn vào Philippines và Nhật Bản. Cụ thể, vào tháng 8 năm ngoái, Washington và Manila đã phê duyệt hơn 500 hoạt động quân sự chung cho năm 2026 trong khuôn khổ Ủy ban Cam kết An ninh (MDB-SEB), trong đó bao gồm các cuộc tập trận quy mô lớn và trao đổi chuyên gia về chủ đề nhỏ hơn. Chính phủ Mỹ cũng đã ký các thỏa thuận hợp tác quốc phòng với Nhật Bản và Philippines để tăng cường khả năng răn đe của các quốc gia trong CĐTN.
Tháng 11/2025, Quân đội Mỹ đã có kế hoạch thiết lập các căn cứ tạm thời dọc theo chuỗi đảo Nansei phía tây nam Nhật Bản và Philippines để triển khai các đơn vị tên lửa trong trường hợp xảy ra tình huống bất ngờ ở eo biển Đài Loan. Sau đó một tháng, họ đã triển khai các hệ thống tên lửa Typhon đến tỉnh Yamaguchi của Nhật Bản và tỉnh Zambales ở Philippines trong các cuộc tập trận quân sự chung. Mỹ cũng đã lắp đặt các hệ thống chống hạm NMESIS ở tỉnh Okinawa của Nhật Bản, đảo Miyako và đảo Ishigaki, cũng như đảo Batan ở Philippines.
Về phía Hàn Quốc, chính quyền Trump đang có những hành động rõ ràng hơn nhằm đưa Seoul không chỉ trở thành một mặt trận răn đe chính đối với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên mà còn là bàn đạp để gia tăng sức ép lên Trung Quốc. Đầu năm nay, Washington cho biết các lực lượng Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của họ vươn ra ngoài bán đảo Triều Tiên để thiết lập hệ thống sẵn sàng ứng phó với tình huống bất ngờ ở Đài Loan. Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng từng tuyên bố rằng Lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc (USFK) “phải duy trì sự linh hoạt chiến lược để đối phó với các mối đe dọa không chỉ trên bán đảo Triều Tiên mà còn trên toàn khu vực”.
Bên cạnh tăng cường hiện diện quân sự trên lãnh thổ của các đồng minh, thúc ép các quốc gia này tăng chi tiêu quốc phòng cũng nằm trong nỗ lực của Washington nhằm tăng cường răn đe trên CĐTN. Chiến lược An ninh Quốc gia của Nhà Trắng ghi rõ: “Với lời khẳng định của Tổng thống Trump về việc tăng cường chia sẻ gánh nặng từ Nhật Bản và Hàn Quốc, chúng ta phải thúc giục các quốc gia này tăng chi tiêu quốc phòng, tập trung vào các khả năng - bao gồm cả những khả năng mới - cần thiết để răn đe đối thủ và bảo vệ CĐTN”.
Đáp lại lời thúc giục của đồng minh, chính quyền Tổng thống Lee Jae-myung của Hàn Quốc đã chia sẻ kế hoạch tăng chi tiêu quốc phòng lên 3,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) như một phần của kế hoạch hiện đại hóa liên minh Mỹ-Hàn. Nội các của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi vào tháng 11 năm ngoái cũng đã phê duyệt 58 tỷ USD chi tiêu quốc phòng cho năm tài chính 2026 - tăng 3,8% so với năm tài chính trước đó, đánh dấu mức cao kỷ lục trong năm thứ 12 liên tiếp. Cùng với đó, Tokyo cho biết sẽ đưa mục tiêu tăng cường khả năng phòng thủ ở Thái Bình Dương trở thành một trong những trụ cột trong Chiến lược An ninh Quốc gia, Chiến lược Quốc phòng và Chương trình xây dựng quốc phòng sửa đổi trong năm nay.
Riêng với Đài Loan, hòn đảo này không chỉ nằm trên CĐTN mà còn ở vị trí cửa ngõ trực tiếp của Trung Quốc ra Chuỗi đảo thứ hai - nằm xa hơn về phía đông và bao gồm căn cứ chính của Mỹ tại Guam, do đó trở thành địa bàn răn đe quan trọng được xác định trong Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025. Tuy nhiên, Washington chỉ có thể thực hiện các biện pháp phòng thủ đối với hòn đảo từ Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc (như đã dẫn ở trên) mà không thể đóng quân trực tiếp ở Đài Loan, vì điều này sẽ vi phạm lằn ranh đỏ với Bắc Kinh. Mặc dù vậy, Mỹ cũng đã thành công buộc Đài Loan cam kết tăng chi tiêu quốc phòng lên 3% trong năm nay và 5% vào năm 2030.
Một số dự báo
Trong thời gian tới, chạy đua vũ trang ở khu vực nhiều khả năng sẽ gia tăng, khi Nhà Trắng thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc tăng cường răn đe trên CĐTN thông qua phối hợp với hai trục đồng minh Đông - Tây tại khu vực.
Không dừng lại ở hợp tác đơn lẻ với từng quốc gia, chính quyền Trump có thể sẽ tăng cường các hành động tập thể trên cơ sở liên kết các đồng minh khu vực để cấu thành một cấu trúc răn đe toàn diện dọc theo CĐTN. Tướng Lục quân Mỹ Xavier Brunson, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Liên Hợp Quốc và Lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc (USFK), cho biết: “Mỗi đối tác [Hàn Quốc, Nhật Bản và Philippines] mang đến một khả năng riêng biệt: độ sâu trung tâm của Hàn Quốc, lợi thế công nghệ và phạm vi hàng hải của Nhật Bản, và khả năng tiếp cận của Philippines với các tuyến đường biển quan trọng phía nam”. Nếu được liên kết chặt chẽ, “tam giác chiến lược” này không chỉ giúp Mỹ chia sẻ gánh nặng, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy việc phối hợp và tăng cường khả năng tác chiến giữa các đối tác ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, tham vọng răn đe của Mỹ vẫn đang đối mặt với những trở ngại rõ rệt.
Mặc dù ý chí chính trị về việc thúc đẩy AUKUS được Mỹ khẳng định mạnh mẽ, nguồn lực thực tế để triển khai một chương trình tàu ngầm quy mô lớn đến năm 2040 đang bị giới hạn. Năng lực đóng tàu ngầm hiện tại của Mỹ chỉ đạt hơn một nửa so với mức cần thiết để đáp ứng các yêu cầu quốc phòng của chính quốc gia này. Điều này đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ khó có thể chuyển giao cho Australia ba tàu ngầm lớp Virginia theo lộ trình đến năm 2030, trừ khi Washington nhanh chóng tăng gấp đôi năng suất đóng tàu - một mục tiêu đầy thách thức trong bối cảnh hiện nay.
Về nỗ lực phối hợp với trục đồng minh châu Á, những xích mích kinh tế gia tăng, những thay đổi chính trị trong nước ở Nhật Bản và đặc biệt là Hàn Quốc, có thể làm chậm lại đà hợp tác an ninh hiện tại. Giữa năm ngoái, Tokyo đã huỷ cuộc họp an ninh 2+2 giữa Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Ngoại giao với Washington vì bất đồng liên quan đến thuế quan và yêu cầu gia tăng chi tiêu quốc phòng từ phía Mỹ.
Tại Hàn Quốc, lập trường tương đối mềm mỏng với Trung Quốc của Tổng thống Lee Jae- myung - người coi Chủ tịch Tập Cận Bình là một trung gian hòa giải tích cực đối với vấn đề Triều Tiên, có thể tạo thêm dư địa để Bắc Kinh gia tăng ảnh hưởng đối với Seoul và làm phức tạp hơn các tính toán răn đe của Mỹ trên CĐTN.
Trong bối cảnh đó, để hạn chế mức độ liên kết chiến lược của các quốc gia này với Washington, Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ tìm cách khai thác các vết nứt trong mạng lưới liên minh của Mỹ tại khu vực thông qua các công cụ kinh tế và ngoại giao.
Sau cùng, ngay cả khi chính quyền Donald Trump thể hiện quyết tâm cao độ trong việc tái cấu trúc thế trận răn đe dọc CĐTN, quỹ đạo chiến lược này vẫn không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của Nhà Trắng. Những chia rẽ lưỡng đảng ngày càng sâu sắc trong Quốc hội Mỹ có thể trở thành lực cản đáng kể đối với các cam kết an ninh dài hạn, đặc biệt nếu đảng Cộng hoà - hiện chỉ nắm giữ đa số mong manh tại Hạ viện, không duy trì được quyền kiểm soát lưỡng viện sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp tới.
Trong bối cảnh đó, chiến lược răn đe của Mỹ tại CĐTN, dù đang được đẩy mạnh cả về ý chí lẫn nguồn lực thông qua tranh thủ sự phối hợp với các quốc gia đồng minh, vẫn sẽ phải đối mặt với những giới hạn nội tại bắt nguồn từ chính cấu trúc chính trị trong nước.
Bạn có hài lòng về bài viết? Đóng góp cho VSF tại đây. Mọi đóng góp tài chính từ quý độc giả đều là nguồn động lực to lớn để chúng tôi tiếp tục xuất bản những nội dung chất lượng cho cộng đồng.
Chuỗi đảo thứ nhất (First Island Chain) (CĐTN) được xem như tuyến phòng thủ tự nhiên đầu tiên trong thế trận chiến lược của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương, hình thành từ chuỗi lãnh thổ hải đảo nối liền Nhật Bản, Đài Loan và Philippines, qua đó ngăn cách vùng biển ven bờ của Trung Quốc với phần rộng lớn còn lại của Thái Bình Dương. Trong công cuộc mở rộng quyền lực biển, hải quân nước xanh của Trung Quốc (PLAN) phải thoát ra khỏi chuỗi đảo này để tiếp cận Thái Bình Dương và xa hơn nữa.
Vì vậy, tăng cường răn đe trên CĐTN là một trong những mục tiêu quan trọng trong Chiến lược An ninh Quốc gia của Mỹ dưới thời Trump 2.0 (công bố tháng 11/2025), với bốn lần đề cập đến tên chuỗi đảo này, trong đó nhấn mạnh mục tiêu “xây dựng một lực lượng quân sự đủ năng lực để ngăn chặn mọi hành vi gây hấn ở bất kỳ đâu trong CĐTN”.
Cũng trong Chiến lược, Washington xác định “Những nỗ lực ngoại giao của Mỹ cần tập trung thúc đẩy các đồng minh và đối tác trên CĐTN để cho phép quân đội Mỹ tiếp cận rộng rãi hơn các cảng biển và cơ sở quân sự, tăng chi tiêu cho quốc phòng của chính họ, và quan trọng hơn hết là đầu tư vào các năng lực nhằm răn đe hành vi xâm lược”.
Từ những cơ sở đó, Mỹ đang triển khai dày đặc các hoạt động hợp tác quốc phòng với hai trục đồng minh khu vực để theo đuổi mục tiêu tăng cường răn đe tại CĐTN.
Trục đồng minh phương Tây: “Toàn tiến” với AUKUS
Để tiếp cận vùng Thái Bình Dương mở rộng, tàu và máy bay Trung Quốc không thể chỉ đơn giản đi về phía đông. Bắc Kinh cần đi qua một số lượng nhỏ các khoảng trống hẹp trong chuỗi đảo này. Eo biển Miyako - một lối đi rộng giữa Okinawa và đảo Miyako - là một trong số ít các tuyến đường mà các đội hình quân sự lớn có thể sử dụng mà không cần đi vào lãnh hải của quốc gia khác. Hành lang là vùng biển quốc tế, mặc dù các hòn đảo xung quanh do Nhật Bản kiểm soát.
Bản đồ thể hiện vị trí của Eo biển Miyako. Nguồn: Google Images
Với Washington, eo biển này khiến việc duy trì AUKUS - liên minh quân sự ba bên giữa Mỹ, Anh và Australia, có ý nghĩa quan trọng: các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đặt tại Australia được thiết kế để hoạt động ở phía bên kia eo biển Miyako, qua đó củng cố khả năng kiểm soát của Mỹ đối với vùng Thái Bình Dương xa, đồng thời giữ cho hải quân Trung Quốc bị bó hẹp trong khu vực ven bờ của họ.
Tại một cuộc họp của Lầu Năm Góc vào ngày 10/12, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ (trước đây là Bộ Quốc phòng) Pete Hegseth và các đối tác của ông từ Australia và Anh đã cam kết sẽ “toàn tiến” (“full steam ahead”) với AUKUS, một hiệp ước quân sự ba bên mà qua đó Mỹ đang biến Australia thành một căn cứ hoạt động tiền phương và trung tâm tàu ngầm hạt nhân cho một cuộc chiến tiềm tàng chống lại Trung Quốc. Mục đích của quyết tâm này là đẩy nhanh quá trình chuẩn bị cho chiến tranh bằng cách xây dựng các căn cứ nhanh hơn, mở rộng biên chế quân sự, và thúc đẩy phát triển vũ khí với tốc độ tối đa.
Mới đây, Bộ Tư lệnh AUKUS cũng đã được thành lập tại căn cứ hải quân HMAS Stirling (gần thành phố Perth, Australia), tập trung vào đảm bảo an ninh cho dự án tàu ngầm hạt nhân AUKUS. Việc thành lập Bộ Tư lệnh này có thể củng cố chiều sâu chiến lược, bảo đảm năng lực chỉ huy và hậu cần cho tác chiến ngầm liên tục của Mỹ và đồng minh tại Tây Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó, nếu theo đúng tiến độ đề ra trong Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo về AUKUS vào năm 2023, việc Mỹ và Anh luân chuyển tàu ngầm hạt nhân tấn công (SSN) tới Australia từ năm 2027 sẽ giúp Mỹ có một điểm tựa tác chiến ngầm ở phía nam CĐTN, cho phép Hải quân Mỹ linh hoạt hơn trong việc duy trì, xoay vòng và chi viện cho lực lượng SSN dọc chuỗi đảo này, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào các căn cứ tiền phương dễ bị tổn thương như Guam hay Hawaii.
Do vậy, các hoạt động tiếp theo nhằm thúc đẩy AUKUS dự kiến sẽ được đẩy mạnh, như một trong các trục chính góp phần tăng cường răn đe CĐTN.
Trục đồng minh châu Á: Tăng cường phối hợp với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Đài Loan
Lãnh thổ của Nhật Bản và Philippines đều là thành phần cấu tạo nên CĐTN, biến hai quốc gia này thành đồng minh quan trọng của Mỹ trong chiến lược an ninh trên chuỗi đảo. Hàn Quốc, mặc dù không là quốc gia trực tiếp cấu thành CĐTN, vẫn đóng vai trò là mỏ neo quan trọng dọc theo chuỗi đảo để giám sát các tàu Trung Quốc và hạn chế lực lượng hải quân nước này tiếp cận vùng biển mở rộng.
Trước mắt, các cam kết an ninh của Mỹ dường như tập trung nhiều hơn vào Philippines và Nhật Bản. Cụ thể, vào tháng 8 năm ngoái, Washington và Manila đã phê duyệt hơn 500 hoạt động quân sự chung cho năm 2026 trong khuôn khổ Ủy ban Cam kết An ninh (MDB-SEB), trong đó bao gồm các cuộc tập trận quy mô lớn và trao đổi chuyên gia về chủ đề nhỏ hơn. Chính phủ Mỹ cũng đã ký các thỏa thuận hợp tác quốc phòng với Nhật Bản và Philippines để tăng cường khả năng răn đe của các quốc gia trong CĐTN.
Tháng 11/2025, Quân đội Mỹ đã có kế hoạch thiết lập các căn cứ tạm thời dọc theo chuỗi đảo Nansei phía tây nam Nhật Bản và Philippines để triển khai các đơn vị tên lửa trong trường hợp xảy ra tình huống bất ngờ ở eo biển Đài Loan. Sau đó một tháng, họ đã triển khai các hệ thống tên lửa Typhon đến tỉnh Yamaguchi của Nhật Bản và tỉnh Zambales ở Philippines trong các cuộc tập trận quân sự chung. Mỹ cũng đã lắp đặt các hệ thống chống hạm NMESIS ở tỉnh Okinawa của Nhật Bản, đảo Miyako và đảo Ishigaki, cũng như đảo Batan ở Philippines.
Về phía Hàn Quốc, chính quyền Trump đang có những hành động rõ ràng hơn nhằm đưa Seoul không chỉ trở thành một mặt trận răn đe chính đối với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên mà còn là bàn đạp để gia tăng sức ép lên Trung Quốc. Đầu năm nay, Washington cho biết các lực lượng Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của họ vươn ra ngoài bán đảo Triều Tiên để thiết lập hệ thống sẵn sàng ứng phó với tình huống bất ngờ ở Đài Loan. Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng từng tuyên bố rằng Lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc (USFK) “phải duy trì sự linh hoạt chiến lược để đối phó với các mối đe dọa không chỉ trên bán đảo Triều Tiên mà còn trên toàn khu vực”.
Bên cạnh tăng cường hiện diện quân sự trên lãnh thổ của các đồng minh, thúc ép các quốc gia này tăng chi tiêu quốc phòng cũng nằm trong nỗ lực của Washington nhằm tăng cường răn đe trên CĐTN. Chiến lược An ninh Quốc gia của Nhà Trắng ghi rõ: “Với lời khẳng định của Tổng thống Trump về việc tăng cường chia sẻ gánh nặng từ Nhật Bản và Hàn Quốc, chúng ta phải thúc giục các quốc gia này tăng chi tiêu quốc phòng, tập trung vào các khả năng - bao gồm cả những khả năng mới - cần thiết để răn đe đối thủ và bảo vệ CĐTN”.
Đáp lại lời thúc giục của đồng minh, chính quyền Tổng thống Lee Jae-myung của Hàn Quốc đã chia sẻ kế hoạch tăng chi tiêu quốc phòng lên 3,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) như một phần của kế hoạch hiện đại hóa liên minh Mỹ-Hàn. Nội các của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi vào tháng 11 năm ngoái cũng đã phê duyệt 58 tỷ USD chi tiêu quốc phòng cho năm tài chính 2026 - tăng 3,8% so với năm tài chính trước đó, đánh dấu mức cao kỷ lục trong năm thứ 12 liên tiếp. Cùng với đó, Tokyo cho biết sẽ đưa mục tiêu tăng cường khả năng phòng thủ ở Thái Bình Dương trở thành một trong những trụ cột trong Chiến lược An ninh Quốc gia, Chiến lược Quốc phòng và Chương trình xây dựng quốc phòng sửa đổi trong năm nay.
Riêng với Đài Loan, hòn đảo này không chỉ nằm trên CĐTN mà còn ở vị trí cửa ngõ trực tiếp của Trung Quốc ra Chuỗi đảo thứ hai - nằm xa hơn về phía đông và bao gồm căn cứ chính của Mỹ tại Guam, do đó trở thành địa bàn răn đe quan trọng được xác định trong Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025. Tuy nhiên, Washington chỉ có thể thực hiện các biện pháp phòng thủ đối với hòn đảo từ Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc (như đã dẫn ở trên) mà không thể đóng quân trực tiếp ở Đài Loan, vì điều này sẽ vi phạm lằn ranh đỏ với Bắc Kinh. Mặc dù vậy, Mỹ cũng đã thành công buộc Đài Loan cam kết tăng chi tiêu quốc phòng lên 3% trong năm nay và 5% vào năm 2030.
Một số dự báo
Trong thời gian tới, chạy đua vũ trang ở khu vực nhiều khả năng sẽ gia tăng, khi Nhà Trắng thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc tăng cường răn đe trên CĐTN thông qua phối hợp với hai trục đồng minh Đông - Tây tại khu vực.
Không dừng lại ở hợp tác đơn lẻ với từng quốc gia, chính quyền Trump có thể sẽ tăng cường các hành động tập thể trên cơ sở liên kết các đồng minh khu vực để cấu thành một cấu trúc răn đe toàn diện dọc theo CĐTN. Tướng Lục quân Mỹ Xavier Brunson, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Liên Hợp Quốc và Lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc (USFK), cho biết: “Mỗi đối tác [Hàn Quốc, Nhật Bản và Philippines] mang đến một khả năng riêng biệt: độ sâu trung tâm của Hàn Quốc, lợi thế công nghệ và phạm vi hàng hải của Nhật Bản, và khả năng tiếp cận của Philippines với các tuyến đường biển quan trọng phía nam”. Nếu được liên kết chặt chẽ, “tam giác chiến lược” này không chỉ giúp Mỹ chia sẻ gánh nặng, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy việc phối hợp và tăng cường khả năng tác chiến giữa các đối tác ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, tham vọng răn đe của Mỹ vẫn đang đối mặt với những trở ngại rõ rệt.
Mặc dù ý chí chính trị về việc thúc đẩy AUKUS được Mỹ khẳng định mạnh mẽ, nguồn lực thực tế để triển khai một chương trình tàu ngầm quy mô lớn đến năm 2040 đang bị giới hạn. Năng lực đóng tàu ngầm hiện tại của Mỹ chỉ đạt hơn một nửa so với mức cần thiết để đáp ứng các yêu cầu quốc phòng của chính quốc gia này. Điều này đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ khó có thể chuyển giao cho Australia ba tàu ngầm lớp Virginia theo lộ trình đến năm 2030, trừ khi Washington nhanh chóng tăng gấp đôi năng suất đóng tàu - một mục tiêu đầy thách thức trong bối cảnh hiện nay.
Về nỗ lực phối hợp với trục đồng minh châu Á, những xích mích kinh tế gia tăng, những thay đổi chính trị trong nước ở Nhật Bản và đặc biệt là Hàn Quốc, có thể làm chậm lại đà hợp tác an ninh hiện tại. Giữa năm ngoái, Tokyo đã huỷ cuộc họp an ninh 2+2 giữa Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Ngoại giao với Washington vì bất đồng liên quan đến thuế quan và yêu cầu gia tăng chi tiêu quốc phòng từ phía Mỹ.
Tại Hàn Quốc, lập trường tương đối mềm mỏng với Trung Quốc của Tổng thống Lee Jae- myung - người coi Chủ tịch Tập Cận Bình là một trung gian hòa giải tích cực đối với vấn đề Triều Tiên, có thể tạo thêm dư địa để Bắc Kinh gia tăng ảnh hưởng đối với Seoul và làm phức tạp hơn các tính toán răn đe của Mỹ trên CĐTN.
Trong bối cảnh đó, để hạn chế mức độ liên kết chiến lược của các quốc gia này với Washington, Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ tìm cách khai thác các vết nứt trong mạng lưới liên minh của Mỹ tại khu vực thông qua các công cụ kinh tế và ngoại giao.
Sau cùng, ngay cả khi chính quyền Donald Trump thể hiện quyết tâm cao độ trong việc tái cấu trúc thế trận răn đe dọc CĐTN, quỹ đạo chiến lược này vẫn không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của Nhà Trắng. Những chia rẽ lưỡng đảng ngày càng sâu sắc trong Quốc hội Mỹ có thể trở thành lực cản đáng kể đối với các cam kết an ninh dài hạn, đặc biệt nếu đảng Cộng hoà - hiện chỉ nắm giữ đa số mong manh tại Hạ viện, không duy trì được quyền kiểm soát lưỡng viện sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp tới.
Trong bối cảnh đó, chiến lược răn đe của Mỹ tại CĐTN, dù đang được đẩy mạnh cả về ý chí lẫn nguồn lực thông qua tranh thủ sự phối hợp với các quốc gia đồng minh, vẫn sẽ phải đối mặt với những giới hạn nội tại bắt nguồn từ chính cấu trúc chính trị trong nước.
Bạn có hài lòng về bài viết? Đóng góp cho VSF tại đây. Mọi đóng góp tài chính từ quý độc giả đều là nguồn động lực to lớn để chúng tôi tiếp tục xuất bản những nội dung chất lượng cho cộng đồng.
Từ khoá: Chuỗi đảo thứ nhất First Island Chain Mỹ Trung Quốc Nhật Bản Đài Loan Philippines