Điểm sách
28 PHÚT ĐỌC

“Trật tự chính trị và Suy tàn chính trị”: Khi sự vận động thể chế quyết định vận mệnh quốc gia

Không có định chế nào là vĩnh cửu. Mọi trật tự chính trị đều mang trong mình mầm mống của sự suy tàn.

Võ Xuân Trí 02/03/2026

Võ Xuân Trí

02/03/2026
Image
Thông điệp lớn nhất mà Francis Fukuyama gửi gắm là không có một trật tự chính trị nào là bất biến - (C): Tác giả cung cấp

Francis Fukuyama không phải là cái tên xa lạ trong giới nghiên cứu chính sách hay khoa học chính trị. Dẫu vậy, tên tuổi và sự nghiệp của ông lại bị phủ bóng đen bởi những tranh cãi xoay quanh quan điểm cho rằng mô hình dân chủ tự do là “điểm dừng cuối cùng” trong sự tiến hóa về hệ tư tưởng của nhân loại - luận điểm trung tâm trong bài tiểu luận “The End of History?” (Sự cáo chung của lịch sử). Vượt lên trên những làn sóng chỉ trích để nhìn nhận khách quan hơn, ta tìm thấy trong kho tàng nghiên cứu của ông những công trình thật sự chất lượng về thể chế, mà nổi bật là cuốn “Political Order and Political Decay: From the Industrial Revolution to the Globalization of Democracy” (Trật tự chính trị và Suy tàn chính trị: Từ cách mạng công nghiệp đến toàn cầu hóa), xuất bản vào năm 2014.

Sử dụng cách tiếp cận thực chứng bằng cách xem xét diễn trình vận động của các quốc gia và tập trung nghiên cứu các trường hợp điển hình, Fukuyama đã đúc kết một công trình đồ sộ bao quát bề dày lịch sử ấn tượng từ thời điểm Công nghiệp hóa đến hiện tại - khi toàn cầu hóa trở thành xu thế chung. Tuy được xem là phần tiếp nối và dựa trên những nền tảng của cuốn “The Origins of Political Order: From Prehuman Times to the French Revolution” (2012) (Nguồn gốc của trật tự chính trị: Từ thời tiền sử đến Cách mạng Pháp), cuốn sách này có thể được xem là một công trình độc lập tập trung vào sự vận động và phát triển của các hệ thống thể chế cũng như tương tác giữa chúng với các khía cạnh của sự phát triển. Bằng một giọng văn thận trọng và khách quan, ông đã phân tích tường tận sự giao thoa giữa các chiều kích địa lý, văn hóa, kinh tế và chính trị của một tập hợp đối tượng nghiên cứu đa dạng với các mô hình nhà nước khác nhau.

Mở đầu tác phẩm, Fukuyama xây dựng một bộ khung lý luận chi tiết về mối tương quan giữa các hệ thống thể chế với các chiều kích của sự phát triển. Theo đó, ba định chế cơ bản của một nền chính trị bao gồm: nhà nước, pháp quyền và trách nhiệm giải trình dân chủ. Hệ thống các thể chế này vừa tác động trực tiếp, vừa bị ảnh hưởng bởi quá trình phát triển, được thể hiện qua ba chiều kích về tăng trưởng kinh tế, dịch chuyển xã hội và duy trì tính chính danh.

Bên cạnh việc xây dựng nền tảng trật tự chính trị, Fukuyama còn mô tả cách mà sự tái thân hữu hóa (repatrimonialization), tức việc bộ máy công quyền bị chi phối bởi tầng lớp tinh hoa hay một hệ thống gia đình trị, có thể là mầm mống dẫn đến suy tàn chính trị. Vốn xuất phát từ bản năng sinh học của con người trong việc ưu tiên chọn lọc người cùng huyết thống và vị tha tương hỗ cho các chủ thể có cùng lợi ích, sự tái thân hữu hóa là một mối đe dọa tiềm tàng, song thường trực, tới tiến trình phát triển chính trị. Nó có thể kéo theo các hiện tượng tham nhũng, ô dù, bảo trợ và từ đó đe dọa trực tiếp đến sự ổn định của nhà nước khi làm xói mòn chất lượng chính quyền, ngăn chặn trách nhiệm giải trình dân chủ và làm gia tăng bất bình đẳng trong cấu trúc hệ thống.

Từ đây, tác giả bắt đầu xem xét con đường phát triển của các quốc gia phương Tây gồm Phổ, Ý/Hy Lạp và Mỹ. Điều thú vị là không hề có một lộ trình phát triển chung cho các quốc gia này, khi sự khác biệt trong tương tác nhân quả giữa các thành tố của nền chính trị và phát triển sẽ dẫn đến nhiều kết quả khác nhau về quy mô và chất lượng nhà nước. Quá trình vận động chính trị được tác giả phác họa như sau:

● Đối với Phổ, việc xây dựng một nhà nước hùng mạnh từ sớm thông qua cạnh tranh quân sự đã thúc đẩy sự ra đời của một nền pháp quyền hiệu quả, từ đó tạo bệ phóng cho sự cất cánh của tăng trưởng kinh tế và sự dịch chuyển các giai tầng xã hội. Dẫu vậy, sự phát triển nhà nước chuyên chế lại tác động ngược chiều với trách nhiệm giải trình dân chủ, từ đó đẩy quốc gia này rơi vào vòng xoáy Chiến tranh thế giới thứ nhất và sau cùng là sự sụp đổ của Cộng hòa Weimar.

● Đối với Mỹ, quốc gia này lại được xây dựng trên nền tảng của pháp quyền và trách nhiệm giải trình giữa những nhà lập quốc và quần chúng nhân dân. Điều này cộng hưởng đối với quyền sở hữu cá nhân là động lực cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng vào thế kỷ 19. Quá trình tăng trưởng kinh tế lại làm nảy sinh những nhóm xã hội mới, từ đó thúc đẩy nỗ lực hiện đại hóa nhà nước như một lực lượng đại diện cho tiếng nói của toàn bộ công dân.

● Đối với Ý/Hy Lạp, hai quốc gia này khởi điểm bằng sự dịch chuyển các giai tầng xã hội và sự dân chủ hóa từ sớm. Điều này để lại hệ lụy là một nhà nước hoạt động kém hiệu quả khi dễ dàng bị thâu tóm bởi các nhóm xã hội tinh hoa hoặc các đảng phái chính trị quần chúng, từ đó cản trở triển vọng phát triển kinh tế. Trường hợp này cho thấy dân chủ hóa nếu không song hành cùng việc xây dựng năng lực nhà nước sẽ dễ dàng biến tướng thành chủ nghĩa bảo trợ. Chính vì vậy mà sự thành công của một nền dân chủ không chỉ nằm ở những lá phiếu, mà còn ở khả năng nhà nước đáp ứng sự huy động xã hội ngày càng mạnh mẽ của quần chúng.

Thông qua những phân tích trên, Fukuyama gợi ý rằng hiện đại hóa không tất yếu dẫn đến sự ra đời của một nhà nước vững mạnh, và lại càng không có quan hệ nhân quả rõ ràng với dân chủ và phát triển. Thay vào đó, nhà nước có năng lực sẽ được quyết định bởi ít nhất hai yếu tố. Thứ nhất là trình tự xuất hiện giữa việc tạo lập dân chủ và xây dựng nhà nước. Theo đó, nhiều nhà nước phát triển hiện đại (trường hợp của Phổ/Đức) được xây dựng trên nền móng của những nhà nước chuyên chế vững chắc trong quá khứ, trước khi quá độ lên mô hình dân chủ. Trong khi đó, các quốc gia chuyển mình thành một nền dân chủ trước nhà nước hiện đại (trường hợp của Ý/Hy Lạp) thường gặp những vấn đề trong việc quản trị khi bị chi phối bởi nhóm lợi ích tinh hoa lợi dụng pháp quyền để trục lợi. Thứ hai là việc xây dựng bản sắc dân tộc chung. Cụ thể, sự ổn định chính trị sẽ được thúc đẩy mạnh nếu công dân cảm thấy nhà nước là chính danh và trải nghiệm những cảm xúc gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Ngược lại, thiếu đi sợi dây liên kết bản sắc, các xã hội dân chủ sẽ rơi vào tình trạng phân rã về diễn ngôn, khiến mọi nỗ lực xây dựng chính sách phát triển đều trở nên bế tắc.

Không gói gọn trong khu vực châu Âu, Fukuyama tiếp tục mở rộng phân tích của mình sang các khu vực phi phương Tây từng bị các cường quốc châu Âu thuộc địa hóa. Ông đưa ra những phản biện trước các thuyết tất định - vốn cho rằng địa lý, khí hậu và dấu ấn thuộc địa là những yếu tố chi phối quá trình phát triển nhóm các quốc gia này. Với ông, dù quan trọng song các yếu tố này vẫn chỉ đóng góp một phần vào việc định hình cục diện chính trị. Điều quan trọng nhất vẫn nằm ở cách thức người dân phát huy vai trò của họ để nhào nặn các thể chế và giải dấu ấn thuộc địa.

Ý tưởng trên đã được tác giả kiểm chứng thông qua việc tác giả phân tích ba khu vực Mỹ-Latinh, châu Phi cận Sahara và Đông Á. Các kết quả mà ông đúc kết được gồm những điểm chính như sau:

● Đối với Mỹ-Latinh, đây là khu vực có các nhà nước tương đối yếu và không thể tiến triển thành những bộ máy quan liêu hiện đại. Dù không bị tàn phá bởi chiến tranh lục địa và sớm độc lập khỏi ách đô hộ của các cường quốc phương Tây, các quốc gia Mỹ-Latinh bị chia rẽ bởi xung đột giữa tầng lớp tinh hoa da trắng giàu có và quần chúng da màu nghèo khó. Sự ra đời của nền dân chủ vì vậy không đồng nghĩa với việc người dân được trao thêm quyền, mà lại dẫn tới việc tầng lớp tinh hoa cai trị gián tiếp các hệ thống chính trị dân chủ và duy trì hiện trạng vốn có. Khu vực này cũng chứng kiến sự phân hóa khi một vài quốc gia (Costa Rica) làm tốt với tiềm năng hạn chế, trong khi một vài quốc khác lại trì trệ phát triển dù được thiên nhiên ưu đãi (Argentina). Trên cơ sở đó, Fukuyama đã chứng minh rằng động lực phát triển vô cùng phức tạp, khi ngoài khí hậu và địa lý, thì quỹ đạo hướng đến thịnh vượng còn bị chi phối bởi sự lãnh đạo, những ảnh hưởng quốc tế và ý thức dân tộc.

● Đối với châu Phi cận Sahara, đây là khu vực gần như vắng bóng nhà nước dân chủ hoàn chỉnh có năng lực. Thâm hụt năng lực nhà nước xuất phát từ chính quá trình thuộc địa hóa khi các nhà thống trị dù triệt để vơ vét tài nguyên nhưng lại đầu tư tối thiểu cho quá trình xây dựng bộ máy và thúc đẩy sản xuất. Điều này, cộng hưởng với sự thiếu vắng một nhà nước tập quyền mạnh trước khi bị xâu xé, đã để lại hệ quả là một khoảng trống thể chế kéo dài tại nhiều quốc gia châu Phi. Khoảng trống này bị khai thác bởi chủ nghĩa tân thân hữu khiến nhà nước trở nên mục ruỗng, không có khả năng kiểm soát xung đột và thực thi những chính sách kinh tế tốt. Đồng thời, Fukuyama cũng chỉ ra rằng các biên giới thực dân vẽ ra đã “nhốt” các bộ lạc thù địch vào chung một quốc gia mà không có bản sắc dân tộc chung, dẫn đến việc các nhóm này chiến đấu để chiếm đoạt nhà nước thay vì xây dựng nó. Trên cơ sở diễn giải lịch sử, bản sắc và chính sách nhà lãnh đạo, Fukuyama đã giải thích phần nào nguyên nhân vì sao châu Phi luôn chìm trong đói nghèo, chia rẽ và xung đột.

● Đối với Đông Á, đây là khu vực có các nhà nước kiến tạo phát triển với bộ máy quan liêu được kỹ trị tốt, với năng lực tự chủ cao để dẫn dắt sự phát triển về kinh tế. Khu vực này chứng kiến sự trỗi dậy của những nhà nước mang tinh thần dân tộc mạnh mẽ từ sớm - một trong những nguồn động lực quan trọng giúp các quốc gia này định vị bản thân thời kỳ hậu thực dân. Cùng với đó, dù vẫn còn tồn tại nạn tham nhũng, song các nhà lãnh đạo lại tập trung hơn vào việc cung cấp hàng hóa công và phát triển vĩ mô. Bản sắc dân tộc và truyền thống nhà nước lâu đời là nền tảng cho thành công ngoạn mục của khu vực về phát triển kinh tế.

Thông qua phân tích ba trường hợp trên, Fukuyama gợi mở rằng việc xây dựng một nhà nước có năng lực, được củng cố bởi ý thức về bản sắc dân tộc, là điều kiện cần thiết để đảm bảo một nền chính trị ổn định và một nền kinh tế phát triển. Ông cho rằng, tương lai của một quốc gia không đơn thuần bị quyết định bởi vị thế địa chính trị, nền tảng kinh tế hay các cấu trúc xã hội dân sự truyền thống. Thay vào đó, việc một nhà nước thành công hay thất bại còn bị chi phối bởi tập hợp các biến số tương tác với nhau như địa lý, khí hậu, bản sắc dân tộc, vai trò nhà lãnh đạo, nền tảng lịch sử, mức độ tự chủ... Vì vậy, không có một mẫu số chung cho tiến trình tạo dựng nhà nước. Tất cả đều phụ thuộc rất nhiều vào cách các quốc gia dung hòa giữa di sản của quá khứ với những quyết định chính trị hiện tại.

Trong phần cuối và cũng là phần mang tính “thời sự” nhất của toàn công trình, Fukuyama đã bóc tách những căn bệnh của các nền dân chủ hiện đại với trường hợp điển hình là Mỹ. Trong đó, hai nguyên nhân chính yếu, gồm sự cứng nhắc thể chế và sự tái thân hữu hóa, là nguồn cơn trực tiếp dẫn đến sự suy tàn về chính trị của siêu cường này.

Với nguyên nhân đầu tiên, Fukuyama đã chỉ ra hệ thống chính trị Mỹ đương đại đang bị trói buộc bởi một bộ máy các quy tắc khổng lồ, gồm đại cử tri đoàn, hệ thống bầu cử sơ bộ, hệ thống tài chính, các quyết định của Thượng viện. Các yếu tố này gộp lại sản sinh ra một bộ máy cồng kềnh nhưng tê liệt, nơi các bên có thể dễ dàng ngăn chặn lẫn nhau thay vì đạt được sự đồng thuận. Fukuyama chỉ đích danh đây là một “nền chính trị phủ quyết” (vetocracy), với hệ quả là hàng loạt quy trình bất nhất, thủ tục rắc rối, không đi đến được kết luận cuối cùng mà chi phí giao dịch lại cao. Điều này không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực giải quyết vấn đề của nhà nước, mà còn kéo theo sự suy giảm niềm tin của người dân vào các thiết chế công quyền. 

Đối với nguyên nhân thứ hai, thông qua quá trình vận động hành lang để trao đổi về mặt đặc quyền, các nhóm lợi ích ngày càng cố kết hơn với bộ máy chính quyền. Cụ thể, các nhóm lợi ích thường thao túng chính quyền thông qua các khoản quyên tặng trong quá trình vận động tranh cử để ngăn chặn những kết quả bất lợi cho họ nhưng có lợi cho đại chúng. Đồng thời, họ cũng làm suy yếu quyền tự trị của nhà nước khi “thuyết phục các đại diện của mình tại Quốc hội ban ra các nhiệm vụ phức tạp và thường tự mâu thuẫn cho các cơ quan trung gian” (tr. 623). Quá trình này có thể được xem là một bản nâng cấp tinh vi hơn so với chủ nghĩa ô dù truyền thống từ trước, nơi mà hệ thống hối lộ tiền bạc được thay thế bằng sự trao đổi đặc quyền. Ai cũng nhìn thấy nhà nước đang bị lũng loạn bởi các nhóm lợi ích, nhưng một biện pháp để cải tổ vẫn còn đang là điều bỏ ngỏ và khó có lời giải.

Fukuyama từ đó đúc kết rằng “với sự phân hóa chính trị sâu sắc, hệ thống phân quyền ngày càng mất đi khả năng đại diện cho những lợi ích của đa số trong khi lại đại diện thái quá cho những quan điểm của các nhóm lợi ích và các tổ chức mà nếu hợp nhất lại không đại diện cho một dân tộc Mỹ có chủ quyền” (tr. 647). Từ đó, một lộ trình dẫn đến sự suy tàn chính trị được vạch ra: người dân mất niềm tin vào chính quyền; chính quyền lại không có khả năng cải cách trong khi bị lũng loạn bởi các nhóm lợi ích; các nhóm lợi ích chỉ tập trung thâu tóm quyền lực và sẽ ưu tiên duy trì nguyên trạng để phục vụ tối đa cho lợi ích riêng. Điều này tạo ra một vòng lặp luẩn quẩn mà hậu quả là sự suy tàn chính trị tất yếu. Từ đó, Fukuyama đã chứng minh tính đúng đắn về nhận định của Ronald Reagan: “Chính quyền không phải là giải pháp cho vấn đề của chúng ta; chính quyền chính là vấn đề”.

Sau cùng, thông điệp lớn nhất mà Fukuyama gửi gắm là không có một trật tự chính trị nào là bất biến. Bằng việc khảo cứu lịch sử phát triển và đưa ra các phân tích liên ngành giữa văn hóa, sắc tộc, chính trị và cả sinh học, ông chỉ ra rằng sự hưng vong của một quốc gia được định đoạt bởi nền tảng các thể chế và sự tương tác biện chứng giữa chúng. Một xã hội lý tưởng cần đạt được trạng thái cân bằng động giữa quyền năng tập trung của nhà nước với các cơ chế kiểm soát dựa trên pháp quyền và trách nhiệm giải trình. Ngược lại, sự suy tàn là tất yếu khi các thiết chế không còn phù hợp với bối cảnh hoặc bị thâu tóm bởi các nhóm lợi ích tinh hoa. Quỹ đạo đó không do một yếu tố duy nhất quyết định, mà là kết quả của một tập hợp phức tạp các biến số từ những cú sốc ngoại tại như xung đột quân sự, dấu ấn thuộc địa đến những động lực nội tại như cơ cấu xã hội và ý thức bản sắc dân tộc.

Một điểm đáng chú ý là khác với sự quả quyết có phần duy ý chí trong những công trình đầu tiên, Fukuyama đã thận trọng hơn trong việc đưa ra nhận định. Không đưa ra những lời khẳng định tất yếu, những đáp án trực tiếp rõ ràng hay những giải pháp để cứu chữa tình trạng suy tàn chính trị, tác giả chỉ đơn giản là mô tả thực tiễn, với một hệ thống các trường hợp đa dạng và sinh động để người đọc có cái nhìn bao quát hơn về những thể chế hiện tại và có không gian suy tư về tương lai của các mô hình nhà nước. Dù vẫn giữ quan điểm rằng dân chủ là xu hướng phổ quát của các xã hội dân sự, song tác giả đã chuyển dịch sang một cái nhìn khách quan và đa diện hơn về các lộ trình phát triển thể chế. Ông khẳng định rằng dân chủ chỉ thực sự có giá trị khi nó song hành cùng những nền tảng thể chế vững chắc và một quá trình phát triển hợp lý.

Dù đã ra đời hơn một thập kỷ, cuốn sách vẫn giữ nguyên giá trị đến tận ngày hôm nay khi trật tự thế giới đang chuyển mình và các giá trị dân chủ đang đứng trước những cơ hội lẫn thách thức chưa từng có. Những thảo luận của Fukuyama xuyên suốt công trình 700 trang không chỉ là những bài học tri thức cho những học giả đam mê nghiên cứu khoa học chính trị, mà còn gợi mở nhiều suy ngẫm cho bất kỳ độc giả nào đang trăn trở về các vấn đề có liên quan trong một kỷ nguyên đầy biến động.

Ghi chú: Những trích dẫn trong bài là từ cuốn “Trật tự chính trị và Suy tàn chính trị: Từ cách mạng công nghiệp đến toàn cầu hóa”, Bùi Kim Tuyến dịch, NXB Tri thức, 2020.

Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Cuộc thi Điểm sách hay 2025”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.

Võ Xuân Trí

Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Mối quan tâm của Trí là kinh tế chính trị và an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Francis Fukuyama không phải là cái tên xa lạ trong giới nghiên cứu chính sách hay khoa học chính trị. Dẫu vậy, tên tuổi và sự nghiệp của ông lại bị phủ bóng đen bởi những tranh cãi xoay quanh quan điểm cho rằng mô hình dân chủ tự do là “điểm dừng cuối cùng” trong sự tiến hóa về hệ tư tưởng của nhân loại - luận điểm trung tâm trong bài tiểu luận “The End of History?” (Sự cáo chung của lịch sử). Vượt lên trên những làn sóng chỉ trích để nhìn nhận khách quan hơn, ta tìm thấy trong kho tàng nghiên cứu của ông những công trình thật sự chất lượng về thể chế, mà nổi bật là cuốn “Political Order and Political Decay: From the Industrial Revolution to the Globalization of Democracy” (Trật tự chính trị và Suy tàn chính trị: Từ cách mạng công nghiệp đến toàn cầu hóa), xuất bản vào năm 2014.

Sử dụng cách tiếp cận thực chứng bằng cách xem xét diễn trình vận động của các quốc gia và tập trung nghiên cứu các trường hợp điển hình, Fukuyama đã đúc kết một công trình đồ sộ bao quát bề dày lịch sử ấn tượng từ thời điểm Công nghiệp hóa đến hiện tại - khi toàn cầu hóa trở thành xu thế chung. Tuy được xem là phần tiếp nối và dựa trên những nền tảng của cuốn “The Origins of Political Order: From Prehuman Times to the French Revolution” (2012) (Nguồn gốc của trật tự chính trị: Từ thời tiền sử đến Cách mạng Pháp), cuốn sách này có thể được xem là một công trình độc lập tập trung vào sự vận động và phát triển của các hệ thống thể chế cũng như tương tác giữa chúng với các khía cạnh của sự phát triển. Bằng một giọng văn thận trọng và khách quan, ông đã phân tích tường tận sự giao thoa giữa các chiều kích địa lý, văn hóa, kinh tế và chính trị của một tập hợp đối tượng nghiên cứu đa dạng với các mô hình nhà nước khác nhau.

Mở đầu tác phẩm, Fukuyama xây dựng một bộ khung lý luận chi tiết về mối tương quan giữa các hệ thống thể chế với các chiều kích của sự phát triển. Theo đó, ba định chế cơ bản của một nền chính trị bao gồm: nhà nước, pháp quyền và trách nhiệm giải trình dân chủ. Hệ thống các thể chế này vừa tác động trực tiếp, vừa bị ảnh hưởng bởi quá trình phát triển, được thể hiện qua ba chiều kích về tăng trưởng kinh tế, dịch chuyển xã hội và duy trì tính chính danh.

Bên cạnh việc xây dựng nền tảng trật tự chính trị, Fukuyama còn mô tả cách mà sự tái thân hữu hóa (repatrimonialization), tức việc bộ máy công quyền bị chi phối bởi tầng lớp tinh hoa hay một hệ thống gia đình trị, có thể là mầm mống dẫn đến suy tàn chính trị. Vốn xuất phát từ bản năng sinh học của con người trong việc ưu tiên chọn lọc người cùng huyết thống và vị tha tương hỗ cho các chủ thể có cùng lợi ích, sự tái thân hữu hóa là một mối đe dọa tiềm tàng, song thường trực, tới tiến trình phát triển chính trị. Nó có thể kéo theo các hiện tượng tham nhũng, ô dù, bảo trợ và từ đó đe dọa trực tiếp đến sự ổn định của nhà nước khi làm xói mòn chất lượng chính quyền, ngăn chặn trách nhiệm giải trình dân chủ và làm gia tăng bất bình đẳng trong cấu trúc hệ thống.

Từ đây, tác giả bắt đầu xem xét con đường phát triển của các quốc gia phương Tây gồm Phổ, Ý/Hy Lạp và Mỹ. Điều thú vị là không hề có một lộ trình phát triển chung cho các quốc gia này, khi sự khác biệt trong tương tác nhân quả giữa các thành tố của nền chính trị và phát triển sẽ dẫn đến nhiều kết quả khác nhau về quy mô và chất lượng nhà nước. Quá trình vận động chính trị được tác giả phác họa như sau:

● Đối với Phổ, việc xây dựng một nhà nước hùng mạnh từ sớm thông qua cạnh tranh quân sự đã thúc đẩy sự ra đời của một nền pháp quyền hiệu quả, từ đó tạo bệ phóng cho sự cất cánh của tăng trưởng kinh tế và sự dịch chuyển các giai tầng xã hội. Dẫu vậy, sự phát triển nhà nước chuyên chế lại tác động ngược chiều với trách nhiệm giải trình dân chủ, từ đó đẩy quốc gia này rơi vào vòng xoáy Chiến tranh thế giới thứ nhất và sau cùng là sự sụp đổ của Cộng hòa Weimar.

● Đối với Mỹ, quốc gia này lại được xây dựng trên nền tảng của pháp quyền và trách nhiệm giải trình giữa những nhà lập quốc và quần chúng nhân dân. Điều này cộng hưởng đối với quyền sở hữu cá nhân là động lực cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng vào thế kỷ 19. Quá trình tăng trưởng kinh tế lại làm nảy sinh những nhóm xã hội mới, từ đó thúc đẩy nỗ lực hiện đại hóa nhà nước như một lực lượng đại diện cho tiếng nói của toàn bộ công dân.

● Đối với Ý/Hy Lạp, hai quốc gia này khởi điểm bằng sự dịch chuyển các giai tầng xã hội và sự dân chủ hóa từ sớm. Điều này để lại hệ lụy là một nhà nước hoạt động kém hiệu quả khi dễ dàng bị thâu tóm bởi các nhóm xã hội tinh hoa hoặc các đảng phái chính trị quần chúng, từ đó cản trở triển vọng phát triển kinh tế. Trường hợp này cho thấy dân chủ hóa nếu không song hành cùng việc xây dựng năng lực nhà nước sẽ dễ dàng biến tướng thành chủ nghĩa bảo trợ. Chính vì vậy mà sự thành công của một nền dân chủ không chỉ nằm ở những lá phiếu, mà còn ở khả năng nhà nước đáp ứng sự huy động xã hội ngày càng mạnh mẽ của quần chúng.

Thông qua những phân tích trên, Fukuyama gợi ý rằng hiện đại hóa không tất yếu dẫn đến sự ra đời của một nhà nước vững mạnh, và lại càng không có quan hệ nhân quả rõ ràng với dân chủ và phát triển. Thay vào đó, nhà nước có năng lực sẽ được quyết định bởi ít nhất hai yếu tố. Thứ nhất là trình tự xuất hiện giữa việc tạo lập dân chủ và xây dựng nhà nước. Theo đó, nhiều nhà nước phát triển hiện đại (trường hợp của Phổ/Đức) được xây dựng trên nền móng của những nhà nước chuyên chế vững chắc trong quá khứ, trước khi quá độ lên mô hình dân chủ. Trong khi đó, các quốc gia chuyển mình thành một nền dân chủ trước nhà nước hiện đại (trường hợp của Ý/Hy Lạp) thường gặp những vấn đề trong việc quản trị khi bị chi phối bởi nhóm lợi ích tinh hoa lợi dụng pháp quyền để trục lợi. Thứ hai là việc xây dựng bản sắc dân tộc chung. Cụ thể, sự ổn định chính trị sẽ được thúc đẩy mạnh nếu công dân cảm thấy nhà nước là chính danh và trải nghiệm những cảm xúc gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Ngược lại, thiếu đi sợi dây liên kết bản sắc, các xã hội dân chủ sẽ rơi vào tình trạng phân rã về diễn ngôn, khiến mọi nỗ lực xây dựng chính sách phát triển đều trở nên bế tắc.

Không gói gọn trong khu vực châu Âu, Fukuyama tiếp tục mở rộng phân tích của mình sang các khu vực phi phương Tây từng bị các cường quốc châu Âu thuộc địa hóa. Ông đưa ra những phản biện trước các thuyết tất định - vốn cho rằng địa lý, khí hậu và dấu ấn thuộc địa là những yếu tố chi phối quá trình phát triển nhóm các quốc gia này. Với ông, dù quan trọng song các yếu tố này vẫn chỉ đóng góp một phần vào việc định hình cục diện chính trị. Điều quan trọng nhất vẫn nằm ở cách thức người dân phát huy vai trò của họ để nhào nặn các thể chế và giải dấu ấn thuộc địa.

Ý tưởng trên đã được tác giả kiểm chứng thông qua việc tác giả phân tích ba khu vực Mỹ-Latinh, châu Phi cận Sahara và Đông Á. Các kết quả mà ông đúc kết được gồm những điểm chính như sau:

● Đối với Mỹ-Latinh, đây là khu vực có các nhà nước tương đối yếu và không thể tiến triển thành những bộ máy quan liêu hiện đại. Dù không bị tàn phá bởi chiến tranh lục địa và sớm độc lập khỏi ách đô hộ của các cường quốc phương Tây, các quốc gia Mỹ-Latinh bị chia rẽ bởi xung đột giữa tầng lớp tinh hoa da trắng giàu có và quần chúng da màu nghèo khó. Sự ra đời của nền dân chủ vì vậy không đồng nghĩa với việc người dân được trao thêm quyền, mà lại dẫn tới việc tầng lớp tinh hoa cai trị gián tiếp các hệ thống chính trị dân chủ và duy trì hiện trạng vốn có. Khu vực này cũng chứng kiến sự phân hóa khi một vài quốc gia (Costa Rica) làm tốt với tiềm năng hạn chế, trong khi một vài quốc khác lại trì trệ phát triển dù được thiên nhiên ưu đãi (Argentina). Trên cơ sở đó, Fukuyama đã chứng minh rằng động lực phát triển vô cùng phức tạp, khi ngoài khí hậu và địa lý, thì quỹ đạo hướng đến thịnh vượng còn bị chi phối bởi sự lãnh đạo, những ảnh hưởng quốc tế và ý thức dân tộc.

● Đối với châu Phi cận Sahara, đây là khu vực gần như vắng bóng nhà nước dân chủ hoàn chỉnh có năng lực. Thâm hụt năng lực nhà nước xuất phát từ chính quá trình thuộc địa hóa khi các nhà thống trị dù triệt để vơ vét tài nguyên nhưng lại đầu tư tối thiểu cho quá trình xây dựng bộ máy và thúc đẩy sản xuất. Điều này, cộng hưởng với sự thiếu vắng một nhà nước tập quyền mạnh trước khi bị xâu xé, đã để lại hệ quả là một khoảng trống thể chế kéo dài tại nhiều quốc gia châu Phi. Khoảng trống này bị khai thác bởi chủ nghĩa tân thân hữu khiến nhà nước trở nên mục ruỗng, không có khả năng kiểm soát xung đột và thực thi những chính sách kinh tế tốt. Đồng thời, Fukuyama cũng chỉ ra rằng các biên giới thực dân vẽ ra đã “nhốt” các bộ lạc thù địch vào chung một quốc gia mà không có bản sắc dân tộc chung, dẫn đến việc các nhóm này chiến đấu để chiếm đoạt nhà nước thay vì xây dựng nó. Trên cơ sở diễn giải lịch sử, bản sắc và chính sách nhà lãnh đạo, Fukuyama đã giải thích phần nào nguyên nhân vì sao châu Phi luôn chìm trong đói nghèo, chia rẽ và xung đột.

● Đối với Đông Á, đây là khu vực có các nhà nước kiến tạo phát triển với bộ máy quan liêu được kỹ trị tốt, với năng lực tự chủ cao để dẫn dắt sự phát triển về kinh tế. Khu vực này chứng kiến sự trỗi dậy của những nhà nước mang tinh thần dân tộc mạnh mẽ từ sớm - một trong những nguồn động lực quan trọng giúp các quốc gia này định vị bản thân thời kỳ hậu thực dân. Cùng với đó, dù vẫn còn tồn tại nạn tham nhũng, song các nhà lãnh đạo lại tập trung hơn vào việc cung cấp hàng hóa công và phát triển vĩ mô. Bản sắc dân tộc và truyền thống nhà nước lâu đời là nền tảng cho thành công ngoạn mục của khu vực về phát triển kinh tế.

Thông qua phân tích ba trường hợp trên, Fukuyama gợi mở rằng việc xây dựng một nhà nước có năng lực, được củng cố bởi ý thức về bản sắc dân tộc, là điều kiện cần thiết để đảm bảo một nền chính trị ổn định và một nền kinh tế phát triển. Ông cho rằng, tương lai của một quốc gia không đơn thuần bị quyết định bởi vị thế địa chính trị, nền tảng kinh tế hay các cấu trúc xã hội dân sự truyền thống. Thay vào đó, việc một nhà nước thành công hay thất bại còn bị chi phối bởi tập hợp các biến số tương tác với nhau như địa lý, khí hậu, bản sắc dân tộc, vai trò nhà lãnh đạo, nền tảng lịch sử, mức độ tự chủ... Vì vậy, không có một mẫu số chung cho tiến trình tạo dựng nhà nước. Tất cả đều phụ thuộc rất nhiều vào cách các quốc gia dung hòa giữa di sản của quá khứ với những quyết định chính trị hiện tại.

Trong phần cuối và cũng là phần mang tính “thời sự” nhất của toàn công trình, Fukuyama đã bóc tách những căn bệnh của các nền dân chủ hiện đại với trường hợp điển hình là Mỹ. Trong đó, hai nguyên nhân chính yếu, gồm sự cứng nhắc thể chế và sự tái thân hữu hóa, là nguồn cơn trực tiếp dẫn đến sự suy tàn về chính trị của siêu cường này.

Với nguyên nhân đầu tiên, Fukuyama đã chỉ ra hệ thống chính trị Mỹ đương đại đang bị trói buộc bởi một bộ máy các quy tắc khổng lồ, gồm đại cử tri đoàn, hệ thống bầu cử sơ bộ, hệ thống tài chính, các quyết định của Thượng viện. Các yếu tố này gộp lại sản sinh ra một bộ máy cồng kềnh nhưng tê liệt, nơi các bên có thể dễ dàng ngăn chặn lẫn nhau thay vì đạt được sự đồng thuận. Fukuyama chỉ đích danh đây là một “nền chính trị phủ quyết” (vetocracy), với hệ quả là hàng loạt quy trình bất nhất, thủ tục rắc rối, không đi đến được kết luận cuối cùng mà chi phí giao dịch lại cao. Điều này không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực giải quyết vấn đề của nhà nước, mà còn kéo theo sự suy giảm niềm tin của người dân vào các thiết chế công quyền. 

Đối với nguyên nhân thứ hai, thông qua quá trình vận động hành lang để trao đổi về mặt đặc quyền, các nhóm lợi ích ngày càng cố kết hơn với bộ máy chính quyền. Cụ thể, các nhóm lợi ích thường thao túng chính quyền thông qua các khoản quyên tặng trong quá trình vận động tranh cử để ngăn chặn những kết quả bất lợi cho họ nhưng có lợi cho đại chúng. Đồng thời, họ cũng làm suy yếu quyền tự trị của nhà nước khi “thuyết phục các đại diện của mình tại Quốc hội ban ra các nhiệm vụ phức tạp và thường tự mâu thuẫn cho các cơ quan trung gian” (tr. 623). Quá trình này có thể được xem là một bản nâng cấp tinh vi hơn so với chủ nghĩa ô dù truyền thống từ trước, nơi mà hệ thống hối lộ tiền bạc được thay thế bằng sự trao đổi đặc quyền. Ai cũng nhìn thấy nhà nước đang bị lũng loạn bởi các nhóm lợi ích, nhưng một biện pháp để cải tổ vẫn còn đang là điều bỏ ngỏ và khó có lời giải.

Fukuyama từ đó đúc kết rằng “với sự phân hóa chính trị sâu sắc, hệ thống phân quyền ngày càng mất đi khả năng đại diện cho những lợi ích của đa số trong khi lại đại diện thái quá cho những quan điểm của các nhóm lợi ích và các tổ chức mà nếu hợp nhất lại không đại diện cho một dân tộc Mỹ có chủ quyền” (tr. 647). Từ đó, một lộ trình dẫn đến sự suy tàn chính trị được vạch ra: người dân mất niềm tin vào chính quyền; chính quyền lại không có khả năng cải cách trong khi bị lũng loạn bởi các nhóm lợi ích; các nhóm lợi ích chỉ tập trung thâu tóm quyền lực và sẽ ưu tiên duy trì nguyên trạng để phục vụ tối đa cho lợi ích riêng. Điều này tạo ra một vòng lặp luẩn quẩn mà hậu quả là sự suy tàn chính trị tất yếu. Từ đó, Fukuyama đã chứng minh tính đúng đắn về nhận định của Ronald Reagan: “Chính quyền không phải là giải pháp cho vấn đề của chúng ta; chính quyền chính là vấn đề”.

Sau cùng, thông điệp lớn nhất mà Fukuyama gửi gắm là không có một trật tự chính trị nào là bất biến. Bằng việc khảo cứu lịch sử phát triển và đưa ra các phân tích liên ngành giữa văn hóa, sắc tộc, chính trị và cả sinh học, ông chỉ ra rằng sự hưng vong của một quốc gia được định đoạt bởi nền tảng các thể chế và sự tương tác biện chứng giữa chúng. Một xã hội lý tưởng cần đạt được trạng thái cân bằng động giữa quyền năng tập trung của nhà nước với các cơ chế kiểm soát dựa trên pháp quyền và trách nhiệm giải trình. Ngược lại, sự suy tàn là tất yếu khi các thiết chế không còn phù hợp với bối cảnh hoặc bị thâu tóm bởi các nhóm lợi ích tinh hoa. Quỹ đạo đó không do một yếu tố duy nhất quyết định, mà là kết quả của một tập hợp phức tạp các biến số từ những cú sốc ngoại tại như xung đột quân sự, dấu ấn thuộc địa đến những động lực nội tại như cơ cấu xã hội và ý thức bản sắc dân tộc.

Một điểm đáng chú ý là khác với sự quả quyết có phần duy ý chí trong những công trình đầu tiên, Fukuyama đã thận trọng hơn trong việc đưa ra nhận định. Không đưa ra những lời khẳng định tất yếu, những đáp án trực tiếp rõ ràng hay những giải pháp để cứu chữa tình trạng suy tàn chính trị, tác giả chỉ đơn giản là mô tả thực tiễn, với một hệ thống các trường hợp đa dạng và sinh động để người đọc có cái nhìn bao quát hơn về những thể chế hiện tại và có không gian suy tư về tương lai của các mô hình nhà nước. Dù vẫn giữ quan điểm rằng dân chủ là xu hướng phổ quát của các xã hội dân sự, song tác giả đã chuyển dịch sang một cái nhìn khách quan và đa diện hơn về các lộ trình phát triển thể chế. Ông khẳng định rằng dân chủ chỉ thực sự có giá trị khi nó song hành cùng những nền tảng thể chế vững chắc và một quá trình phát triển hợp lý.

Dù đã ra đời hơn một thập kỷ, cuốn sách vẫn giữ nguyên giá trị đến tận ngày hôm nay khi trật tự thế giới đang chuyển mình và các giá trị dân chủ đang đứng trước những cơ hội lẫn thách thức chưa từng có. Những thảo luận của Fukuyama xuyên suốt công trình 700 trang không chỉ là những bài học tri thức cho những học giả đam mê nghiên cứu khoa học chính trị, mà còn gợi mở nhiều suy ngẫm cho bất kỳ độc giả nào đang trăn trở về các vấn đề có liên quan trong một kỷ nguyên đầy biến động.

Ghi chú: Những trích dẫn trong bài là từ cuốn “Trật tự chính trị và Suy tàn chính trị: Từ cách mạng công nghiệp đến toàn cầu hóa”, Bùi Kim Tuyến dịch, NXB Tri thức, 2020.

Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Cuộc thi Điểm sách hay 2025”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.

Võ Xuân Trí

Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Mối quan tâm của Trí là kinh tế chính trị và an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Từ khoá: Francis Fukuyama trật tự chính trị dân chủ suy tàn chính trị điểm sách

BÀI LIÊN QUAN