Từ ý thức hệ đến sự hiệu quả: Nghệ thuật quản trị của Tô Lâm

Những cải cách của Tổng Bí thư Tô Lâm nhằm biến Đảng Cộng sản Việt Nam từ “người bảo vệ ý thức hệ” thành “kiến trúc sư của nền quản trị”. Nhưng việc củng cố khế ước xã hội trong nước vẫn là một nhiệm vụ khó khăn.

Huỳnh Hồ Đại Nghĩa - Huỳnh Tâm Sáng 23/01/2026
Image
Các lãnh đạo chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm tái đắc cử - (C): Vietnam.net

Trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), mỗi Tổng Bí thư đều đại diện cho một giai đoạn quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước, đó có thể là củng cố sự nghiệp cách mạng, tái thiết thời hậu chiến, tự do hóa kinh tế hay xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhưng đối với Tổng Bí thư Tô Lâm, ông tiếp nhận trọng trách này vào một thời điểm phức tạp hơn bất kỳ giai đoạn nào mà những người tiền nhiệm từng đối mặt. Thách thức rất nhiều, bao gồm sự phân mảnh địa chính trị, những biến đổi công nghệ diễn ra với tốc độ chóng mặt, áp lực môi trường và kỳ vọng ngày càng cao của công chúng đối với hiệu quả quản trị của nhà nước.

Thế nhưng ông Lâm quyết tâm đưa Việt Nam bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trong các bài phát biểu, ông đã nhấn mạnh sự “cấp thiết” và “quyết đoán”, liên tục kêu gọi quyết tâm, hành động nhanh chóng, trách nhiệm với tinh thần “thời gian không chờ đợi ai”.

Ông Lâm đang xây dựng hình ảnh kết hợp giữa tầm nhìn kỹ trị và nghệ thuật quản trị nhà nước trong dài hạn. Ông theo đuổi mô hình phát triển dựa trên những nỗ lực củng cố vai trò trung tâm của ĐCSVN, đồng thời mở rộng hiệu quả hoạt động của thể chế và năng lực thích ứng của địa phương. ĐCSVN đã đẩy mạnh các chiến dịch nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hành chính, giảm thiểu tồn đọng trong quá trình cấp phép và số hóa dịch vụ, cũng như đầu tư vào đào tạo quản lý và chế độ trọng dụng nhân tài.

Sự thay đổi này có thể dễ dàng nhận thấy khi xem xét bước xoay chuyển dứt khoát của ông Lâm từ củng cố ý thức hệ sang đổi mới thể chế. Khác với người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng, vốn ưu tiên sự thống nhất về tư tưởng và cải cách nội bộ ĐCSVN, ông Lâm đang tái định hình đảng theo hướng cải cách thực dụng. Ông đã chỉ đạo một chiến dịch sáp nhập các tỉnh, thành để tinh giản bộ máy quản lý và hành chính địa phương, qua đó nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị và trao quyền ra quyết định cho chính quyền địa phương.

Cải cách hành chính đi đôi với cải cách khu vực công. Trong khi chịu trách nhiệm về công vụ, cán bộ cấp xã cần giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng và minh bạch. Đồng thời, công chức phải đáp ứng yêu cầu dựa trên hiệu quả công việc, được hỗ trợ bởi các nền tảng số hóa mới như ứng dụng định danh điện tử VNeID giúp theo dõi tiến độ công việc theo thời gian thực.

Cuộc cải cách hành chính do ông Lâm dẫn dắt cho thấy tầm quan trọng và kịp thời, trong bối cảnh mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu của Việt Nam đang đạt đến ngưỡng mà chất lượng thể chế, chứ không chỉ vốn đầu tư hay nguồn cung lao động, sẽ quyết định bước đi tiếp theo. Việt Nam cũng phải cạnh tranh để thu hút đầu tư giá trị cao, vượt qua những biến động phức tạp trong thương mại và xây dựng một hệ thống tạo dựng niềm tin, sự linh hoạt và tầm nhìn dài hạn.

Việt Nam hiện đang bước vào một sân chơi toàn cầu được định hình lại. Ở đó, các nhà đầu tư toàn cầu đang tìm kiếm những điểm đến hội tụ các yếu tố: lao động giá rẻ, độ tin cậy, sự ổn định chính sách, chuỗi cung ứng bền vững, tính minh bạch pháp lý và khả năng phục hồi thể chế. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh về kinh tế và thể chế trở thành điều kiện tiên quyết để Việt Nam thu hút các nhà cung ứng và các công ty sản xuất.

Tuy nhiên, việc tái cấu trúc thể chế có thể kéo theo những rủi ro và sự kháng cự. Một số lượng lớn công chức đã bị ảnh hưởng bởi việc tinh giản biên chế, điều chuyển hoặc sắp xếp lại các chức danh. Hàng ngàn công chức thất nghiệp rơi vào tình trạng dư thừa và không chắc chắn về tương lai của mình vì thiếu sự chuẩn bị và kỹ năng cần thiết để tìm được việc làm mới ngoài khu vực công. Nghiêm trọng hơn, hầu hết các chính quyền địa phương đều thiếu khả năng đảm nhận những trách nhiệm mới và nặng nề hơn. Người dân cũng có thể cảm thấy thất vọng nếu những thay đổi không được thực hiện nhanh chóng hoặc công bằng. Mối nguy lớn nhất là sự mệt mỏi đối với cải cách, hoặc tệ hơn, là nguy cơ đảo chiều cải cách.

Cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa nếu bộ máy có khả năng hiện thực hóa những cam kết đã đề ra. Trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước, chính phủ trung ương cần phải đảm bảo rằng tiếng nói của các địa phương sẽ không bị lu mờ. Các cơ chế rõ ràng về giám sát của công dân và đại diện dân cử là rất quan trọng. Trong quá trình lập kế hoạch, việc ban hành các quy định ràng buộc và sự tham gia ngay từ đầu của người dân cũng không kém phần quan trọng vì giúp đảm bảo các cuộc bầu cử địa phương không chỉ mang tính hình thức.

Điều đáng chú ý trong quá trình cải cách hành chính đó là, thay vì chỉ đơn thuần điều chuyển cán bộ, công chức sau sáp nhập, chính phủ cần nâng cao năng lực của họ. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cần được thiết kế theo hướng đảm bảo công bằng và toàn diện, đồng thời phù hợp với năng lực và nguyện vọng của họ. Một chương trình tái đào tạo cấp quốc gia cần phải tùy chỉnh lộ trình học tập, cung cấp hỗ trợ tài chính trong giai đoạn chuyển đổi và đảm bảo rằng những cán bộ kỳ cựu được các cơ quan địa phương hỗ trợ bằng các khoản trợ cấp để tiếp tục sự nghiệp.

Bên cạnh đó, phân cấp sẽ không phải là phân quyền thực chất nếu nó chỉ đơn thuần tạo thêm gánh nặng cho các địa phương thiếu nguồn lực. Do đó, chính phủ cần xây dựng các quy định và hướng dẫn vận hành rõ ràng về trách nhiệm thuộc về ai, đồng thời các cơ chế hỗ trợ tài chính cần phải gắn chặt với kết quả thực hiện. Tóm lại, việc phân bổ nguồn lực phải có khả năng đo lường được thông qua các mục tiêu theo dõi được.

Thúc đẩy chuyển đổi số của Việt Nam, với trọng tâm là minh bạch, không thể chỉ dừng lại ở việc đưa dữ liệu lên mạng. Thay vào đó, hiệu quả thực sự đòi hỏi phản hồi từ người dân. Nói cách khác, chính sách cần được điều chỉnh dựa trên phản hồi thực tế, vì nó cho phép hiệu chỉnh chính sách theo thời gian thực. Chính phủ nên triển khai một bảng điều khiển kỹ thuật số quốc gia hiển thị các chỉ số dịch vụ, chẳng hạn như thời gian chờ khám tại các cơ sở y tế hay mức độ sửa chữa đường sá. Các kênh mở để người dân chấm điểm và khiếu nại có thể được hỗ trợ bởi các ứng dụng, thông qua đó người dân có thể đánh giá, góp ý và đề xuất về hiệu quả hoạt động và cải thiện của chính quyền.

Trên hết, ĐCSVN phải coi cải cách như một chiến lược dài hạn. Điều này đòi hỏi quyết tâm chính trị, tầm nhìn chính sách sắc bén và một bộ máy hành chính được thiết kế để liên tục điều chỉnh và thích ứng. Thành công lâu dài phụ thuộc vào đội ngũ lãnh đạo phục vụ - những người xây dựng uy tín và lòng tin từ mức độ hiệu quả công việc và kết quả đạt được, chứ không chỉ bằng lời nói suông hay hứa hẹn. Tóm lại, thành bại của tiến trình này sẽ phụ thuộc vào khả năng của Tô Lâm và ê-kíp của ông trong việc củng cố khế ước xã hội thông qua năng lực quản trị, thay vì các khẩu hiệu.

*Ghi chú của VSF: Phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên The Vietnam Strategic Forum với tiêu đề “From Ideology to Performance: To Lam’s Bid to Reengineer Vietnam’s Governance”. Bài viết này do đội ngũ VSF dịch với sự chấp thuận của (các) tác giả.

Trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), mỗi Tổng Bí thư đều đại diện cho một giai đoạn quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước, đó có thể là củng cố sự nghiệp cách mạng, tái thiết thời hậu chiến, tự do hóa kinh tế hay xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhưng đối với Tổng Bí thư Tô Lâm, ông tiếp nhận trọng trách này vào một thời điểm phức tạp hơn bất kỳ giai đoạn nào mà những người tiền nhiệm từng đối mặt. Thách thức rất nhiều, bao gồm sự phân mảnh địa chính trị, những biến đổi công nghệ diễn ra với tốc độ chóng mặt, áp lực môi trường và kỳ vọng ngày càng cao của công chúng đối với hiệu quả quản trị của nhà nước.

Thế nhưng ông Lâm quyết tâm đưa Việt Nam bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trong các bài phát biểu, ông đã nhấn mạnh sự “cấp thiết” và “quyết đoán”, liên tục kêu gọi quyết tâm, hành động nhanh chóng, trách nhiệm với tinh thần “thời gian không chờ đợi ai”.

Ông Lâm đang xây dựng hình ảnh kết hợp giữa tầm nhìn kỹ trị và nghệ thuật quản trị nhà nước trong dài hạn. Ông theo đuổi mô hình phát triển dựa trên những nỗ lực củng cố vai trò trung tâm của ĐCSVN, đồng thời mở rộng hiệu quả hoạt động của thể chế và năng lực thích ứng của địa phương. ĐCSVN đã đẩy mạnh các chiến dịch nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hành chính, giảm thiểu tồn đọng trong quá trình cấp phép và số hóa dịch vụ, cũng như đầu tư vào đào tạo quản lý và chế độ trọng dụng nhân tài.

Sự thay đổi này có thể dễ dàng nhận thấy khi xem xét bước xoay chuyển dứt khoát của ông Lâm từ củng cố ý thức hệ sang đổi mới thể chế. Khác với người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng, vốn ưu tiên sự thống nhất về tư tưởng và cải cách nội bộ ĐCSVN, ông Lâm đang tái định hình đảng theo hướng cải cách thực dụng. Ông đã chỉ đạo một chiến dịch sáp nhập các tỉnh, thành để tinh giản bộ máy quản lý và hành chính địa phương, qua đó nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị và trao quyền ra quyết định cho chính quyền địa phương.

Cải cách hành chính đi đôi với cải cách khu vực công. Trong khi chịu trách nhiệm về công vụ, cán bộ cấp xã cần giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng và minh bạch. Đồng thời, công chức phải đáp ứng yêu cầu dựa trên hiệu quả công việc, được hỗ trợ bởi các nền tảng số hóa mới như ứng dụng định danh điện tử VNeID giúp theo dõi tiến độ công việc theo thời gian thực.

Cuộc cải cách hành chính do ông Lâm dẫn dắt cho thấy tầm quan trọng và kịp thời, trong bối cảnh mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu của Việt Nam đang đạt đến ngưỡng mà chất lượng thể chế, chứ không chỉ vốn đầu tư hay nguồn cung lao động, sẽ quyết định bước đi tiếp theo. Việt Nam cũng phải cạnh tranh để thu hút đầu tư giá trị cao, vượt qua những biến động phức tạp trong thương mại và xây dựng một hệ thống tạo dựng niềm tin, sự linh hoạt và tầm nhìn dài hạn.

Việt Nam hiện đang bước vào một sân chơi toàn cầu được định hình lại. Ở đó, các nhà đầu tư toàn cầu đang tìm kiếm những điểm đến hội tụ các yếu tố: lao động giá rẻ, độ tin cậy, sự ổn định chính sách, chuỗi cung ứng bền vững, tính minh bạch pháp lý và khả năng phục hồi thể chế. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh về kinh tế và thể chế trở thành điều kiện tiên quyết để Việt Nam thu hút các nhà cung ứng và các công ty sản xuất.

Tuy nhiên, việc tái cấu trúc thể chế có thể kéo theo những rủi ro và sự kháng cự. Một số lượng lớn công chức đã bị ảnh hưởng bởi việc tinh giản biên chế, điều chuyển hoặc sắp xếp lại các chức danh. Hàng ngàn công chức thất nghiệp rơi vào tình trạng dư thừa và không chắc chắn về tương lai của mình vì thiếu sự chuẩn bị và kỹ năng cần thiết để tìm được việc làm mới ngoài khu vực công. Nghiêm trọng hơn, hầu hết các chính quyền địa phương đều thiếu khả năng đảm nhận những trách nhiệm mới và nặng nề hơn. Người dân cũng có thể cảm thấy thất vọng nếu những thay đổi không được thực hiện nhanh chóng hoặc công bằng. Mối nguy lớn nhất là sự mệt mỏi đối với cải cách, hoặc tệ hơn, là nguy cơ đảo chiều cải cách.

Cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa nếu bộ máy có khả năng hiện thực hóa những cam kết đã đề ra. Trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước, chính phủ trung ương cần phải đảm bảo rằng tiếng nói của các địa phương sẽ không bị lu mờ. Các cơ chế rõ ràng về giám sát của công dân và đại diện dân cử là rất quan trọng. Trong quá trình lập kế hoạch, việc ban hành các quy định ràng buộc và sự tham gia ngay từ đầu của người dân cũng không kém phần quan trọng vì giúp đảm bảo các cuộc bầu cử địa phương không chỉ mang tính hình thức.

Điều đáng chú ý trong quá trình cải cách hành chính đó là, thay vì chỉ đơn thuần điều chuyển cán bộ, công chức sau sáp nhập, chính phủ cần nâng cao năng lực của họ. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cần được thiết kế theo hướng đảm bảo công bằng và toàn diện, đồng thời phù hợp với năng lực và nguyện vọng của họ. Một chương trình tái đào tạo cấp quốc gia cần phải tùy chỉnh lộ trình học tập, cung cấp hỗ trợ tài chính trong giai đoạn chuyển đổi và đảm bảo rằng những cán bộ kỳ cựu được các cơ quan địa phương hỗ trợ bằng các khoản trợ cấp để tiếp tục sự nghiệp.

Bên cạnh đó, phân cấp sẽ không phải là phân quyền thực chất nếu nó chỉ đơn thuần tạo thêm gánh nặng cho các địa phương thiếu nguồn lực. Do đó, chính phủ cần xây dựng các quy định và hướng dẫn vận hành rõ ràng về trách nhiệm thuộc về ai, đồng thời các cơ chế hỗ trợ tài chính cần phải gắn chặt với kết quả thực hiện. Tóm lại, việc phân bổ nguồn lực phải có khả năng đo lường được thông qua các mục tiêu theo dõi được.

Thúc đẩy chuyển đổi số của Việt Nam, với trọng tâm là minh bạch, không thể chỉ dừng lại ở việc đưa dữ liệu lên mạng. Thay vào đó, hiệu quả thực sự đòi hỏi phản hồi từ người dân. Nói cách khác, chính sách cần được điều chỉnh dựa trên phản hồi thực tế, vì nó cho phép hiệu chỉnh chính sách theo thời gian thực. Chính phủ nên triển khai một bảng điều khiển kỹ thuật số quốc gia hiển thị các chỉ số dịch vụ, chẳng hạn như thời gian chờ khám tại các cơ sở y tế hay mức độ sửa chữa đường sá. Các kênh mở để người dân chấm điểm và khiếu nại có thể được hỗ trợ bởi các ứng dụng, thông qua đó người dân có thể đánh giá, góp ý và đề xuất về hiệu quả hoạt động và cải thiện của chính quyền.

Trên hết, ĐCSVN phải coi cải cách như một chiến lược dài hạn. Điều này đòi hỏi quyết tâm chính trị, tầm nhìn chính sách sắc bén và một bộ máy hành chính được thiết kế để liên tục điều chỉnh và thích ứng. Thành công lâu dài phụ thuộc vào đội ngũ lãnh đạo phục vụ - những người xây dựng uy tín và lòng tin từ mức độ hiệu quả công việc và kết quả đạt được, chứ không chỉ bằng lời nói suông hay hứa hẹn. Tóm lại, thành bại của tiến trình này sẽ phụ thuộc vào khả năng của Tô Lâm và ê-kíp của ông trong việc củng cố khế ước xã hội thông qua năng lực quản trị, thay vì các khẩu hiệu.

*Ghi chú của VSF: Phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên The Vietnam Strategic Forum với tiêu đề “From Ideology to Performance: To Lam’s Bid to Reengineer Vietnam’s Governance”. Bài viết này do đội ngũ VSF dịch với sự chấp thuận của (các) tác giả.

Từ khoá: Tô Lâm Tổng Bí thư Việt Nam Đại hội Đảng XIV kỷ nguyên vươn mình

BÀI LIÊN QUAN