Điểm sách
25 PHÚT ĐỌC

Chính trị tâm lý: Tự nguyện bị bóc lột và kiểm soát

Khác với thời kỳ công nghiệp của thế kỷ 19, con người ngày nay không bị bóc lột/kiểm soát bởi người khác, mà tự nguyện và tự thỏa mãn trong sự bóc lột/kiểm soát bản thân. Chúng ta không còn bị ông chủ bóc lột, chúng ta trở thành ông chủ của chính mình.

Trần Gia 15/04/2026

Trần Gia

15/04/2026
Image
“Chính trị tâm lý” là cuốn sách thứ hai của “ngôi sao mới của nền triết học Đức” Byung-Chul Han tiếp tục được dịch tại Việt Nam - (C): VSF

Sau “Sự biến mất của nghi thức”, một cuốn sách nữa của “ngôi sao mới của nền triết học Đức” Byung-Chul Han tiếp tục được dịch tại Việt Nam. Lần này, chúng ta đến với một trong những tác phẩm thành công nhất của ông: “Chính trị tâm lý: Chủ nghĩa tân tự do và các kỹ thuật quyền lực mới” (Psychopolitics: Neoliberalism and New Technologies of Power).

Không phải ngẫu nhiên mà “Chính trị tâm lý” lại được đón nhận nhiệt tình đến vậy. Nếu trong “Sự biến mất của nghi thức”, chủ thể phân tích của Han vừa là chủ nghĩa tân tự do, vừa là các nghi thức, thì ở cuốn sách này ông dành trọn thời lượng cho chủ nghĩa tân tự do - vốn luôn là trọng tâm trong các phê phán của ông. Nhờ đó, “Chính trị tâm lý” trình bày tương đối rõ ràng và mạch lạc mạch tư tưởng của Han, từ sự phát triển các lý thuyết của Karl Marx và Michel Foucault đến các khái niệm chính yếu của ông về chủ nghĩa tân tự do.

Luận điểm trung tâm và cũng là hấp dẫn nhất của cuốn sách là: khác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp của thế kỷ 19, con người tân tự do ngày nay không bị bóc lột/kiểm soát bởi người khác, mà tự nguyện và tự thỏa mãn trong sự bóc lột/kiểm soát bản thân. Chúng ta không còn bị ông chủ bóc lột, chúng ta trở thành ông chủ của chính mình.

Chủ nghĩa tân tự do

Trước hết, chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism), theo Han, là biến thể hiện đại của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và có liên hệ khăng khít với chủ nghĩa tư bản tài chính. Về định nghĩa, nó là một hệ tư tưởng chính trị - kinh tế khởi phát từ khoảng giữa thế kỷ 20, nhấn mạnh vào thị trường tự do, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, thúc đẩy toàn cầu hoá và hội nhập.

Tuy nhiên, không giống như chủ nghĩa tự do cổ điển kiểu Anh vào thế kỷ 19, về nguồn gốc, chủ nghĩa tân tự do gắn liền với sự bành trướng và thiết lập Pax Americana (Hoà bình kiểu Mỹ). Nó bắt đầu như những học thuyết phản ứng với các biến động kinh tế Mỹ. Cụ thể, khi kinh tế học của John M. Keynes - vốn nhấn mạnh vào sự can thiệp của nhà nước vào thị trường - bộc lộ những hạn chế trong cuộc đình lạm thập niên 1970 tại Mỹ, các học thuyết thiên hướng tự do hóa nền kinh tế đã nổi lên. Điển hình, Friedrich Hayek thuộc Trường phái Áo đã cảnh báo rằng mọi sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế đều là mầm mống của độc tài và làm suy yếu tự do cá nhân. Cùng với đó, Milton Friedman thuộc Trường phái Chicago lập luận rằng thay vì nhà nước điều tiết nền kinh tế, chính phủ chỉ nên tập trung vào kiểm soát việc cung ứng tiền và để thị trường tự vận hành thông qua các kỹ thuật như nới lỏng quy định (deregulation), cắt giảm chi tiêu công và tư nhân hóa triệt để.

Các học thuyết này sau đó đã được cụ thể hoá trong các chính sách của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan (được biết đến là Reaganomics - kinh tế học Reagan). Từ đây, mô hình này lan động sang châu Âu và toàn thế giới. Sau đó, nó còn được phổ biển thông qua các thể chế thuộc cấu trúc quyền lực phương Tây như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Nói theo nhà kinh tế chính trị Robert Cox (1926-2018), chủ nghĩa tân tự do là một biểu hiện của “bá quyền Mỹ” (U.S. hegemony) - nơi hệ tư tưởng, logic thị trường Mỹ, và thể chế tạo thành một khối liên kết bền chặt và lan rộng khắp mọi nơi. Như vậy, chủ nghĩa tân tự do hiện nay - với biểu hiện là toàn cầu hoá - trở thành logic thị trường thống trị thế giới.

Như vậy, về bản chất, chủ nghĩa tân tự do là một hình thái tư bản toàn cầu. Mấu chốt là, theo Byung-Chul Han, nó đã được “nâng cấp” bằng các kỹ thuật thao túng tâm lý thông qua công nghệ và tài chính. Vì vậy, giờ đây, tất cả mọi người phụ thuộc vào một chuỗi giá trị từ sản xuất đến tài chính, được sở hữu, vận hành và phân phối bởi các siêu tập đoàn tư bản. Đây là một sự nô lệ hoá mới - nơi chủ nghĩa tư bản chuyển từ bóc lột giai cấp sang thuyết phục chúng ta bóc lột chính mình, từ mặt trận vật chất đến mặt trận tâm lý.

Bóc lột chính mình

Theo lý thuyết của Marx, lịch sử loài người được đặc trưng bởi sự bóc lột của giai cấp này với giai cấp khác theo từng thời kỳ lịch sử: chủ nô bóc lột nô lệ, tư sản bóc lột vô sản. Diễn trình này được thúc đẩy bởi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (sức lao động của con người, phương thức lao động và phương tiện sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quản lý, phân phối vật chất và lao động). Dần dần, mâu thuẫn này thông qua đấu tranh sẽ được loại bỏ để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Trong quá trình đó, người vô sản được giải phóng bằng cách xóa bỏ toàn bộ tư hữu về phương tiện sản xuất.

Tuy nhiên, đối với Byung-Chul Han, mâu thuẫn này không thể loại bỏ. Chủ nghĩa tư bản không tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà nó chuyển hoá thành chủ nghĩa tân tự do với hình thái sản xuất mới mang tính phi vật chất. Nhờ đó, sản xuất không còn bắt buộc phải được khai thác từ thiên nhiên bên ngoài, mà có thể được khai thác từ chính mỗi cá nhân. Mỗi người đều có cơ hội biến bản thân thành một dự phóng, biến câu chuyện và sự kiến tạo bản thân (về tâm lý, phẩm chất) thành một sản phẩm để quảng cáo và trưng bày. Do đó, ai cũng sở hữu phương tiện sản xuất, vấn đề giai cấp bị lu mờ, giai cấp công nhân nhà máy bị thay thế bằng những cá nhân tự bóc lột: “Ngày nay, ai cũng là người lao động tự bóc lột bản thân trong doanh nghiệp của chính mình. Ai cũng đồng thời là chủ và nô. Cả đấu tranh giai cấp cũng biến thành cuộc đấu tranh nội tâm với chính mình.” (tr. 16).

Kiểm soát chính mình

Trong “Giám sát và Trừng phạt” (1975), triết gia Pháp Michel Foucault (1926-1984) đã mượn hình ảnh panopticon (nhà tù giám sát toàn cảnh) của triết gia Anh Jeremy Bentham (1748-1832) để mô tả tình trạng giám sát trong xã hội dân sự. Panopticon là loại nhà tù với một tháp canh chính giữa, bao quanh bởi các phòng giam hình tròn. Trong đó, cai ngục ở tháp canh có thể quan sát toàn bộ phòng giam trong khi tù nhân ở phòng giam không thể làm điều ngược lại. Thiết kế này khiến tù nhân luôn cảm thấy bị theo dõi liên tục và do đó luôn tự điều chỉnh hành vi của mình.

Tương tự, theo Byung-Chul Han, xã hội tân tự do ngày nay cũng đang trở thành một panopticon vĩ mô - nơi mọi người đều tự giám sát chính mình, đồng thời luôn lo sợ về sự theo dõi/ánh nhìn (gaze) của người khác. Chúng ta bị ám ảnh bởi hiệu suất và thành tích của bản thân, chúng ta bị thuyết phục rằng nếu không tạo ra hiệu suất, mình sẽ bị tụt lại phía sau, đánh mất giá trị. Mỗi khi được nghỉ ngơi, chúng ta bị thôi thúc trở lại công việc, thậm chí nghỉ ngơi quá lâu còn sinh ra cảm giác tội lỗi.

Chúng ta luôn muốn “thời gian”, “nguồn lực” của mình được sử dụng một cách “hiệu quả” nhất, mà “hiệu quả” ở đây là “làm ra bao nhiêu tiền/sản phẩm”, “học bao nhiêu bằng cấp”, “sử dụng bao nhiêu thời gian”. Sức khoẻ và thời gian bị đem ra cân đo đong đếm để đổi lấy hiệu suất. Nói cách khác, chúng ta muốn sử dụng bản thân một cách tối ưu nhất. Trong “Sự biến mất của nghi thức”, Han gọi đây là hệ quả của việc con người neo giá trị của mình vào duy nhất giá trị thị trường thay vì các giá trị tinh thần. Trong “Chính trị tâm lý”, Han coi đó là sự tự giám sát của các “chủ thể thành tích”.

Mấu chốt của vấn đề là, sự tự giám sát này của tinh thần con người không phải do cá nhân riêng rẽ nào, mà không hơn gì là một sự xâm nhập (penetration) của logic sản xuất chủ nghĩa tân tự do vào tâm lý con người. Cụ thể, hệ thống tư bản toàn cầu sử dụng những kỹ thuật quyền lực (technologies of power) giúp nó tiếp tục được duy trì thay vì bị thách thức.

Để sản xuất và giao dịch xảy ra liên tục, nhanh chóng trên diện rộng, thông tin cần được tự do và minh bạch. Chủ nghĩa tân tự do thông tin hoá mọi thứ và số hoá thông tin, thúc đẩy thông tin lưu thông tự do, nhanh chóng và liên tục. Trong vòng tuần hoàn ấy, thông tin bị đẩy ra khỏi bối cảnh của nó, trở thành các thông tin trơ, nông cạn và được công khai. Sự công khai và nông cạn loại bỏ tính riêng tư, sâu sắc của thông tin, những gì thầm kín và khác biệt bị loại trừ. Đời tư của một chính trị gia, một người nổi tiếng bị phơi bày nhân danh sự minh bạch, bị tước đi tính riêng tư của cá nhân đó và bị áp đặt một câu chuyện công lý rạch ròi dựa trên những mẩu thông tin vụn vặt. Sự công khai của thông tin nhanh, vụn mang hàm ý chuẩn tắc (normative) chính là thứ tước đi sự lệch chuẩn và đồng hoá con người về một kiểu sống hời hợt, thành tích.

Sự minh bạch cũng khiến người ta trao đổi, giao tiếp nhiều hơn. Tuy nhiên, do sự khác biệt đã bị đồng hoá, người ta cũng trò chuyện với nhiều chủ đề và từ ngữ giống nhau hơn, nhưng bên trong lại thiếu đi trải nghiệm riêng của chính mình. Kết quả là, dù có vẻ giống nhau, con người lại bị chia rẽ nhiều hơn do chúng ta không thể chịu được sự khác biệt. Sự phân cực chính trị tại Mỹ là một ví dụ rõ ràng, hai cực chính trị chống đối nhau (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà). Tuy nhiên, mỗi bên lại không nhận ra rằng họ tụ họp lại vì một sự thù ghét có hệ thống - thứ được liên kết bằng ngôn từ, chứ không phải trải nghiệm riêng tư.

Gần đây, với sự phổ biến của công nghệ trí tuệ nhân tạo, tính chất rời rạc và đồng hoá này lại càng trở nên sâu sắc. Trong bối cảnh chúng ta không chỉ bị khai thác, mà còn “...tình nguyện cung cấp mọi thông tin và dữ liệu có thể có của bản thân lên mạng mà không cần biết ai biết gì, khi nào, trong hoàn cảnh nào về chúng ta” (tr. 26-27), bộ máy dữ liệu không chỉ giám sát dân số hiệu quả hơn, mà ngày càng có cơ sở phân tích và dự đoán tâm lý. Khác với xã hội trong “1984” của George Orwell vốn kiểm soát và cấm đoán, xã hội tân tự do nuông chiều chúng ta. Sự nuông chiều này không chỉ ở nhu cầu sinh lý, mà còn ở nhu cầu tâm lý. Nhờ dữ liệu, hệ thống giờ đây có thể dự đoán và thoả mãn nhu cầu của con người trước cả khi chúng ta biết đến chúng; từ nhu cầu mua sắm đến tình yêu và sự nghiệp. Tuy nhiên, do dữ liệu phân tích theo mẫu số chung, nhu cầu cũng bị đồng hoá - một cách thân thiện và nông cạn - khiến chúng ta tưởng rằng nhu cầu của hệ thống tư bản cũng là nhu cầu của chính mình.

Cuối cùng, chủ nghĩa tân tự do hấp thụ mọi phản kháng. Nếu trong xã hội phân cấp rõ ràng, người vô sản đứng lên chống lại kẻ bóc lột, thì trong xã hội tân tự do, khi ranh giới giai cấp đã không còn rõ ràng, người ta bị bóc lột nhưng không biết chống lại ai (bởi họ tự bóc lột chính mình). Do đó họ tự gây hấn với chính mình, “...kẻ thất bại phải tự mình gánh chịu trách nhiệm và cảm thấy xấu hổ vì điều đó, thay vì hoài nghi xã hội hoặc thể chế” (tr. 18). Theo Han, sự đồng hoá với hệ thống kết hợp với sự đấu tranh nội tâm - chính là một căn bệnh tâm lý thời hiện đại. Thậm chí, chủ nghĩa tân tự do khai thác cả quá trình “chữa lành” (healing) tâm lý nhằm cắt bỏ hết mọi triệu chứng gây suy giảm hiệu suất của cá nhân. Nói cách khác, “cả tâm lý giờ cũng bị bóc lột” (tr. 50).

Qua những kỹ thuật như vậy, chủ nghĩa tân tự do vừa tự duy trì và củng cố, vừa đồng hoá và chia rẽ con người, tước đi nơi họ giá trị của cuộc sống; sự buông thả, phong phú, vô tư mà thay vào đó bằng giá trị của lao động và thị trường. Chìa khoá vấn đề nằm ở chỗ, sự kiểm soát cơ thể theo kỷ luật - giờ đây - đã chuyển thành sự tự kiểm soát tâm lý. Chính nhờ vậy mà chúng ta tiếp tục giao tiếp và tiêu thụ, còn hệ thống tiếp tục xoay vòng với những biên lợi nhuận nặng nề trên lưng.

Sống như kẻ khờ

Ở chương cuối “Ngôn ngữ của Kẻ khờ”, Byung-Chul Han đề xuất một lối sống thay thế, giúp con người thoát khỏi sự cầm tù của chủ nghĩa tân tự do, đó là lối sống của “kẻ khờ”. Ở đây, “kẻ khờ” không được hiểu theo nghĩa tiêu cực thông thường mà hiểu theo nghĩa từ nguyên tiếng Hy Lạp là “thường dân” hay “cá nhân riêng tư”, có nghĩa là một cá nhân tuy bị xem là khờ khạo, kém cỏi vì không sống theo chuẩn tắc thông thường, lại chính là cá nhân riêng tư và vô vi nhất. Qua một lối sống tự (tồn) tại như vậy, con người được giải phóng khi từ chối hoà tan vào vòng tuần hoàn của sự đồng thuận sản xuất.

Hiển nhiên, ở phần lớn thời lượng cuốn sách, “xiềng xích” tân tự do được miêu tả là đã thấm nhuần vào lối sống, lối tồn tại của chúng ta. Chủ nghĩa tân tự do là một bước đi không thể quay đầu lại và chúng ta khó lòng có thể “thoát” khỏi nó theo kiểu tự lực thông thường. Để giải phóng cá nhân, Han đã mượn đến cả cách nhìn của Nietzsche và Foucault, nghĩa là yêu cầu một nỗ lực đảo hoán, vượt lên khỏi mọi thức nhận, lương tri của trật tự hiện hành. Nếu chúng ta định nghĩa danh từ “chủ thể” (subject) là năng lực tham gia hiệu quả và đạt được vị trí trong một cấu trúc xã hội nhất định, thì mỗi con người - mỗi chủ thể đều phải quy phục (subjected to) các chuẩn mực của trật tự.

Với Han, để thoát khỏi “xiềng xích” của chủ nghĩa tân tự do, ta buộc phải vượt qua tính chủ thể để đến với một tình trạng “rỗng” về mặt giá trị, để từ đó cuộc sống được trải nghiệm như cái nó vốn là, và để mở cơ hội cho sự kiến tạo những giá trị mới gần gũi và tự do hơn, “khờ” hơn. Do đó, “giải pháp” này của Han không nên được xem là một chương trình hướng dẫn (agenda) chi tiết, cứng nhắc theo kiểu các sách tự lực (self-help) - vốn đề xuất một khung giải pháp giống nhau nhằm giúp mọi người giải quyết xong vấn đề của mình và quay lại sản xuất. Thay vào đó, sự thay đổi mà Han hướng tới có lẽ là một sự thức nhận riêng tư, tách khỏi các quan hệ quyền lực tân tự do và rút tỉa từ chính đời sống cá nhân của mỗi người để từ đó thay đổi diễn ra từ nội hàm.

***

Bài điểm sách chỉ điểm qua một số nội dung chính yếu của cuốn sách. Bản thân “Chính trị tâm lý” đề cập đến một chủ đề phức tạp và rộng lớn nên các mô tả cũng được nêu ra với nhiều khía cạnh và ví dụ (chẳng hạn như chủ đề về Big Data, chủ nghĩa tư bản cảm xúc, logic của sự chơi, liên hệ triết học Hegel). Tuy nhiên, các khía cạnh và ví dụ này lại chỉ xoay quanh một vài luận điểm lớn về sự tự bóc lột và tự kiểm soát.

Với dung lượng ngắn (119 trang nội dung) cùng lối viết trực diện, hàm súc, “Chính trị tâm lý” thú vị và dễ theo dõi ngay từ lần đọc đầu tiên. Nhưng không vì vậy mà cuốn sách triết này thiếu đi chiều sâu phân tích: ở lần đọc thứ hai, ba, hàm lượng suy tư dày đặc của tác phẩm sẽ ngày càng cuốn hút người đọc (để hiểu rõ hơn về phong cách viết độc đáo này của Byung-Chul Han, bạn đọc có thể tham khảo phần giới thiệu trong “Sự biến mất của nghi thức”).

VSF đã có bài điểm sách về “Sự biến mất của nghi thức”, bạn đọc có thể xem tại đây.

Trần Gia hiện là sinh viên theo học ngành Quan hệ Quốc tế tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Các lĩnh vực mà Trần Gia quan tâm bao gồm Triết học chính trị, Triết học xã hội và Phân tích diễn ngôn. Bạn đọc có thể liên hệ tác giả qua email: [email protected]. Quan điểm trong bài viết là của riêng tác giả.

Sau “Sự biến mất của nghi thức”, một cuốn sách nữa của “ngôi sao mới của nền triết học Đức” Byung-Chul Han tiếp tục được dịch tại Việt Nam. Lần này, chúng ta đến với một trong những tác phẩm thành công nhất của ông: “Chính trị tâm lý: Chủ nghĩa tân tự do và các kỹ thuật quyền lực mới” (Psychopolitics: Neoliberalism and New Technologies of Power).

Không phải ngẫu nhiên mà “Chính trị tâm lý” lại được đón nhận nhiệt tình đến vậy. Nếu trong “Sự biến mất của nghi thức”, chủ thể phân tích của Han vừa là chủ nghĩa tân tự do, vừa là các nghi thức, thì ở cuốn sách này ông dành trọn thời lượng cho chủ nghĩa tân tự do - vốn luôn là trọng tâm trong các phê phán của ông. Nhờ đó, “Chính trị tâm lý” trình bày tương đối rõ ràng và mạch lạc mạch tư tưởng của Han, từ sự phát triển các lý thuyết của Karl Marx và Michel Foucault đến các khái niệm chính yếu của ông về chủ nghĩa tân tự do.

Luận điểm trung tâm và cũng là hấp dẫn nhất của cuốn sách là: khác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp của thế kỷ 19, con người tân tự do ngày nay không bị bóc lột/kiểm soát bởi người khác, mà tự nguyện và tự thỏa mãn trong sự bóc lột/kiểm soát bản thân. Chúng ta không còn bị ông chủ bóc lột, chúng ta trở thành ông chủ của chính mình.

Chủ nghĩa tân tự do

Trước hết, chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism), theo Han, là biến thể hiện đại của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và có liên hệ khăng khít với chủ nghĩa tư bản tài chính. Về định nghĩa, nó là một hệ tư tưởng chính trị - kinh tế khởi phát từ khoảng giữa thế kỷ 20, nhấn mạnh vào thị trường tự do, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, thúc đẩy toàn cầu hoá và hội nhập.

Tuy nhiên, không giống như chủ nghĩa tự do cổ điển kiểu Anh vào thế kỷ 19, về nguồn gốc, chủ nghĩa tân tự do gắn liền với sự bành trướng và thiết lập Pax Americana (Hoà bình kiểu Mỹ). Nó bắt đầu như những học thuyết phản ứng với các biến động kinh tế Mỹ. Cụ thể, khi kinh tế học của John M. Keynes - vốn nhấn mạnh vào sự can thiệp của nhà nước vào thị trường - bộc lộ những hạn chế trong cuộc đình lạm thập niên 1970 tại Mỹ, các học thuyết thiên hướng tự do hóa nền kinh tế đã nổi lên. Điển hình, Friedrich Hayek thuộc Trường phái Áo đã cảnh báo rằng mọi sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế đều là mầm mống của độc tài và làm suy yếu tự do cá nhân. Cùng với đó, Milton Friedman thuộc Trường phái Chicago lập luận rằng thay vì nhà nước điều tiết nền kinh tế, chính phủ chỉ nên tập trung vào kiểm soát việc cung ứng tiền và để thị trường tự vận hành thông qua các kỹ thuật như nới lỏng quy định (deregulation), cắt giảm chi tiêu công và tư nhân hóa triệt để.

Các học thuyết này sau đó đã được cụ thể hoá trong các chính sách của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan (được biết đến là Reaganomics - kinh tế học Reagan). Từ đây, mô hình này lan động sang châu Âu và toàn thế giới. Sau đó, nó còn được phổ biển thông qua các thể chế thuộc cấu trúc quyền lực phương Tây như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Nói theo nhà kinh tế chính trị Robert Cox (1926-2018), chủ nghĩa tân tự do là một biểu hiện của “bá quyền Mỹ” (U.S. hegemony) - nơi hệ tư tưởng, logic thị trường Mỹ, và thể chế tạo thành một khối liên kết bền chặt và lan rộng khắp mọi nơi. Như vậy, chủ nghĩa tân tự do hiện nay - với biểu hiện là toàn cầu hoá - trở thành logic thị trường thống trị thế giới.

Như vậy, về bản chất, chủ nghĩa tân tự do là một hình thái tư bản toàn cầu. Mấu chốt là, theo Byung-Chul Han, nó đã được “nâng cấp” bằng các kỹ thuật thao túng tâm lý thông qua công nghệ và tài chính. Vì vậy, giờ đây, tất cả mọi người phụ thuộc vào một chuỗi giá trị từ sản xuất đến tài chính, được sở hữu, vận hành và phân phối bởi các siêu tập đoàn tư bản. Đây là một sự nô lệ hoá mới - nơi chủ nghĩa tư bản chuyển từ bóc lột giai cấp sang thuyết phục chúng ta bóc lột chính mình, từ mặt trận vật chất đến mặt trận tâm lý.

Bóc lột chính mình

Theo lý thuyết của Marx, lịch sử loài người được đặc trưng bởi sự bóc lột của giai cấp này với giai cấp khác theo từng thời kỳ lịch sử: chủ nô bóc lột nô lệ, tư sản bóc lột vô sản. Diễn trình này được thúc đẩy bởi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (sức lao động của con người, phương thức lao động và phương tiện sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quản lý, phân phối vật chất và lao động). Dần dần, mâu thuẫn này thông qua đấu tranh sẽ được loại bỏ để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Trong quá trình đó, người vô sản được giải phóng bằng cách xóa bỏ toàn bộ tư hữu về phương tiện sản xuất.

Tuy nhiên, đối với Byung-Chul Han, mâu thuẫn này không thể loại bỏ. Chủ nghĩa tư bản không tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà nó chuyển hoá thành chủ nghĩa tân tự do với hình thái sản xuất mới mang tính phi vật chất. Nhờ đó, sản xuất không còn bắt buộc phải được khai thác từ thiên nhiên bên ngoài, mà có thể được khai thác từ chính mỗi cá nhân. Mỗi người đều có cơ hội biến bản thân thành một dự phóng, biến câu chuyện và sự kiến tạo bản thân (về tâm lý, phẩm chất) thành một sản phẩm để quảng cáo và trưng bày. Do đó, ai cũng sở hữu phương tiện sản xuất, vấn đề giai cấp bị lu mờ, giai cấp công nhân nhà máy bị thay thế bằng những cá nhân tự bóc lột: “Ngày nay, ai cũng là người lao động tự bóc lột bản thân trong doanh nghiệp của chính mình. Ai cũng đồng thời là chủ và nô. Cả đấu tranh giai cấp cũng biến thành cuộc đấu tranh nội tâm với chính mình.” (tr. 16).

Kiểm soát chính mình

Trong “Giám sát và Trừng phạt” (1975), triết gia Pháp Michel Foucault (1926-1984) đã mượn hình ảnh panopticon (nhà tù giám sát toàn cảnh) của triết gia Anh Jeremy Bentham (1748-1832) để mô tả tình trạng giám sát trong xã hội dân sự. Panopticon là loại nhà tù với một tháp canh chính giữa, bao quanh bởi các phòng giam hình tròn. Trong đó, cai ngục ở tháp canh có thể quan sát toàn bộ phòng giam trong khi tù nhân ở phòng giam không thể làm điều ngược lại. Thiết kế này khiến tù nhân luôn cảm thấy bị theo dõi liên tục và do đó luôn tự điều chỉnh hành vi của mình.

Tương tự, theo Byung-Chul Han, xã hội tân tự do ngày nay cũng đang trở thành một panopticon vĩ mô - nơi mọi người đều tự giám sát chính mình, đồng thời luôn lo sợ về sự theo dõi/ánh nhìn (gaze) của người khác. Chúng ta bị ám ảnh bởi hiệu suất và thành tích của bản thân, chúng ta bị thuyết phục rằng nếu không tạo ra hiệu suất, mình sẽ bị tụt lại phía sau, đánh mất giá trị. Mỗi khi được nghỉ ngơi, chúng ta bị thôi thúc trở lại công việc, thậm chí nghỉ ngơi quá lâu còn sinh ra cảm giác tội lỗi.

Chúng ta luôn muốn “thời gian”, “nguồn lực” của mình được sử dụng một cách “hiệu quả” nhất, mà “hiệu quả” ở đây là “làm ra bao nhiêu tiền/sản phẩm”, “học bao nhiêu bằng cấp”, “sử dụng bao nhiêu thời gian”. Sức khoẻ và thời gian bị đem ra cân đo đong đếm để đổi lấy hiệu suất. Nói cách khác, chúng ta muốn sử dụng bản thân một cách tối ưu nhất. Trong “Sự biến mất của nghi thức”, Han gọi đây là hệ quả của việc con người neo giá trị của mình vào duy nhất giá trị thị trường thay vì các giá trị tinh thần. Trong “Chính trị tâm lý”, Han coi đó là sự tự giám sát của các “chủ thể thành tích”.

Mấu chốt của vấn đề là, sự tự giám sát này của tinh thần con người không phải do cá nhân riêng rẽ nào, mà không hơn gì là một sự xâm nhập (penetration) của logic sản xuất chủ nghĩa tân tự do vào tâm lý con người. Cụ thể, hệ thống tư bản toàn cầu sử dụng những kỹ thuật quyền lực (technologies of power) giúp nó tiếp tục được duy trì thay vì bị thách thức.

Để sản xuất và giao dịch xảy ra liên tục, nhanh chóng trên diện rộng, thông tin cần được tự do và minh bạch. Chủ nghĩa tân tự do thông tin hoá mọi thứ và số hoá thông tin, thúc đẩy thông tin lưu thông tự do, nhanh chóng và liên tục. Trong vòng tuần hoàn ấy, thông tin bị đẩy ra khỏi bối cảnh của nó, trở thành các thông tin trơ, nông cạn và được công khai. Sự công khai và nông cạn loại bỏ tính riêng tư, sâu sắc của thông tin, những gì thầm kín và khác biệt bị loại trừ. Đời tư của một chính trị gia, một người nổi tiếng bị phơi bày nhân danh sự minh bạch, bị tước đi tính riêng tư của cá nhân đó và bị áp đặt một câu chuyện công lý rạch ròi dựa trên những mẩu thông tin vụn vặt. Sự công khai của thông tin nhanh, vụn mang hàm ý chuẩn tắc (normative) chính là thứ tước đi sự lệch chuẩn và đồng hoá con người về một kiểu sống hời hợt, thành tích.

Sự minh bạch cũng khiến người ta trao đổi, giao tiếp nhiều hơn. Tuy nhiên, do sự khác biệt đã bị đồng hoá, người ta cũng trò chuyện với nhiều chủ đề và từ ngữ giống nhau hơn, nhưng bên trong lại thiếu đi trải nghiệm riêng của chính mình. Kết quả là, dù có vẻ giống nhau, con người lại bị chia rẽ nhiều hơn do chúng ta không thể chịu được sự khác biệt. Sự phân cực chính trị tại Mỹ là một ví dụ rõ ràng, hai cực chính trị chống đối nhau (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà). Tuy nhiên, mỗi bên lại không nhận ra rằng họ tụ họp lại vì một sự thù ghét có hệ thống - thứ được liên kết bằng ngôn từ, chứ không phải trải nghiệm riêng tư.

Gần đây, với sự phổ biến của công nghệ trí tuệ nhân tạo, tính chất rời rạc và đồng hoá này lại càng trở nên sâu sắc. Trong bối cảnh chúng ta không chỉ bị khai thác, mà còn “...tình nguyện cung cấp mọi thông tin và dữ liệu có thể có của bản thân lên mạng mà không cần biết ai biết gì, khi nào, trong hoàn cảnh nào về chúng ta” (tr. 26-27), bộ máy dữ liệu không chỉ giám sát dân số hiệu quả hơn, mà ngày càng có cơ sở phân tích và dự đoán tâm lý. Khác với xã hội trong “1984” của George Orwell vốn kiểm soát và cấm đoán, xã hội tân tự do nuông chiều chúng ta. Sự nuông chiều này không chỉ ở nhu cầu sinh lý, mà còn ở nhu cầu tâm lý. Nhờ dữ liệu, hệ thống giờ đây có thể dự đoán và thoả mãn nhu cầu của con người trước cả khi chúng ta biết đến chúng; từ nhu cầu mua sắm đến tình yêu và sự nghiệp. Tuy nhiên, do dữ liệu phân tích theo mẫu số chung, nhu cầu cũng bị đồng hoá - một cách thân thiện và nông cạn - khiến chúng ta tưởng rằng nhu cầu của hệ thống tư bản cũng là nhu cầu của chính mình.

Cuối cùng, chủ nghĩa tân tự do hấp thụ mọi phản kháng. Nếu trong xã hội phân cấp rõ ràng, người vô sản đứng lên chống lại kẻ bóc lột, thì trong xã hội tân tự do, khi ranh giới giai cấp đã không còn rõ ràng, người ta bị bóc lột nhưng không biết chống lại ai (bởi họ tự bóc lột chính mình). Do đó họ tự gây hấn với chính mình, “...kẻ thất bại phải tự mình gánh chịu trách nhiệm và cảm thấy xấu hổ vì điều đó, thay vì hoài nghi xã hội hoặc thể chế” (tr. 18). Theo Han, sự đồng hoá với hệ thống kết hợp với sự đấu tranh nội tâm - chính là một căn bệnh tâm lý thời hiện đại. Thậm chí, chủ nghĩa tân tự do khai thác cả quá trình “chữa lành” (healing) tâm lý nhằm cắt bỏ hết mọi triệu chứng gây suy giảm hiệu suất của cá nhân. Nói cách khác, “cả tâm lý giờ cũng bị bóc lột” (tr. 50).

Qua những kỹ thuật như vậy, chủ nghĩa tân tự do vừa tự duy trì và củng cố, vừa đồng hoá và chia rẽ con người, tước đi nơi họ giá trị của cuộc sống; sự buông thả, phong phú, vô tư mà thay vào đó bằng giá trị của lao động và thị trường. Chìa khoá vấn đề nằm ở chỗ, sự kiểm soát cơ thể theo kỷ luật - giờ đây - đã chuyển thành sự tự kiểm soát tâm lý. Chính nhờ vậy mà chúng ta tiếp tục giao tiếp và tiêu thụ, còn hệ thống tiếp tục xoay vòng với những biên lợi nhuận nặng nề trên lưng.

Sống như kẻ khờ

Ở chương cuối “Ngôn ngữ của Kẻ khờ”, Byung-Chul Han đề xuất một lối sống thay thế, giúp con người thoát khỏi sự cầm tù của chủ nghĩa tân tự do, đó là lối sống của “kẻ khờ”. Ở đây, “kẻ khờ” không được hiểu theo nghĩa tiêu cực thông thường mà hiểu theo nghĩa từ nguyên tiếng Hy Lạp là “thường dân” hay “cá nhân riêng tư”, có nghĩa là một cá nhân tuy bị xem là khờ khạo, kém cỏi vì không sống theo chuẩn tắc thông thường, lại chính là cá nhân riêng tư và vô vi nhất. Qua một lối sống tự (tồn) tại như vậy, con người được giải phóng khi từ chối hoà tan vào vòng tuần hoàn của sự đồng thuận sản xuất.

Hiển nhiên, ở phần lớn thời lượng cuốn sách, “xiềng xích” tân tự do được miêu tả là đã thấm nhuần vào lối sống, lối tồn tại của chúng ta. Chủ nghĩa tân tự do là một bước đi không thể quay đầu lại và chúng ta khó lòng có thể “thoát” khỏi nó theo kiểu tự lực thông thường. Để giải phóng cá nhân, Han đã mượn đến cả cách nhìn của Nietzsche và Foucault, nghĩa là yêu cầu một nỗ lực đảo hoán, vượt lên khỏi mọi thức nhận, lương tri của trật tự hiện hành. Nếu chúng ta định nghĩa danh từ “chủ thể” (subject) là năng lực tham gia hiệu quả và đạt được vị trí trong một cấu trúc xã hội nhất định, thì mỗi con người - mỗi chủ thể đều phải quy phục (subjected to) các chuẩn mực của trật tự.

Với Han, để thoát khỏi “xiềng xích” của chủ nghĩa tân tự do, ta buộc phải vượt qua tính chủ thể để đến với một tình trạng “rỗng” về mặt giá trị, để từ đó cuộc sống được trải nghiệm như cái nó vốn là, và để mở cơ hội cho sự kiến tạo những giá trị mới gần gũi và tự do hơn, “khờ” hơn. Do đó, “giải pháp” này của Han không nên được xem là một chương trình hướng dẫn (agenda) chi tiết, cứng nhắc theo kiểu các sách tự lực (self-help) - vốn đề xuất một khung giải pháp giống nhau nhằm giúp mọi người giải quyết xong vấn đề của mình và quay lại sản xuất. Thay vào đó, sự thay đổi mà Han hướng tới có lẽ là một sự thức nhận riêng tư, tách khỏi các quan hệ quyền lực tân tự do và rút tỉa từ chính đời sống cá nhân của mỗi người để từ đó thay đổi diễn ra từ nội hàm.

***

Bài điểm sách chỉ điểm qua một số nội dung chính yếu của cuốn sách. Bản thân “Chính trị tâm lý” đề cập đến một chủ đề phức tạp và rộng lớn nên các mô tả cũng được nêu ra với nhiều khía cạnh và ví dụ (chẳng hạn như chủ đề về Big Data, chủ nghĩa tư bản cảm xúc, logic của sự chơi, liên hệ triết học Hegel). Tuy nhiên, các khía cạnh và ví dụ này lại chỉ xoay quanh một vài luận điểm lớn về sự tự bóc lột và tự kiểm soát.

Với dung lượng ngắn (119 trang nội dung) cùng lối viết trực diện, hàm súc, “Chính trị tâm lý” thú vị và dễ theo dõi ngay từ lần đọc đầu tiên. Nhưng không vì vậy mà cuốn sách triết này thiếu đi chiều sâu phân tích: ở lần đọc thứ hai, ba, hàm lượng suy tư dày đặc của tác phẩm sẽ ngày càng cuốn hút người đọc (để hiểu rõ hơn về phong cách viết độc đáo này của Byung-Chul Han, bạn đọc có thể tham khảo phần giới thiệu trong “Sự biến mất của nghi thức”).

VSF đã có bài điểm sách về “Sự biến mất của nghi thức”, bạn đọc có thể xem tại đây.

Trần Gia hiện là sinh viên theo học ngành Quan hệ Quốc tế tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Các lĩnh vực mà Trần Gia quan tâm bao gồm Triết học chính trị, Triết học xã hội và Phân tích diễn ngôn. Bạn đọc có thể liên hệ tác giả qua email: [email protected]. Quan điểm trong bài viết là của riêng tác giả.

Từ khoá: chính trị tâm lý chủ nghĩa tân tự do công nghệ Byung-Chul Han điểm sách

BÀI LIÊN QUAN